Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội)

Thảo luận trong 'Di tích và Danh thắng' bắt đầu bởi kuangtuan, 23/8/11.

Lượt xem: 1,272

  1. kuangtuan

    kuangtuan New Member

    MỘT SỐ DI VĂN HÁN NÔM THỜI LÊ GẮN VỚI VĂN MIẾU HÀ NỘI
    PGS.TS. ĐINH KHẮC THUÂN
    Viện Nghiên cứu Hán Nôm
    Văn miếu Hà Nội, vốn là Văn miếu -Quốc tử giám của kinh đô Thăng Long thời Lý, Trần, Lê, Mạc. Văn miếu Hà Nội, được xây dựng dư­ới thời Lí Thái Tông (1028-1054) sau khi Kinh đô được dời về Thăng Long, tiếp đó được tu bổ và mở rộng quy mô vào năm 1070, dưới đời vua Lí Thánh Tông. Trong lần tu bổ này, ng­ười ta cho tạc tượng Khổng Tử cùng các vị Tứ phối, vẽ 72 vị Tiên hiền để thờ, cùng cho dựng nhà Quốc tử giám để làm nơi giảng dạy Nho học. Từ năm Giáp Thìn (1484), niên hiệu Hồng Đức, triều đình nhà Lê cho dựng bia khắc tên người đỗ các kì thi Hội từ khoa Nhâm Tuất (1442) niên hiệu Đại Bảo, gọi là bia Tiến sĩ. D­ưới thời Lê sơ, kiến trúc ở đây phân thành hai cụm chính là Văn miếu và Quốc tử giám, sau đó được mở rộng quy mô vào thời Mạc và thời Lê Trung hưng. Khi nhà Nguyễn xây dựng Kinh đô ở Huế năm 1802, thì một Văn miếu khác cũng đư­ợc xây dựng ở Huế. Sau đó Quốc tử giám ở Hà Nội không còn là trư­ờng quốc học nữa và người ta cho dựng ở đây nhà Khải Thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử.
    Quốc tử giám dưới thời Lê sơ được xây dựng và bổ sung nhiều hạng mục công trình khác làm thành quần thể kiến trúc quy mô, như xây thêm điện Sùng Nho, nhà Thái học, nhà Minh Luân và hành lang; đồng thời còn có nơi cư­ trú cho học sinh, d­ưới tên gọi là nhà Xá sinh được phân làm ba hạng là Thượng xá, Trung xá và Hạ xá. Cũng vào thời Lê, trong Văn miếu - Quốc tử giám này có tòa­ Thượng điện, gọi là cung Đại Thành, nơi thờ Khổng Tử và các bậc Tiên hiền. Các sự kiện này được chính sử ghi lại như sau: “Quý Mão, Hồng Đức thứ 14 (1483), làm điện Đại thành, đông vu, tây vu ở Văn miếu cùng điện Canh Phục, kho chứa ván in, kho chứa đồ tế lễ, đông tây đường nhà Minh Luân”(1).
    Trong thời kì trị vì ở Thăng Long, nhà Mạc nhiều lần cho tu sửa Văn miếu, Quốc tử giám nh­ư năm 1536: "Họ Mạc sai Đông quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Khiêm Quận công Mạc Đình Khoa trùng tu Quốc tử giám"(2). Quốc tử giám dưới thời Mạc được xây dựng và tái tạo các công trình vốn có từ thời Lê bị hư hại, như điện Sùng Nho, nhà Thái học, nhà Minh Luân và hành lang; cùng khu cư trú cho học sinh là nhà Xá sinh, Th­ượng xá sinh và Trung xá sinh mà học sinh ở đây đã mang theo tên gọi này, nh­ư Xá sinh Nguyễn Bá Thuật, Trung xá sinh Nguyễn Trí Hòa, Thượng xá sinh Phạm Chuyết phu(3). Cũng vào thời Mạc, trong Văn miếu - Quốc tử giám này có cung Đại Thành, nơi thờ Khổng Tử và các bậc Tiên hiền mà vua Mạc từng đến lễ bái ở đây, như đoạn chép của Lê Quý Đôn sau đây: "Mùa đông năm Đinh Dậu (1537), Đăng Doanh đến trường Thái học sinh làm lễ tế Tiên Thánh Tiên sư"(4).
    Thời Lê - Trịnh, Văn miếu Quốc tử giám được tu sửa và mở mang quy mô. Các phường thợ đá nổi tiếng như Kính Chủ (Hải Dương) và An Hoạch (Thanh Hóa)... được điều ra đảm nhận công việc chạm đục bia đá, tượng đá và thềm bậc, cột trụ đá, đúc chuông... Một số di văn Hán Nôm hiện còn ở đây gắn với những di vật, di tích, những sự kiện lịch sử cụ thể ở thời Lê - Trịnh, giai đoạn xây dựng và hoạt động cuối cùng của Văn miếu Quốc tử giám gắn với kinh đô Thăng Long.
    1. Trước hết là văn bia động Kính Chủ (Dương Nham) huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương, ghi lại lệnh chỉ của chúa Trịnh cấp cho thợ đá làng Kính Chủ được miễn phu phen tạp dịch lo việc tạo bia đá Văn miếu trong lần tu sửa Văn miếu dưới thời Lê - Trịnh. Nguyên văn chữ Hán:
    峽山曉石便

    Nội dung văn bia được dịch như sau: “Phụng mệnh các quan phủ liêu bảo cho quan viên tướng thần xã thôn trưởng xã Kính Chủ huyện Giáp Sơn là Lê Công Nghiệp, Nguyễn Ngọc Trinh, Hoàng Nhữ Năng, Nguyễn Cẩn Tín, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Văn Sách, Nguyễn Duy Thống, Lê Đá, Nguyễn Ngọc Diệp, Nguyễn Hữu Dụ, Nguyễn Cao, Trịnh Kim Ích, Hoàng Bành, Nguyễn Hữu Thụ cùng toàn thể lớn nhỏ trong xã được biết.
    Nguyên dân xã am hiểu nghệ thuật tạc voi đá, ngựa đá để thờ những nơi tông miếu. Nay lại nhận được lệnh khắc bia đá và tạc rùa đội bia các vị Tiến sĩ đỗ chế khoa để dựng tại cửa nhà Quốc học. Công việc rất vất vả, nặng nhọc. Dân xã xin được miễn thuế cho các hộ và phu phen tạp dịch để hoàn thành công việc được giao. Căn cứ vào ý bàn bạc ưng thuận cho nha môn ty bản xứ và các quan ở nha môn thuộc bản phủ bản huyện miễn trừ thuế hàng năm cho các hộ và những phu phen tạp dịch, khiến thư sức dân. Nay ban báo. Ngày 25 tháng 11 năm Thịnh Đức thứ 1 (1653)”(5).
    Vì thế mà ngày nay, trong số 82 văn bia đề danh ở Văn miếu Hà Nội, thì chỉ có 7 bia dựng năm 1484, số còn lại chủ yếu được dựng vào thời Lê - Trịnh, cụ thể là năm 1653 dựng 25 bia, năm 1717 dựng 21 bia.


    ---------- Post added at 11:37 AM ---------- Previous post was at 11:35 AM ----------

    2. Bài thơ Nôm của chúa Trịnh khắc trên biển gỗ treo ở nhà Thái học Văn miếu Hà Nội. Biển gỗ được sơn son, xung quanh có đường viền hình rồng uốn lượn, trong lòng khắc lời tựa bằng chữ Hán và bài thơ bằng chữ Nôm, cuối cùng ghi niên đại là mùa Đông năm Ất Hợi. Các nguồn sử liệu từ các bộ chính sử cho biết Chúa Trịnh rất quan tâm đến việc tu sửa Quốc tử giám và bái yết nhà Thái học. Năm Chính Hòa thứ 16 (1695), mùa đông tháng 10 chúa đến nhà Thái học, bái yết Tiên Thánh, thân làm thơ ca tụng đạo đức thánh nhân, khắc vào bia dựng ở nhà Thái học(6). Bài thơ này cũng thấy chép trong tập thơ Nôm chúa Trịnh Khâm định thăng bình bách vịnh tập. Trong lời tựa của bài thơ khắc trên biển gỗ này, cũng có ý như vậy. Do đó bài thơ khắc trên biển gỗ ở nhà Thái học hiện nay là của Trịnh Căn và được khắc lại về sau, bởi trước đó vốn được khắc trên bia đá. Cho nên dòng niên đại chỉ dựa theo sự kiện năm Ất Hợi đó mà ghi là "Tuế tại Ất Hợi niên trọng đông". Nội dung văn bản này như sau:
    Lời dẫn (nguyên văn chữ Hán, được dịch như sau): Thánh nhân đạo cao đức trọng, khắc ở bia lớn để lại muôn đời. Ngày khánh thành ta đến thăm lại, xem xét khắp xung quanh, thấy thể chế ngay ngắn nghiêm chỉnh, hình thức và nội dung đều tốt đẹp, thật đáng trân trọng, bèn làm bài thơ quốc âm rằng (nguyên văn chữ Nôm được phiên như sau):
    Đạo thống tường xem nhật nhật minh
    Vậy nên biểu lập trước trung đình
    Tôn nghiêm vốn có bề phương chính
    Trân trọng nào sai mực đất bằng
    Rộng chứa văn chương hằng rỡ rỡ
    Tỏ ghi đức giáo hãy rành rành
    Vững bền sóc sóc đồng thiên địa
    Thấy đấy ai là chẳng ngưỡng thành.
    Tháng trọng Đông năm Ất Hợi (1695).
    Đây cũng chính là chủ hướng của chúa Trịnh nhằm đề cao giáo dục Nho học.
    3. Biển đề trên bệ tượng thờ Khổng Tử. Biển cũng được sơn son thiếp vàng, hình chữ nhật, hai góc trên vát chéo, chiều dài 35cm, chiều cao 27cm. Biển đặt trên giá đỡ bằng gỗ. Việc thờ phụng Khổng Tử và các Tiên hiền ở Việt Nam trong các thời kì lịch sử chủ yếu mô phỏng theo nghi thức thờ cúng ở Trung Quốc. Trong Văn miếu ở Thăng Long, ngoài thờ Khổng Tử và các hiền triết Trung Hoa ra, ng­ười Việt Nam còn tôn thờ Chu Văn An, một vị Nho học có tiếng ở thời Trần, từng giữ chức Tư­ nghiệp Quốc tử giám và biên soạn sách Tứ thư­ thuyết ­ước, sách quảng bá đạo Nho. Việc thờ cúng ở Văn miếu không hẳn giống hoạt động của một tôn giáo, nh­ưng đ­ược xem như­ một trong những nghi thức tế lễ quốc gia. Tượng Khổng Tử từng được tạo rất sớm, nhưng pho tượng hiện tại ở Văn miếu thì chắc chắn được tạo lại vào năm Vĩnh Khánh thứ 1 (1729), theo biển đề dưới chân tượng bằng chữ Hán như sau: "Thuận An phủ thự Đồng Tri phủ Nguyễn Kim Hoa Gia Phúc huyện Bá Thủy xã nhân tạo Tiên Thánh tượng. Vĩnh Khánh nguyên niên bát nguyệt sơ bát nhật". Phía cuối đề chữ "Biển" khá lớn. Nghĩa là "Quyền Tri phủ phủ Thuận An Nguyễn Kim Hoa người xã Bá Thủy huyện Gia Phúc tạo tượng Tiên Thánh, ngày 8 tháng 8 năm Vĩnh Khánh thứ 1 (1729)". Biển. Đây cũng có thể xem như một trong pho tượng Khổng Từ có niên đại sớm nhất hiện còn ở nước ta.
     

    Bình Luận Bằng Facebook

  2. kuangtuan

    kuangtuan New Member

    4. Chuông đồng: Hiện tại gian bên trái nhà Thái học, có một chuông đồng. Chuông cao 75cm, đường kính miệng 50cm, quai chuông là hai hình rồng đấu lưng vào nhau, có chiều cao và chiều rộng tương đương là 30cm; rồng thân mập không có đuôi, trên là hình hồ lô. Chuông có 4 núm, 4 ô dưới để trơn, khung có hoa văn. Viền dưới loe, chạm cánh sen nổi. Chữ khắc trên 2 mặt chuông, chữ mới được khắc lại.

    , .
    , 祿 ,, , , , , , , .
    , , , , , 綿 .
    , , , , .

    Phiên âm:
    Bích ung đại chung
    Hoàng triều Cảnh Hưng nhị thập cửu niên tuế tại Mậu Tí đông chí, Quốc tử giám phụng chú tiểu chung tứ (?).
    Tứ Tân Hợi khoa Đệ nhất giáp Tiến sĩ, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Nhập thị Tham tụng Thái tử Thái bảo, Công bộ Thượng thư, hành Lễ bộ sự, Tri Quốc tử giám kiêm Tri Trung thư giám Nhập thị Kinh diên, kiêm Quốc sử Tổng tài Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm.
    Tứ Mậu Thìn khoa Đệ tam giáp Tiến sĩ, Hoằng tín đại phu Nhập thị Bồi tụng Tri Lễ phiên, Hàn lâm viện Thị độc, hành Binh bộ Hữu Thị lang, Ngự sử đài thiêm Đô ngự sử, kiêm Quốc tử giám Tế tửu, Quốc sử Toản tu Vũ Miên.
    Tứ Canh Tuất khoa Đệ tam giáp Tiến sĩ, Triều liệt đại phu, Hàn lâm viện Thị giảng, kiêm Quốc tử giám Tế tửu, Quốc sử Toản tu Nguyễn Nghiễm đồng giám chú.
    Dịch nghĩa:
    Chuông lớn Bích ung
    Vào tiết đông chí năm Mậu Tí Hoàng triều Cảnh Hưng thứ 29 (1768) Quốc tử giám phụng đúc một quả chuông lớn(7).
    Vị Tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731), chức Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu Nhập thị Tham tụng Thái tử Thái bảo Công bộ Thượng thư, hành Lễ bộ sự, Tri Quốc tử giám kiêm Tri Trung thư giám, Nhập thị Kinh diên, kiêm Quốc sử Tổng tài Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm (soạn).
    Vị Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Mậu Thìn (1748), chức Hoằng tín đại phu Nhập thị Bồi tụng Tri Lễ phiên Hàn lâm viện Thị độc, hành Binh bộ Hữu Thị lang, Ngự sử đài Thiêm Đô ngự sử, kiêm Quốc tử giám Tế tửu Quốc sử Toản tu Vũ Miên và vị Đệ tam giáp Tiến sĩ khoa Canh Tuất, chức Triều liệt đại phu Hàn lâm viện Thị giảng kiêm Quốc tử giám Tế tửu, Quốc sử Toản tu Nguyễn Nghiễm cùng giám sát việc đúc chuông".
    Như vậy, quả chuông này do hai vị danh Nho, cũng là những người đứng đầu Quốc tử giám thời Lê Trịnh đương thời đứng ra đúc. Đây cũng là thời kỳ giáo dục Nho học khá hưng thịnh và đề cao. Đó là Nguyễn Nghiễm (1708-1775) người xã Tiên Điền huyện Nghi Xuân, nay thuộc huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh, cha của Nguyễn Khản và đại thi hào Nguyễn Du.
    Vũ Miên (1710-1782), người xã Xuân Lan, huyện Lương Tài, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Ông từng cùng biên soạn sách các vị khoa bảng Đại Việt lịch triều đăng khoa lục(8).
    Khác với mọi quả chuông khác, chuông này không phải là chuông chùa, chuông ở đền, miếu, mà là chuông ở Văn miếu, mang ý nghĩa nhạc khí biểu trưng của lễ nghi Nho giáo. Điều đó được thể hiện rõ ở ngay tên chữ tên chuông là ch ungđại chung, nghĩa là Chuông lớn Bích ung. Bích ung vốn là chữ trong thiên Xuân Quan, Chu Lễ, là một trong ngũ học là Bích ung, Thượng tường, Đông tự, Cổ đông, và Thành quân như giải thích trong Lễ ký: "Bích ung, Thượng tường, Đông tự, Cổ đông dữ Thành quân vi ngũ học, giai đại học dã". Trịnh Đạc giải thích thêm: Trong ngũ học nhà Chu thì Bích ung có dòng nước uốn quanh, dòng phía nam là Thành quân, phía bắc là Thượng tường, phía đông là Đông tự và phía tây là Cổ tông "Chu ngũ học trung viết Bích ung, hoàn chi dĩ thủy, thủy nam vi thành quân, thủy bắc vi Thượng tường, thủy đông vi Đông tự, thủy tây vi Cổ tông". Trong ngũ học thì Bích ung ở trung tâm là tôn quý nhất; Thành quân ở phía nam cũng rất tôn quý "Ngũ học dĩ Bích ung cư trung vi tối tôn, Thành quân tại nam, diệc tôn, Cố thống ngũ học khả danh vi Bích ung. Như vậy, tên chuông này dùng từ Bích ung với ý nghĩa chỉ nơi tôn nghiêm đạo học.
    Trên đây là một số di văn Hán Nôm quý giá liên quan đến việc xây dựng, cũng như các nghi thức hoạt động ở Văn miếu Quốc tử giám thời Lê - Trịnh, khi Nho giáo và giáo dục Nho học đang hưng thịnh.

    Chú thích:
    1. Đại Việt sử ký toàn thư. Bản dịch, Nxb. KHXH, H. 1998, Tập 2, tr.486.
    2. Đại Việt sử ký toàn thư­. Sđd., Tập 3, tr.120.
    3. Văn bia thời Mạc, Đinh Khắc Thuân biên dịch, Nxb. KHXH, H. 1996, tr.56, 162 và 318.
    4. Đại Việt thông sử, Bản dịch Lê Mạnh Liêu, Sàigòn 1973, tr.154.
    5. Thác bản số 12005, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
    6. Đại Việt sử ký tiền biên. Bản dịch, Nxb. KHXH, H. 1997, tr.42.
    7. Văn bản khắc là “tiểu chung” (chuông nhỏ). Có lẽ không phải là chữ “tiểu” mà là chữ “đại” mới hợp với tên chuông, nên dịch là chuông lớn. Có lẽ do khắc lại nên đã khắc lầm. Thêm nữa ở cuối câu này có chứ “tứ” (nghĩa là 4) không gắn gì với nghĩa của câu văn này.
    8. Xem thêm Các nhà khoa bảng Việt Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb. Văn học, H. 1993, tr.686-687 và 708-709./.
    (Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (89)2008; Tr.27-31)
     

Chia sẻ trang này