TỬ VI ĐẨU SỐ Tác Giả: Nguyễn Mạnh Bảo

Thảo luận trong 'Chiêm tinh – tướng số - tử vi' bắt đầu bởi nam sơn đạo nhân, 29/6/11.

Lượt xem: 16,659

  1. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    608. – IX. QUAN - LỘC
    Có Tử Vi miếu vượng ngộ Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt được phong đến Hầu Bá, gia Dương Đà Hỏa Linh là bình thường, gặp Thiên Phủ là Quyền quí, danh lợi song toàn, gặp Thiên Tướng là trong ngoài có Quyền quí Thanh chính gặp Phá Quân là trong động thì yên thân.
    Thiên Cơ nhập miếu là Quyền quí hội với Văn Khúc là bầy tôi hiền, gia Dương Đà Hỏa Linh công danh ắt có, với Thiên Lương là có tài Văn Võ, với Thái Âm là có tài làm Tướng trấn biên thùy; ở Hãm địa thì làm quan bị giáng chức hay mất chức trở lại chức nhỏ để giữ chân mà sống.
    Thái Dương nhập miếu là Văn võ song toàn tài, không có Dương Đà Hỏa Linh thì tốt, có Thái Âm là quí hiển, có Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt, lại có Khoa Quyền Lộc là “Nhất Phẩm chi quí”.
    Vũ Khúc nhập miếu cùng Xương Khúc Tả Hữu là Quan Võ cao cấp, thường nhân thì phát phúc, hội với Khoa Quyền Lộc là Quan về Tài chánh, có Tham Lang ở Hãm địa là quan tham ô, có Phá Quân là nhà Binh xuất thân thì tốt, có Thất Sát thì hoạnh lập công danh, ở Hãm địa lại gặp Đà Linh Kiếp Địa là không có phận, người không công danh.
    Thiên Đồng nhập miếu không có Dương Đà Hỏa Linh thì tốt, làm nên văn lẫn võ, có Cự Môn thì nhỏ sau lớn, có Thái Dương Xương Khúc, Khoa Quyền Lộc thì tốt đẹp, có Thiên Lương là Quyền quí, có Thái Âm ở hãm cung là làm Thư lại.
    Liêm Trinh nhập miếu là quyền qui về Võ công không được bền, với Tham Lang là trong động thì có quyền quí, có Tử Vi hội ở ba phương lại là Văn chức, với Thất Sát là người xuất thân ở quân lữ, với Thiên Tướng, Thiên Phủ cùng là được làm quan phú quí.
    Thiên Phủ nhập miếu làm Văn Võ quan đều tốt, không có Dương Đà Hỏa Linh Không Hao thì đẹp đẽ hoàn toàn, gặp Tử Vi là làm văn quan đều được thanh danh, với Liêm Vũ đồng chiếu là quyền quí, có Không Kiếp là bình thường.
    Thái Âm nhập miếu là Đại quí, lạc hãm là người khí cả mà hoạnh phá khó hiển đạt, với Thái Dương Xương Khúc Tả Hữu là quan đến Tam phẩm, có Thiên Đồng là Văn Võ quan đều nên cả, với Thiên Cơ là tự mình xin làm thơ lại để lấy chân mà lên.
    Tham Lang nhập miếu ngộ Hỏa Linh là Quan Võ cầm quyền binh lớn trong tay, vào hàng Thượng Tướng. Gặp Tử Vi là làm Văn Võ quan có quyền uy lớn lao. Ở Hãm địa là tham quan ô lại, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì bình thường.
    Cự Môn nhập miếu là Vũ Chức quyền quí, là Văn nhăn thì không bền, gặp Thái Dương là có sự thăng đáng. Nhập miếu là làm lớn bền lâu, gặp Thiên Cơ tại cung Mão là Cát mỹ, tại Cung Dậu tuy đẹp đẽ mà hữu thủy vô chung, lạc hãm là bị thương tàn, hối lẫn, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp đều không được đẹp lòng, nên từ chức thoái quan.
    Thiên Tướng nhập miếu là Văn Võ đều nên, thực lộc thiên chung, ở Hãm địa thì khi thành khi bại, có Tử Vi là Quyền quí, có Xương Khúc Tả Hữu là quyền quí hiển vinh có Vũ Khúc là làm võ chức ở biên thùy, gặp Liêm Trinh là quyền quí cao, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp có sự giáng chức.
    Thiên Lương miếu ở cung Ngọ hội với Tả Hữu Khôi Việt là có tài văn võ, với Thiên Đồng là quyền quí lớn lao, có Thiên Cơ là quí hiển cao vọi, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì bình thường.
    Thất Sát miếu vượng là Vũ chức quyền quí cao vợi lớn lao, không nên làm ăn quan, gặp Vũ Khúc là quyền quí, đồng với Liêm Trinh là công danh hiển đạt.
    Phá Quân miếu vượng làm quan võ thì được thăng cao gia Dương Đà Hỏa Linh thì bình thường, gặp Tử Vi đồng cung là danh vang lừng lẫy, gặp Liêm Trinh mà là Văn nhân thì không được lâu chỉ làm lại thì tốt.
    Văn Xương nhập miếu có Thái Dương gia Cát tinh và Khoa Quyền Lộc là có tài Văn Võ, có Thiên Phủ Văn Khúc là Phú quí song toàn.
    Văn Khúc miếu vượng là về Văn Võ đều nên, lạc hãm gặp Thiên Cơ, Thái Âm đồng cung là làm lại có quyền quí. Hội có Tử Phủ Tả Hữu là cận thần, có quyền chấp chánh, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là bình thường.
    Tả Phụ nhập miếu là tài Văn võ, làm về Võ quan thì rất vượng, về văn thì bất lợi, hội với Cát tinh về văn hay võ là người thanh liêm, và hiền lành, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là lên xuống không chừng.
    Hữu Bật nên làm Quan Võ, không hòa hợp với chức quan văn, có Tử Phủ, Xương Khúc thì tài quan song mỹ, lạc hãm thì thành bại, bị dáng chật hay thải hồi, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp cũng bị truất dáng.
    Lộc Tồn hội với Cát tinh, giỏi cả văn lẫn võ, Tài quan song mỹ, con cháu cũng được phong tặng được mỹ mãn.
    Kình Dương nhập miếu làm Vũ chức rất lợi, với Cát tinh là quyền quí lạc hãm là thường, là hư danh.
    Đà La đứng một mình là bình thường, gia Cát Tinh là hư danh.
    Hỏa Tinh miếu vượng thì về già công danh được toại nguyện, còn nhỏ tuổi thì có thành có bại, hội với Tử Tham thì tốt, ở hãm địa ắt không mỹ mãn.
    Linh tính đứng một mình ở vượng cung thì tốt, lạc hãm không mỹ mãn, gia Cát tinh là quyền quí.
    Đẩu quân gặp Cát tinh, năm tháng đó là Tài Quan vượng, phùng Hung Tinh, Hóa Kỵ không hiển đạt, có sự lao khổ bôn ba.
    Định Công Khanh: Tử Vi gặp Phụ, Bật: Quan làm đến tam phẩm.
    Nếu bị Không vong, ác tinh ba phương chiếu lại chỉ là hư danh thụ ám phong (các quan Hàn, Cụ Bá, Cụ Cửu).
    Định Chức Phủ: cung Quan Lộc có Xương Khúc miếu vượng rất khó gặp, là cách “Văn Quế Văn Hoa” ắt được phong hầu, làm chức phủ hay Huyện Lệnh.
    Nếu bị hung sát tinh lâm vào phá thì cách Tốt hóa ra xấu.
    Định Văn Quan. Cơ Xương Khúc ở cung Quan Lộc gặp Tử Tướng là bậc Văn Quan kiêm Quyền Lộc làm ra Phong biến tiêu biểu Lễ nghi Triều đình.
    Định Võ Quan. Cung Quan Lộc có tướng quân là Võ Tinh, gặp Tử Vi, Phụ Bật cũng chiếu là bậc Cái Thế Anh hùng, Kim chương Ngọc đái tá Hoàng Vương.
    Định Quan Lại. Thái Dương ở cung Quan Lộc, ở cung Dương tuy được sáng lạng mới đầu không hung, nếu gặp Tử Vi kiêm Tả Hữu là văn chức lại thích anh hùng.
     
  2. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    609. – X. ĐIỀN TRẠCH
    Có Tử Vi là cơ nghiệp được mậu thịnh, tự dựng lên thì vượng, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có để lại, có bỏ đi, với Phá Quân là bỏ tổ nghiệp, có Thiên Tướng cùng với Tả Hữu Xương Khúc là thành cơ nghiệp lớn.
    Thiên Cơ là bỏ tổ nghiệp làm lại cơ nghiệp mới, có Cự Môn tại cung Mão ắt có ruộng vườn, tại cung Dậu không giữ được tổ nghiệp, trước to sau nhỏ, với Thiên Lương thì dựng được cơ nghiệp, về già thì giàu, gặp Thái Âm là tự dựng lên thì thịnh vượng.
    Thái Dương nhập miếu là được tổ nghiệp để lại, mới thì lớn sau bình thường, gặp Thái Âm gia Cát tinh thì nhiều ruộng, cùng với Cự Môn ở cung Dần thì thịnh vượng ở cung Thân thì thoái tổ cũng không đến nỗi không có điền sản, ở Hãm địa phùng Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là toàn không.
    Vũ Khúc một mình ở vượng địa là được Tổ phụ để lại cơ nghiệp lớn lao, ở Hãm địa thì cơ nghiệp bị suy sau tất thành. Gặp Phá Quân, Đại Hao là phá đãng gia sản, có Thiên Tướng thì trước phá sau thành, với Thất Sát là tâm không muốn, với Thiên Phủ thì giữ được Tổ nghiệp, làm thành cơ nghiệp to, gặp Tham Lang thì đến già dựng được cơ nghiệp, gặp Hỏa Linh miếu vượng thì cực mỹ, ruộng vườn sanh tốt, thịnh vượng có Không Kiếp thì có mua, có bán.
    Thiên Đồng trước ít sau nhiều, tự mình dựng cơ nghiệp thì thật vượng, có Cự Môn là ruộng ít, có Thái Âm nhập miếu thì giàu lớn. Gặp Thiên Lương thì trước ít sau nhiều hơn, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là toàn không.
    Liêm Trinh là phá tổ Nghiệp, gặp Tham Lang là có Tổ nghiệp để lại nhưng không bền, gặp Thất Sát là tự dựng gặp Thiên Phủ là giữ được tổ nghiệp, làm thành cơ nghiệp, với Thiên Tướng là trước không sau có.
    Thiên Phủ là ruộng vườn sanh Tốt thì thịnh vượng, giữ được Tổ nghiệp và tự dựng lên, gặp Tử Vi là đại phú với Liêm Vũ là giữ được Tổ nghiệp được vinh sương, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì có ít lúc thành lúc bại.
    Thái Âm nhập miếu là nhiều ruộng, ở Hãm địa gia Kỵ Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì không có một tấc, với Thiên Cơ là tự dựng lên với Thiên Đồng là tay trắng tự dựng lên cơ nghiệp, gia Tả Hữu, Quyền Lộc, Lộc Tồn chủ nhiều điền sản.
    Tham Lang hãm địa là thoái tổ, một đòi ít ruộng nương, miếu vượng là có tổ nghiệp để lại, trung vận thì bán hết, đến hậu vận lại tự dựng lên, với Liêm Trinh là không có phận, gặp Tử Vi thì có tổ nghiệp với Vũ Khúc là về già dựng nghiệp, gặp Hỏa Linh là giữ được Tổ nghiệp tự dựng lên, nhưng sợ nhà cửa bị cháy.
    Cự Môn miếu vượng là hoạnh phát dựng lên, mua được, ở hãm địa là không có phần, nhân vì điền sản mà chiêu lấy thị phi. Với Thái Dương thì trước không sau có gia Da Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì ruộng nương nhà cửa đều không.
    Thiên Tướng miếu vượng là có phận, với Tử Vi là tự dựng lên với Vũ Khúc thì không có phận, gia Liêm Trinh mà không có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì sau có Điền trạch.
    Phá Quân tại cung Tý Ngọ là giữ được Tổ nghiệp được vinh sương chỉ có sự hơn kém thôi, gia Dương Đà Hỏa Linh thì kém tổ nghiệp, ruộng nhà ít, với Tử Vi thì thành gia nghiệp, có Liêm Trinh là trước phá sau thành, bị Hao Kỵ thì toàn vô.
    Văn Xương hội với Cát tinh thì ruộng vườn xa rộng, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì bại tổ.
    Văn Khúc ở vượng địa thì có phận, giữ được Tổ nghiệp gia Cát tinh là tự dựng, có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có lên xuống.
    Tả Hữu là có Tổ nghiệp, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp kém tổ nghiệp, ruộng đất ít, hội cát tinh thì nhiều.
    Lộc Tồn là điền viên nhiều, thịnh vượng, tự tay dựng lên hội với cát tinh là thừa hưởng tổ nghiệp, vinh sương gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là ruộng nhà ít.
    Kình Dương, nhập miếu trước phá sau thành, ở Hãm địa gia Không Kiếp là bán tổ nghiệp.
    Đà La, là bán Tổ nghiệp làm ăn khổ sở để độ nhựt gia Cát tinh, trước không sau có, gia Không Kiếp là toàn vô.
    Hỏa Tinh một mình là bán tổ nghiệp hội với Cát tinh là trước không sau có, gặp Không Kiếp là không có.
    Linh Tinh là bán Tổ nghiệp, nhập miếu gia Cát tinh tự dựng lên, gặp Không Kiếp là toàn vô.
    Đẩu quân quá độ gặp Cát tinh thì năm đó điền sản bồi thêm, gặp Hung Sát Kỵ Hao thì thoái bại.
     
  3. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    610. – Xi. PHÚC - ĐỨC
    Phúc Đức là cung cần phải xem cho kỹ, vì người ta có ảnh hưởng liên lạc đến cái âm đức của các Tiền nhân để lại như người Mệnh thật tốt mà cung Phúc kém ắt cái hạnh phúc ở đời không được toại mãn. Lắm người Mệnh thật xấu Thân xấu, Hạn đi thường thường mà cung Phúc được tốt ắt là đời được hạnh phúc mỹ mãn. Muốn cho dễ hiểu tôi ví cái Thân Mệnh con người như cái áo dệt để bao thân thể, có thứ bằng gai, bằng tơ, bằng vải, bằng lụa, cái nào cũng có chỉ ngang chỉ dọc. Nhưng có cái lại có bông có hoa đẹp đẽ, màu mè xinh tươi bọc lên tấm thân các vị Vua chúa. Được nâng niu quí báu, có cái lại bọc cái thân xác ốm o của người bần hàn ti tiện. Thế là nghĩa làm sao?
    Cái Phúc Đức ta có thể tượng trưng trong ví dụ này là cái vị của cái áo ở được nơi quyền quí hay ở chỗ thấp hèn. Cũng như con người sao lắm người tài ba lỗi lạc mà thi không đỗ, ra xã hội lại bị nhiều cảnh éo le, lắm kẻ ngu muội hèn nhát lại được hưởng muôn sự hạnh phúc ở đời. Nếu không có những sự ảnh hưởng vô hình mà ta gọi là Âm Đức, ắt ta cho những sự chênh lệch khắt khe ấy là vô lý, không còn có số Mệnh và Đạo Trời bất công vậy. Cho nên người có Âm Đức được hưởng vạn phúc lành bất kỳ trong trường hợp nào cũng vậy. Nếu Mệnh là số thứ dân ắt cũng được hạnh phúc vui vẻ, tai họa qua khỏi, nếu là kẻ sĩ ắt phong vân gặp hội mà đường hoạn lộ ắt được cao thăng.
    Cái Phúc Đức của Tổ Tiên để lại theo phương Đông là do Tiền nhân, mà cái xương cốt còn lại có ảnh hưởng trực tiếp với con cháu về sau. Khoa học hiện tại cho ta biết rằng có Nguyên tử mà Nguyên tử bất diệt, nên những cái Nguyên tử của Tiền nhân còn lại ở Xương Cốt một khi được nhuần thấm các Thiên khí, phong thủy đều hòa ung đúc thành như một cái máy “Phát khí lực” xấu hay tốt cho con cháu đời sau. Con Cháu đời sau đã sẵn có những loại Nguyên tử gia truyền, có người hợp kẻ xung, để chịu ảnh hưởng mau hay chậm những âm đức của Tiền nhân phóng ra. Đây một nguyên lý cao siêu vô hình mà các bạn có thể tưởng tượng cái Mồ mã của Tiền nhân như một đài “Phát Thanh” và các con cháu sau này như những cái máy “Thâu Thanh”.
    Máy “Phát ra’ này người Phương Đông lấy ở Mồ mã, tiền nhân làm căn bản, nó có thể hữu lý và chúng ta đã biết rằng Nguyên tử là bất diệt vậy.
    Nếu muốn tồn tại được cái Phúc vì vậy người Á Đông ta có môn địa lý để phong thủy mồ mã, đó chỉ là một Khoa học cao siêu biết được cái lý của Đất thu được Thiên Khí để hấp thụ cái di bài con Người còn lại như xương cốt, hay nói cho dễ hiểu, ông Thầy Địa cũng như các kỹ sư về điện khi biết cách chế biến những máy Phát thanh cho bền cho mạnh, mỗi một giòng họ có một Nguyên tử đặc biệt riêng chỉ con cháu họ, giống của họ mới có mà sau này thành những máy Thâu Thanh riêng biệt vậy.
    Nếu ta chịu nhận những làn sóng Hertzienne vô hình kia là có, ta cũng không thể không nhận những làn sóng vô hình Phúc đức ảnh hưởng từ một Ngôi Mộ cho con cháu được. Ta cho là không có là tại ta chưa thấy, chưa học đến, nhưng ông Cha ta cũng chẳng dại gì cứ tin tưởng đến nỗi thành ngạn ngữ như những câu “Sống vì Mồ Mã, Ai sống về cả bát ăn” Nên mới đến Phúc Đức của một người là người ta liên tưởng đến ngay Mồ Mã, vì lẽ ấy trong Số Tử Vi của người ta có cung Phúc Đức là để xem Mồ mả ảnh hưởng trực tiếp cho số từng người một. Mà cung Phúc Đức là cái nguyên nhân của từng số. Như một cây đa to lớn sống ở trên một khoảnh đất ít màu ít khí, cây đa là loại cây lớn nhưng cái nguyên nhân căn bản để sống mà không có ắt cũng tàn tạ mà chết, không bằng cây lau cây sậy nhỏ bé mà được ở chỗ vượng địa ắt lúc nào cũng được xanh tươi. Cho nên xem một số người ngoài sự xem Mệnh Thân cung rồi phải xem cung Phúc Đức cân nhắc, đối chiếu ắt sẽ biết cái lực suy vượng, tồn vong mà cái Số đo có thể tới được.
    Vì lẽ ấy tôi đã hết sức khảo cứu và nghiệm xét rất lâu về cung Phúc đức để viết ra đây thật rõ ràng cho các bạn dễ hiểu. Ta có thể tả được rõ ràng ngôi mộ tọa hướng nào, hướng mặt về hướng nào...
    Bắt đầu từ đây tôi giải xem cung Phúc Đức :
    Cung đằng trước là Tả là ngoài, ba phương là Ngoại Long, Hổ và Khánh Sơn, cung đằng sau là Hữu là sau.
    Dương trạch âm phần đều xem như vậy.
    Ví dụ như cung Phúc đức ở cung Tý, cung Sửu ở đàng trước la Tả, cung Hợi là đằng sau là Hữu. Ba phương thì; Ngọ là Khánh Sơn, Thân là Long, Thìn là Hổ.
    Thân Tý Thìn tam hợp là ba phương
    Xem Dương Trạch thì lấy cung Mệnh làm Bản cung, xem hành hạn cũng vậy.
    Hình Tính các sao trong cung Phúc Đức.
     
  4. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    HÌNH TÍNH CÁC SAO TRONG CUNG PHÚC – ĐỨC
    Thiên Cơ là mộc tinh vật là thảo mộc.
    Thái Dương là Bình Dương (ruộng bằng) hình như tấm kính, người là dương hồn (mộ đàn ông).
    Liêm Trinh là gò cao nổi lên (như xương sống) hình như người ốm, ngồi một mình.
    Thiên Phủ là tổ sơn, Thổ tinh đại địa, linh khí ở hữu đến.
    Thái Âm là gò cao chót vót, người là Âm hồn (mộ đàn bà) hình như bán nguyệt.
    Tham Lang là bắc thổ chi địa (đất màu bùn đen) vật là thảo mộc um tùm, hình như con chó ngồi.
    Vũ Khúc là Cô Sơn.
    Hỏa Linh như cái cần giài.
    Thiên Lương là đất bụi, hình như cái suối giài (cái suối trong khung cửi).
    Cự Môn là cuốc đất vuông, ở dưới thì đất vàng, hình như cái chiếu giải.
    Thiên Tướng là đất vuông vắn dày dặn hình như cái ấn vuông.
    Thất Sát là đất khô đỏ, hình như cây cỏ giài thẳng và nhọn là Cô Sơn.
    Phá Quân là cuộc đất tan lở, hình như tên quân thường cổi giáp.
    Văn Xương như một cục sắc tròn.
    Văn Khúc như giải nước khúc khuỷa.
    Phụ Bật là đất no đầy, hình như cái cạp chiếu nổi đầy đều lên.
    Thiên Khôi như cái cột tươi sáng dựng lên.
    Thiên Việt như hình cái kiếm lớn.
    Thiên Mã là hình con ngựa.
    Lộc Tồn là đất hình vuông, hình cái thương, là cô sơn.
    Dương Nhận là như cái nanh, hay con dao nhọn của lính.
    Hóa Lộc là đất bao lần kim khí, hình như cái thương.
    Hóa Quyền là đất như cụm cây vuông, hình như cái yên ngựa.
    Hóa Khoa là cuộc đất hình cái khuôn cây như cái Bảng.
    Hóa Kỵ là đất có nược ngưng tụ, bùn lầy, đất đen.
    Không Kiếp là đất hung.
    Phi Liêm là hỏa tinh tán loạn là cô sơn (núi đứng một mình).
    Hỉ Thần là đất bằng có cát.
    Bịnh Phù là đất như cái đai.
    Lưỡng Hao là đất khô.
    Phục Binh là đất hình nhọn, là phạn lại.
    Thiên Hình là đất có mảnh sành mảnh bát vỡ là nhà tù tối tăm.
    Thiên Diêu là đất gần nước, ẩm ướt, về thảo mộc thì tươi tốt um tùm.
    Tam Thai đất hình tam tinh.
    Bát Tọa là đất hình Bát Diệu (8 sao, hình như đồ Bát cống).
    Hư Khốc là đất đường nhỏ hư lỡ.
    Long Trì là đất giữ nước, hình cái ao, cái giếng cạn.
    Phượng Cát là hình lâu đài, về vật là loài chim sắc đỏ, con Phượng.
    Tràng Sinh là đất tụ rất nhiều nước là dãy nước dài.
    Mộc Dục là đất tích tụ các thứ nước, nước ở thác xuống.
    Thai là Trẩm long chi Thủy (nước có rồng lội).
    Dưỡng là nuớc ở ngoài triều đến.
    Quan Đái là Huyền Vũ Thủy (khí phách về Võ) là cái Đài là hình bán nguyệt.
    Tử là chỗ nước chảy mau, tử thủy.
    Mộ là thoái thần chi thủy.
    Hồng Loan là hình cái cung, uốn lên như cái mi mắt, hình bán nguyệt là Nga mi.
    Thiên Hỉ là Cát bùn.
    Thái Tuế là hình cái xương sống gầy khô, hình như cái bút, về người thì chỉ thị phi quan sự.
    Tấu Thư là hình Thần long đứng một mình.
    Triệt Lộ là như con đường hẻm, đường làng nhỏ, cầu đất đương đầu với Huyền Vũ ắt giòng Trưởng bại.
    Tuần Không là đất khoáng đạt không có gì, trong cuộc tán loạn.
    Thiên Quan là Miếu Dương Thần Linh là Đình.
    Thiên Phúc là Âm thần linh Tự (chùa) là Quán.
    Hoa Cái là hình tựa như cái hoa, cái bát, cái cây.
    Thanh Long là Trường Thủy (sông lớn) hình người mang kiếm
    Phong Cao là hình cái chiếu vuông vắn.
    Thai Phụ là hình cái nón
    Suy là như cái xương sống gầy, sắc nhọn
    Bạch Hổ là đất đá trắng là hình Số.
    Phàm luận về phần Mộ thì chuyên lấy cung Phúc Đức làm bạn cung mà định cuộc đất, coi phương hướng lấy Tiểu hạn Can Chi hành độ coi xung hợp ra sao. Lấy xem các sao xung hợp đắc địa, miếu vượng hay lạc hãm mà đoán cát hung xem có Văn tinh ắt phát về Văn, có Vũ Tinh ắt phát về Võ, có Quí tinh thì phát quí, có Tài tinh thì phát phú. Lại cần phải tham bác cho kỹ những Ác sát tinh mà biện luận ắt không sai, lại lấy cả Can chi 12 cung để coi cả cuộc đất gần xa, hình Tinh các phương rất linh diệu vậy.
    Xem dương Trạch cũng vậy.
    Thiên Cơ, Phong Cáo, Thai-Phụ, Hóa-Khoa đứng đằng trước là Ấn Tín, đứng đằng sau là Bảng.
    Cự Môn là con tuợng (voi) Thiên Việt là búa là Kiếm.
    Thiên Mã là ngựa (gặp Đà La ở Tị Hợi là ngựa gãy cẳng).
    Tam Thai ở cung đằng trước tà Tiền cung, Tam thai.
    Thất Sát ở cung đằng sau là Hậu cung.
    Thất Sát, Hỉ Thần, Thiên Hỉ là nước.
    Khôi Việt là đầu, Tang Môn là châu, Tuần Triệt là Thất Lộ (lạc mất đường).
    Địa Kiếp là đường bị nghẽn tắc, gặp Long Trì Thanh Long là sông bị nghẽn, giếng bị tắc.
    Thất Sát, Địa Kiếp là Kiếm (vào hạng Tà không Chính)
    Sương, Khúc, Khôi, Việt, Long, Phượng, Khoa, Quyền, Tả, Hữu, Hóa Lộc và Văn Tinh.
    Vũ Tham, Dương, Lực Sĩ, Linh Tinh ở vượng địa, Tử Vi Thất Sát là Vũ Tinh.
    Kình Dương Đà La Hỏa Linh đứng trước cung Phúc Đức là Tiền quan, đứng sau là Hậu quỉ.
     
  5. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    LUẬN CÁC SAO Ở CUNG PHÚC ĐỨC

    Sao Tử Vi tọa thủ cung Phúc Đức, là Thổ Tinh Tổ Sơn đại địa, gặp cát tinh thì phát phúc lâu dài, nếu gặp Hao, Triệt, Không Kiếp là giòng Trưởng bị bại, thứ thì thành, tha hương bôn tẩu, Tổ nghiệp không vượng, địa khí đã kiệt tàn.
    Tử Vi là ngôi mộ Ngũ đại nội ở vào miếu vượng địa được hưởng phúc lâu dài, gặp Thiên Phủ, Thiên Tướng thì chung thân được cát tường, gặp Phá Quân thì lao tâm phí lực bất an, hội hợp Thiên Cơ là được hưởng phúc chung thân, gia Dương Đà Hỏa Kỵ Không Kiếp phúc bạc.
    Thiên Cơ là Mộc tinh, gặp Không là bóng cây, gặp Triệt là cành cây, cung cây có hoa đẹp và sinh nở được, nếu gặp được Đào, Hồng, Thai, Dưỡng là Phúc, gặp Đà La, Thiên Riêu là đất nghỉ không phát.
    Sao Thiên Cơ ở cung Phúc Đức là chỉ về mộ Ông Nội, trước thì lao khổ sau mới được nhàn hạ, với Cự Môn thì có lao lực mới được yên lâu, với Thiên Lương thì được hưởng phúc, với Thái Âm là chủ khoái lạc gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là bôn tẩu không được yên tĩnh.
    Thái Dương là Hỏa Tinh gặp Địa Kiếp thì đất thật phẳng, gặp Xương Khúc là Cung Huyệt như nước ánh từng khúc trong vườn thượng uyển, thường an triệt lộ ở bên thì có tài văn võ, là bậc Đống Lương trong nước.
    Nếu gặp Đà Kỵ Riêu Linh tức như nước không có mạch mà cứ tiết mãi ra hết ngoài, là như “Vân ám sơn lãnh” (Đỉnh núi bị mây phủ ám) thì nhân đinh bị chết nhiều, có tật ở mắt hay đui mù.
    Là ảnh hưởng mộ Cha (Cha còn sống là mộ ông Nội) trong nhà hoang mang rồi mới phát phúc, với Thái Âm là con cháu được yên vui, sung sướng. Với Cự Môn là phí lực mới lâu yên, với Thiên Lương được sung sướng yên vui, nếu là số đàn bà mà có cung Phúc Đức như vậy hội với Cát tinh là chiêu được chồng hiền minh hưởng phúc, gia Dương Đà Hỏa Kỵ Không Kiếp Kỵ Hao thì suốt đời không được mỹ mãn yên vui.
    Vũ Khúc là Kim Tinh, hỉ kiến Tham Lang là Địa Khí cao hậu, sơn thủy hữu tinh, Văn võ toàn tài, xa quê hương thì phát Phúc, nếu gặp Tử Vi ở Hãm địa gia Dương Đà Khốc Hư Linh Kỵ là đất có hình dáng mà không có Huyệt, chôn ở đó là đất bại tuyệt, nếu lại gặp Tuần, Triệt, Phá Quân thì cũng làm được về Nghệ Thuật khéo léo, làm Nghệ sĩ chẳng hạn.
    Vũ Khúc là mộ Tứ đại nội nếu ở Hãm địa là lao tâm phí lực ở miếu vượng địa là an nhiên hưởng phúc, có Phá Quân hội với là chạy Đông chạy Tây đời không yên tĩnh, với Thiên Tướng thì lão cảnh an khang, gặp Thất Sát là lâu mới được an khang, gặp Tham Lang càng về già càng hưởng được nhiều phúc, gặp Hỏa Linh miếu vượng là được an nhàn gia Dương Đà là hao tâm phí lực.
    Thiên Đồng là Thủy đái Thổ gặp Xương Khúc Khôi Việt Khoa Quyền là đất phát nhiều Quan. Sao Khôi lập ở ngoài chiếu vào là Thiên Hạ cái thế văn chương.
    Nếu gặp Đà Kỵ Tuần Triệt Kiếp Không là Huyệt không được chính chỗ tuy phát mà chỉ bình thường.
    Thiên Đồng là mộ Tứ đại ngoại, là được hưởng Phúc Thọ sung sướng, với Cự Môn ắt buồn phiền vui ít, với Thái Âm đồng cung là được hưởng phúc, cùng với Thiên Lương là thanh nhàn khoái lạc.
    Liêm Trinh là Hỏa Tinh đái Mộc gặp Thiên Tướng, Lộc Tồn đồng độ là địa khí nhiều mạnh và đẹp. Long, Hổ ở ngoài chầu lại thì quí được Vua phong, phú gia địch quốc. Nếu gặp Cô Thần, Quả Tú thì thành không có Tú khí, trai gái bị cô quả phải bôn tẩu tha hương.
    Liêm Trinh là chỉ mộ Chú, đứng một mình là trong hoang mang thì có phúc, với Thiên Tướng là có Phúc Thọ, gặp Thiên Phủ là vui vẻ, an cư lạc nghiệp không bị ưu buồn, cùng Phá Quân là mộ không phát phải lao tâm phí lực, gia Dương Đà Hỏa Linh là lao khổ.
    Thiên Phủ là Thổ tinh, tổ sơn đại địa, được phát phúc, trường cửu, nếu bị Tuần, Triệt, Kiếp Không là Trưởng bại thứ thành tha hương bôn tẩu tuy phát nhưng không lâu, địa khí đã kiệt.
    Thiên Phủ chỉ mộ ngũ đại ngoại được yên tĩnh hưởng Phúc với Tử Vi là một đời khoác lạc, với Liêm Trinh thân thì yên mà tâm thì hoang mang, cùng Vũ Khúc, nhỏ thì cực khổ đắng cay, trung và vãn niên thì được an lạc hưởng Phúc gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ là lao khổ đệ nhất.
    Thái Âm thủy tinh là địa thế cao vợi, gặp Khoa Quyền chiếu lại ắt được Mộc Tinh khí thủy an cực là đứng đầu Thiên hạ. Nếu gặp Khốc Hư Tuần Triệt, Đà Kỵ là giả huyệt không phải thật, con cháu không được thịnh vượng. Thái Âm là Mộ Mẹ (Mẹ còn chỉ mộ Bà Nội), nhập miếu là hưởng phúc khoái lạc, cùng với Thái Dương là cực mỹ, làm tăng đạo cũng được thanh khiết hưởng phúc lâu dài, cùng Thiên Cơ thì tâm hoang mang, với Thiên Đồng thì an tĩnh vô ưu, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có sự ưu buồn thì tốt, đời không được yên tĩnh.
    Tham Lang là thủy Tinh gặp Vũ Khúc Khoa Quyền Lộc là địa khí nhiều, âm ỉ lâu bền, đứng đầu thiên hạ, phát mộ Ngũ đại, Nếu gặp Tuần Triệt là như một mở một đóng, một may rủi nhưng cũng không đến nỗi là họa hại.
    Tham Lang chỉ mộ Ông Nội, lạc hãm là lao tâm không nên gặp Liêm Trinh thì phúc bạc, cùng với Tử Vi thì về già ắt được an lạc vui vẻ.
    Cự Môn là Thủy đái Kim gặp Nhật, Hỏa Khôi Việt Cơ, Quyền Ấn là Vệ Huyệt (Khí Huyệt), các sao tốt cũng phụ là Văn Võ toàn tài, Riêu Đà Kỵ là hung táng là bị nơi Ác Sơn Ác Thủy, thì bị tai hung, trai gái bịnh tật yểu bần, hình ngục, huynh đệ bất hòa. Cự Môn chỉ mộ Bác ruột, lạc hãm là lao tâm không yên, cùng với Nhật có buồn có vui, cùng Thiên Đồng là huởng phúc, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là gặp nhiều sự ưu buồn.
    Thiên Lương là Thổ đái Mộc hỉ kiến Văn Khúc, Khoa Quyền là đất phát Văn mà Vũ chiều vậy. Nếu gặp ở nơi Hãm địa và Tuần Triệt Mã Kỵ là địa thế bị hư liệt, trai thì du đãng, gái đa dâm, phá tán Tổ nghiệp.
    Thất Sát là Hỏa đái Kim gặp Tử Vi Khoa Quyền là khi đất ấm áp trong trẻo đất cao trên đỉnh núi trùng trùng điệp điệp, long mệnh chạy tuy đoản (ngắn) nhưng ở ngoài chiều lại, là anh hùng oanh liệt, vũ liệt công hầu. Ở Hãm địa có Dương Đà Không Kiếp Kỵ Riêu Tuế tức là Cô long ngoài không chiều phục thì nhân đinh không vượng, yểu nhược tàn tật bình thường, lao tâm phi lực.
    Là Mộ gì gặp Vũ Khúc thì lâu mới yên, với Liêm Trinh là cực nhọc, cùng Tử Vi thì trước lao khổ sau mới an nhàn về sau được toại ý.
    Số Đàn bà mà cung Phúc đức có một sao Thất Sát tất chỉ làm Nô tỳ, Ca kỹ.
    Thiên Tướng là Thủy đái mộc gặp Khoa Quyền Khôi Việt là đất long mạch đang lên chiều cao vọi, đời đời Công Hầu bá tước. Nếu gặp Tuần Triệt Không Kiếp thì long mạch bị kim châm chích thương tàn trong hoạn lộ thì bị hoán cải, cách chức, là sĩ thứ thì bị thị phi.
    Thiên Tướng chỉ mộ Cậu, đắc địa thì được an nhàn hưởng phúc sống lâu, gặp Tử Vi là khoái lạc, với Thiên Cơ thì hoang mang mà trong được tốt, cùng Thái Dương thì Phúc Thọ song toàn, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì tâm không được yên.
    Phá Quân là Thủy đái Thổ gặp Vũ, Khoa, Quyền, Khôi, Việt là Tú khí ắt Văn Võ kiêm toàn đỗ đạt cao. Nếu ở nơi Hãm địa gặp Liêm Phục Hình là đất ác khí như tinh sơn Kim hình khắc Mộc như bị mũi nhọn đâm vào chết.
    Là mộ cụ Ngoại, là lạc hãm là lao tâm phí lực, cùng Vũ Khúc là lâu mới yên, với Liêm Trinh là khổ cực.
    Cùng Tử Vi là an lạc, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp cả đời không được yên tĩnh.
    Văn Xương là Kim đái Thổ, nếu có Văn Khúc, Khôi Việt Tả Hữu là đất phát con cháu khôi ngô thông minh, phát về sự nghiệp Văn Chương. Nếu gặp Dương Đà Riêu Linh thì bị yểu triết bần cùng, gia Cát tinh nhập miếu là hưởng phúc an lạc.
    Văn Khúc là Thủy đái Hỏa gặp Khoa, Quyền Nhật Nguyệt là Long mạch hội lại rất nhiều, sơn tú thủy hoạt, con cháu trí tuệ thông minh. Nếu ở Hãm địa lại gặp Dương Đà, Hỏa Kỵ Riêu Tuế là đất võ khí, khí ác thủy xạ, tàn tật yểu triết.
    Tả Phụ là Thổ đái Kim, gặp Tử Vi là được Tú khí các tinh tú ở ngoài củng chiếu, tay long tay hổ an bày tuyệt mỹ thì tốt vi Cực Quí, nếu gặp Tuần Triệt Đà Hỏa Riêu Kỵ thì nhân đình bị bại yểu, làm ăn cực nhọc. Đứng một mình thì về già được an ninh.
    Hữu Bật là Thổ đái Thủy gặp Tử Phủ, Khôi Việt là đất tốt, đất được trúng huyệt ắt phú quí trường đại nhân đinh thịnh vượng, người trung hậu. Nếu gặp Tuần Triệt Riêu Kỵ tức là bị Vong Thủy hãm phá nhân đinh bần yểu.
    Ở miếu vượng địa thì bình sinh được phúc lộc toàn, mỹ gia Cát tinh một đời ít ưu buồn.
    Thiên Khôi là Hỏa đái Kim gặp Tử Phủ Khoa Quyền là được long cung hậu khí ứng 2 người mà con trưởng được văn võ thọ trường. Nếu gặp Kiếp Thông Tuần Triệt Đà Kỵ thì lại bị phản lại, con trưởng bị bại tuyệt, con thứ thì phá tổ nghiệp bôn ba.
    Thiên Việt là Hỏa đái Mộc gặp Khoa, Quyền Nhật Nguyệt là đất cong cong ôm lấy mộ, được Tú khí con cháu văn hào đỗ Khôi Nguyên. Nếu gặp Thái Tuế Kình Đà Kỵ Kiếp Không Phá ắt là đất bị phạm hung sát, trai thì bị hình chu, gái thì dâm bật bại gia.
    Khôi Việt có cả hai sao là quí lắm, quí nhân hưởng phúc an lạc.
    Hóa Quyền là Mộc đái Thổ gặp Khôi Việt Tham Vũ là đất hình cung, Tú khí, văn võ toàn tài, nếu gặp Khốc Hư Đà Kỵ tức là bị “Hoàng Truyền Thủy Thế” là cây bị nắng khô, trai thì tuyệt tự, gái truỵ thai.
    Hóa Khoa là Thủy đái Mộc Khôi Việt Tham Vũ Xương Khúc là đất đắc địa sinh nhân, Tứ khí, văn võ lại tài sinh người tuấn tú khôi ngô. Nếu gặp Tuần Triệt Không Kiếp là phản lại, tha hương cầu thực, hoán tổ ly tông.
    Hóa Lộc là Thổ đái Mộc gặp Xương Khúc Hồng Loan là cuộc đất sơn thủy hướng chiều, Long Hổ chầu lại, người Văn Hoa đẹp đẽ làm đến Công Hầu. Nếu gặp Dương Đà Riêu Kỵ tất bị các khách tinh ở ngoài phản phúc thì trai gái đều bị khốn cùng.
    Hóa Kỵ là Thủy đái Mộc là đất bị ác khí, có gặp Khoa Quyền Xương Khúc Khôi Việt tuy có Địa Long hậu khí, được quí hiển nhưng không bền ắt bị yểu triết bại tuyệt.
    Long Trì là Thủy đái Kim gặp Khoa Quyền Xương Khúc cùng với Thiên Lương, Phượng Cát là đất đắc địa, đỗ đạt cao tột, khoa giáp trùng phùng. Nếu gặp Đà Kỵ Dương Riêu Tuần Triệt tức là giả Huyệt, trong ngoài Long Hổ đều sai, trai thì gian trá lọc lừa, gái thì dâm ô.
     
  6. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    LUẬN CÁC SAO Ở CUNG PHÚC ĐỨC

    Sao Tử Vi tọa thủ cung Phúc Đức, là Thổ Tinh Tổ Sơn đại địa, gặp cát tinh thì phát phúc lâu dài, nếu gặp Hao, Triệt, Không Kiếp là giòng Trưởng bị bại, thứ thì thành, tha hương bôn tẩu, Tổ nghiệp không vượng, địa khí đã kiệt tàn.
    Tử Vi là ngôi mộ Ngũ đại nội ở vào miếu vượng địa được hưởng phúc lâu dài, gặp Thiên Phủ, Thiên Tướng thì chung thân được cát tường, gặp Phá Quân thì lao tâm phí lực bất an, hội hợp Thiên Cơ là được hưởng phúc chung thân, gia Dương Đà Hỏa Kỵ Không Kiếp phúc bạc.
    Thiên Cơ là Mộc tinh, gặp Không là bóng cây, gặp Triệt là cành cây, cung cây có hoa đẹp và sinh nở được, nếu gặp được Đào, Hồng, Thai, Dưỡng là Phúc, gặp Đà La, Thiên Riêu là đất nghỉ không phát.
    Sao Thiên Cơ ở cung Phúc Đức là chỉ về mộ Ông Nội, trước thì lao khổ sau mới được nhàn hạ, với Cự Môn thì có lao lực mới được yên lâu, với Thiên Lương thì được hưởng phúc, với Thái Âm là chủ khoái lạc gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là bôn tẩu không được yên tĩnh.
    Thái Dương là Hỏa Tinh gặp Địa Kiếp thì đất thật phẳng, gặp Xương Khúc là Cung Huyệt như nước ánh từng khúc trong vườn thượng uyển, thường an triệt lộ ở bên thì có tài văn võ, là bậc Đống Lương trong nước.
    Nếu gặp Đà Kỵ Riêu Linh tức như nước không có mạch mà cứ tiết mãi ra hết ngoài, là như “Vân ám sơn lãnh” (Đỉnh núi bị mây phủ ám) thì nhân đinh bị chết nhiều, có tật ở mắt hay đui mù.
    Là ảnh hưởng mộ Cha (Cha còn sống là mộ ông Nội) trong nhà hoang mang rồi mới phát phúc, với Thái Âm là con cháu được yên vui, sung sướng. Với Cự Môn là phí lực mới lâu yên, với Thiên Lương được sung sướng yên vui, nếu là số đàn bà mà có cung Phúc Đức như vậy hội với Cát tinh là chiêu được chồng hiền minh hưởng phúc, gia Dương Đà Hỏa Kỵ Không Kiếp Kỵ Hao thì suốt đời không được mỹ mãn yên vui.
    Vũ Khúc là Kim Tinh, hỉ kiến Tham Lang là Địa Khí cao hậu, sơn thủy hữu tinh, Văn võ toàn tài, xa quê hương thì phát Phúc, nếu gặp Tử Vi ở Hãm địa gia Dương Đà Khốc Hư Linh Kỵ là đất có hình dáng mà không có Huyệt, chôn ở đó là đất bại tuyệt, nếu lại gặp Tuần, Triệt, Phá Quân thì cũng làm được về Nghệ Thuật khéo léo, làm Nghệ sĩ chẳng hạn.
    Vũ Khúc là mộ Tứ đại nội nếu ở Hãm địa là lao tâm phí lực ở miếu vượng địa là an nhiên hưởng phúc, có Phá Quân hội với là chạy Đông chạy Tây đời không yên tĩnh, với Thiên Tướng thì lão cảnh an khang, gặp Thất Sát là lâu mới được an khang, gặp Tham Lang càng về già càng hưởng được nhiều phúc, gặp Hỏa Linh miếu vượng là được an nhàn gia Dương Đà là hao tâm phí lực.
    Thiên Đồng là Thủy đái Thổ gặp Xương Khúc Khôi Việt Khoa Quyền là đất phát nhiều Quan. Sao Khôi lập ở ngoài chiếu vào là Thiên Hạ cái thế văn chương.
    Nếu gặp Đà Kỵ Tuần Triệt Kiếp Không là Huyệt không được chính chỗ tuy phát mà chỉ bình thường.
    Thiên Đồng là mộ Tứ đại ngoại, là được hưởng Phúc Thọ sung sướng, với Cự Môn ắt buồn phiền vui ít, với Thái Âm đồng cung là được hưởng phúc, cùng với Thiên Lương là thanh nhàn khoái lạc.
    Liêm Trinh là Hỏa Tinh đái Mộc gặp Thiên Tướng, Lộc Tồn đồng độ là địa khí nhiều mạnh và đẹp. Long, Hổ ở ngoài chầu lại thì quí được Vua phong, phú gia địch quốc. Nếu gặp Cô Thần, Quả Tú thì thành không có Tú khí, trai gái bị cô quả phải bôn tẩu tha hương.
    Liêm Trinh là chỉ mộ Chú, đứng một mình là trong hoang mang thì có phúc, với Thiên Tướng là có Phúc Thọ, gặp Thiên Phủ là vui vẻ, an cư lạc nghiệp không bị ưu buồn, cùng Phá Quân là mộ không phát phải lao tâm phí lực, gia Dương Đà Hỏa Linh là lao khổ.
    Thiên Phủ là Thổ tinh, tổ sơn đại địa, được phát phúc, trường cửu, nếu bị Tuần, Triệt, Kiếp Không là Trưởng bại thứ thành tha hương bôn tẩu tuy phát nhưng không lâu, địa khí đã kiệt.
    Thiên Phủ chỉ mộ ngũ đại ngoại được yên tĩnh hưởng Phúc với Tử Vi là một đời khoác lạc, với Liêm Trinh thân thì yên mà tâm thì hoang mang, cùng Vũ Khúc, nhỏ thì cực khổ đắng cay, trung và vãn niên thì được an lạc hưởng Phúc gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ là lao khổ đệ nhất.
    Thái Âm thủy tinh là địa thế cao vợi, gặp Khoa Quyền chiếu lại ắt được Mộc Tinh khí thủy an cực là đứng đầu Thiên hạ. Nếu gặp Khốc Hư Tuần Triệt, Đà Kỵ là giả huyệt không phải thật, con cháu không được thịnh vượng. Thái Âm là Mộ Mẹ (Mẹ còn chỉ mộ Bà Nội), nhập miếu là hưởng phúc khoái lạc, cùng với Thái Dương là cực mỹ, làm tăng đạo cũng được thanh khiết hưởng phúc lâu dài, cùng Thiên Cơ thì tâm hoang mang, với Thiên Đồng thì an tĩnh vô ưu, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có sự ưu buồn thì tốt, đời không được yên tĩnh.
    Tham Lang là thủy Tinh gặp Vũ Khúc Khoa Quyền Lộc là địa khí nhiều, âm ỉ lâu bền, đứng đầu thiên hạ, phát mộ Ngũ đại, Nếu gặp Tuần Triệt là như một mở một đóng, một may rủi nhưng cũng không đến nỗi là họa hại.
    Tham Lang chỉ mộ Ông Nội, lạc hãm là lao tâm không nên gặp Liêm Trinh thì phúc bạc, cùng với Tử Vi thì về già ắt được an lạc vui vẻ.
    Cự Môn là Thủy đái Kim gặp Nhật, Hỏa Khôi Việt Cơ, Quyền Ấn là Vệ Huyệt (Khí Huyệt), các sao tốt cũng phụ là Văn Võ toàn tài, Riêu Đà Kỵ là hung táng là bị nơi Ác Sơn Ác Thủy, thì bị tai hung, trai gái bịnh tật yểu bần, hình ngục, huynh đệ bất hòa. Cự Môn chỉ mộ Bác ruột, lạc hãm là lao tâm không yên, cùng với Nhật có buồn có vui, cùng Thiên Đồng là huởng phúc, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là gặp nhiều sự ưu buồn.
    Thiên Lương là Thổ đái Mộc hỉ kiến Văn Khúc, Khoa Quyền là đất phát Văn mà Vũ chiều vậy. Nếu gặp ở nơi Hãm địa và Tuần Triệt Mã Kỵ là địa thế bị hư liệt, trai thì du đãng, gái đa dâm, phá tán Tổ nghiệp.
    Thất Sát là Hỏa đái Kim gặp Tử Vi Khoa Quyền là khi đất ấm áp trong trẻo đất cao trên đỉnh núi trùng trùng điệp điệp, long mệnh chạy tuy đoản (ngắn) nhưng ở ngoài chiều lại, là anh hùng oanh liệt, vũ liệt công hầu. Ở Hãm địa có Dương Đà Không Kiếp Kỵ Riêu Tuế tức là Cô long ngoài không chiều phục thì nhân đinh không vượng, yểu nhược tàn tật bình thường, lao tâm phi lực.
    Là Mộ gì gặp Vũ Khúc thì lâu mới yên, với Liêm Trinh là cực nhọc, cùng Tử Vi thì trước lao khổ sau mới an nhàn về sau được toại ý.
    Số Đàn bà mà cung Phúc đức có một sao Thất Sát tất chỉ làm Nô tỳ, Ca kỹ.
    Thiên Tướng là Thủy đái mộc gặp Khoa Quyền Khôi Việt là đất long mạch đang lên chiều cao vọi, đời đời Công Hầu bá tước. Nếu gặp Tuần Triệt Không Kiếp thì long mạch bị kim châm chích thương tàn trong hoạn lộ thì bị hoán cải, cách chức, là sĩ thứ thì bị thị phi.
    Thiên Tướng chỉ mộ Cậu, đắc địa thì được an nhàn hưởng phúc sống lâu, gặp Tử Vi là khoái lạc, với Thiên Cơ thì hoang mang mà trong được tốt, cùng Thái Dương thì Phúc Thọ song toàn, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì tâm không được yên.
    Phá Quân là Thủy đái Thổ gặp Vũ, Khoa, Quyền, Khôi, Việt là Tú khí ắt Văn Võ kiêm toàn đỗ đạt cao. Nếu ở nơi Hãm địa gặp Liêm Phục Hình là đất ác khí như tinh sơn Kim hình khắc Mộc như bị mũi nhọn đâm vào chết.
    Là mộ cụ Ngoại, là lạc hãm là lao tâm phí lực, cùng Vũ Khúc là lâu mới yên, với Liêm Trinh là khổ cực.
    Cùng Tử Vi là an lạc, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp cả đời không được yên tĩnh.
    Văn Xương là Kim đái Thổ, nếu có Văn Khúc, Khôi Việt Tả Hữu là đất phát con cháu khôi ngô thông minh, phát về sự nghiệp Văn Chương. Nếu gặp Dương Đà Riêu Linh thì bị yểu triết bần cùng, gia Cát tinh nhập miếu là hưởng phúc an lạc.
    Văn Khúc là Thủy đái Hỏa gặp Khoa, Quyền Nhật Nguyệt là Long mạch hội lại rất nhiều, sơn tú thủy hoạt, con cháu trí tuệ thông minh. Nếu ở Hãm địa lại gặp Dương Đà, Hỏa Kỵ Riêu Tuế là đất võ khí, khí ác thủy xạ, tàn tật yểu triết.
    Tả Phụ là Thổ đái Kim, gặp Tử Vi là được Tú khí các tinh tú ở ngoài củng chiếu, tay long tay hổ an bày tuyệt mỹ thì tốt vi Cực Quí, nếu gặp Tuần Triệt Đà Hỏa Riêu Kỵ thì nhân đình bị bại yểu, làm ăn cực nhọc. Đứng một mình thì về già được an ninh.
    Hữu Bật là Thổ đái Thủy gặp Tử Phủ, Khôi Việt là đất tốt, đất được trúng huyệt ắt phú quí trường đại nhân đinh thịnh vượng, người trung hậu. Nếu gặp Tuần Triệt Riêu Kỵ tức là bị Vong Thủy hãm phá nhân đinh bần yểu.
    Ở miếu vượng địa thì bình sinh được phúc lộc toàn, mỹ gia Cát tinh một đời ít ưu buồn.
    Thiên Khôi là Hỏa đái Kim gặp Tử Phủ Khoa Quyền là được long cung hậu khí ứng 2 người mà con trưởng được văn võ thọ trường. Nếu gặp Kiếp Thông Tuần Triệt Đà Kỵ thì lại bị phản lại, con trưởng bị bại tuyệt, con thứ thì phá tổ nghiệp bôn ba.
    Thiên Việt là Hỏa đái Mộc gặp Khoa, Quyền Nhật Nguyệt là đất cong cong ôm lấy mộ, được Tú khí con cháu văn hào đỗ Khôi Nguyên. Nếu gặp Thái Tuế Kình Đà Kỵ Kiếp Không Phá ắt là đất bị phạm hung sát, trai thì bị hình chu, gái thì dâm bật bại gia.
    Khôi Việt có cả hai sao là quí lắm, quí nhân hưởng phúc an lạc.
    Hóa Quyền là Mộc đái Thổ gặp Khôi Việt Tham Vũ là đất hình cung, Tú khí, văn võ toàn tài, nếu gặp Khốc Hư Đà Kỵ tức là bị “Hoàng Truyền Thủy Thế” là cây bị nắng khô, trai thì tuyệt tự, gái truỵ thai.
    Hóa Khoa là Thủy đái Mộc Khôi Việt Tham Vũ Xương Khúc là đất đắc địa sinh nhân, Tứ khí, văn võ lại tài sinh người tuấn tú khôi ngô. Nếu gặp Tuần Triệt Không Kiếp là phản lại, tha hương cầu thực, hoán tổ ly tông.
    Hóa Lộc là Thổ đái Mộc gặp Xương Khúc Hồng Loan là cuộc đất sơn thủy hướng chiều, Long Hổ chầu lại, người Văn Hoa đẹp đẽ làm đến Công Hầu. Nếu gặp Dương Đà Riêu Kỵ tất bị các khách tinh ở ngoài phản phúc thì trai gái đều bị khốn cùng.
    Hóa Kỵ là Thủy đái Mộc là đất bị ác khí, có gặp Khoa Quyền Xương Khúc Khôi Việt tuy có Địa Long hậu khí, được quí hiển nhưng không bền ắt bị yểu triết bại tuyệt.
    Long Trì là Thủy đái Kim gặp Khoa Quyền Xương Khúc cùng với Thiên Lương, Phượng Cát là đất đắc địa, đỗ đạt cao tột, khoa giáp trùng phùng. Nếu gặp Đà Kỵ Dương Riêu Tuần Triệt tức là giả Huyệt, trong ngoài Long Hổ đều sai, trai thì gian trá lọc lừa, gái thì dâm ô.
     
  7. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    Phượng Cát là thổ đái Mộc gặp Khoa Quyền, Hồng Loan, Long Trì, Tử Phủ là đất được trong ngoài tú mỹ thì trai ăn học văn chương cao vọi, gái ắt Hoàng Phi. Nếu gặp Đà Kỵ Kiếp Không là Long Hổ bị thương tàn ắt không toàn mỹ.
    Lộc Tồn thuộc Thổ gặp Cự Cơ Quyền Lộc thì được phú quí, làm quan đến Công hầu quí hiển, nếu gặp Không Kiếp Tuần Triệt, nhị Hao tức là Thủy triết bị tán bại, khốn cùng ly tổ. Ở miếu vượng địa là chung thân phúc hậu, gia Cát tinh được Hỉ Phúc.
    Thiên Mã là Mộc đái Hỏa gặp Khoa Quyền Khôi Việt là Văn Hoa tuấn tú quí hiển lại có kỳ tài. Nếu gặp Dương Đà Riêu Kỵ là tất bị Long Hổ lệch vẹo ắt trai gái dâm loạn, tàn tật yểu triết.
    Thiên Quan quí nhân là dương Hỏa là đất đại quí gặp Xương Khúc Khoa Quyền Lộc, Khôi Việt là Văn Khôi cao sĩ, gặp Tham Phá Vũ là Vũ cách đến bậc Công Hầu. Nếu Tuần Triệt Hoa Cái, Tấu Thư là nhà Sướng ca có tiếng tăm, gặp Đà Kỵ Riêu Kiếp là bị tàn tật hôn mê ngu xuẩn.
    Thiên Phúc quí nhân là ám Thổ, là cuộc đất rất đẹp, gặp Tử Phủ Hồng Đào thì trai làm Phò mã, gái Cung Phi. Nếu gặp Phá Đà Riêu Kỵ Tuần Triệt là hung địa, trai làm Đạo sĩ ly tổ phiêu lưu.
    Phong Cáo là Thổ đái Thủy gặp Tham Vũ Khoa Quyền là địa khí Cát tú; huyệt họa nơi nguy nga đẹp đẽ, được công dan hiển hách, vinh hoa phong tặng. Nếu gặp Tuần Triệt Đà Kỵ Hư Hỏa Kiếp ắt cả đời bôn tẩu không thì ở chốn thiền môn.
    Thai Phụ là Thổ đái Kim gặp Khôi Việt, Nhật Nguyệt Tả Hữu đều chầu về huyệt ắt được văn võ công hầu. Nếu gặp Không Triệt Riêu Linh Phá Cự là Sơn thủy thô sơ ắt bị tuyệt vong.
    Tấu Thư là Kim đái Thổ gặp Khôi Việt Nhật Nguyệt là văn học thành tài, nếu gặp Riêu Kỵ Thái Tuế là bại địa thì hay sinh ra người điên.
    Hỉ Thần là Hỏa gặp Hồng Hỉ Phủ Cơ là Quí địa ắt phát Công Hầu nếu gặp Đà Kỵ Tuần Triệt Riêu Mã Mộc dục ắt là Thủy phá nguyên dầu (suối nước bị phá từ dầu), thì trai gái dâm đãng.
    Bệnh Phù là Thổ đái Mộc gặp Riêu Kỵ Dương Đà là Ác Thủy phạm nguyên oa (là hung ác thủy phạm huyệt) trai bị phong cùi, gái bất đắc kỳ tử.
    Đại hao Tiểu hao là cuộc đất bị nung nóng, gặp Tử Phủ Khoa Quyền Khôi Việt cũng không được tốt.
    Phục Binh là Hỏa đái Kim gặp Khôi Việt Tuần Triệt Thất Sát là đại địa phát về Binh nhung uy chấn Thiên Hạ, nếu gặp Hình Kỵ Không Kiếp ở Tứ Mộ (Thìn Tuất Sửu Mùi) thì không tránh được nạn đao binh ác sát.
    Kình Dương nhập miếu là trong nhà bị động như ốm đau tang tóc thì mới bắt đầu phát phúc, lạc hãm là lao tâm lâu mới có lực, hội với Cát tinh thì giảm được ưu buồn, một mình thì thân tâm bất an.
    Đà La đứng một mình thì làm việc cực khổ, nhập miếu là có phúc lộc, hãm địa là bôn ba, gia Cát tinh thì về già có phúc.
    Hỏa Tinh thì lâu yên lao lực tâm khổ, gia Cát tinh thì về già được toại trí.
    Linh Tinh là lao khổ gia Cát tinh thì bình hòa, đứng một mình thì cay đắng đa đoan.
    Đẩu quân gặp Cát tinh thì năm đó được yên tĩnh, gặp hung tinh thì bị hung sát lâu mới yên.
     
  8. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    661. – XIi. PHỤ MẪU

    Phàm xem cung Phụ Mẫu thì lấy sao Thái Dương tượng Cha, Thái Âm tượng Mẹ.
    Thái Dương ở Hãm cung chủ khắc cha trước, Thái Âm ở Hãm địa chủ khắc Mẹ trước. Như hai sao cùng ở Hãm địa thì phải lấy giờ sinh mà xem, sinh ban ngày thì Cha còn, sinh ban đêm thì Mẹ còn. Nếu sinh ban đêm Thái Âm chủ Mẹ còn, bị phản bội không được sáng thì chủ Mẹ bị khắc trước. Sinh ban ngày là Nhật chủ cha còn, phản bội bị tối là chủ cha bị khắc trước. Vậy học giả phải nghiệm xét cho kỹ ắt không thể sai được vậy. Vả lại phải xem bản cung Phụ Mẫu xem có những sao Hung, Cát, Hình, Khắc ra sao hãy Cát tinh miếu vượng cứu chế thế nào mà suy thêm đoán xét ắt được tự ngộ vậy.
    Có Tử Vi vô khắc, cùng Thiên Phủ cũng vô hình, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, thì khắc, cùng Thiên Tướng vô hình, với Tham Lang vô sát cũng Vô Hình, có Phá Quân thì sớm đã mồ côi.
    Thiên Cơ miếu vượng vô hình khắc, hãm địa, phùng Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp làm con hai họ, làm con nuôi hoặc bỏ chồng, bỏ vợ hoặc phải đi ở rể, gặp Thái Âm thì miễn hình, cùng Thiên Lương vô hình, cần không có Sát tinh, nếu có thì không tránh được hình thương, với Cự Môn thì sớm đã hình khắc Cha Mẹ.
    Thái Dương nhập miếu vô khắc, hãm địa thì khắc Cha, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì sớm đã khắc Cha Mẹ cùng có Thái Âm xem không Dương Đà thì Cha Mẹ còn, gặp Cự Môn gia Tứ Sát Không Kiếp thì nhỏ đã mồ côi, cùng với Thiên Lương là vô hình.
    Vũ Khúc là khắc Cha mẹ sớm đã xa Tổ nghiệp thì không bị hình, gặp Tham Lang thì hình khắc, có Thất Sát là bị hình, cùng Thiên Tướng gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp bị hình thương.
    Thiên Đồng đứng một mình miếu vượng thì vô hình gia Tứ Sát nên làm con nuôi, có Cự Môn thì lâu mới hòa với Cha Mẹ, cùng Thái Âm thì phụ mẫu song toàn, gặp Thiên Lương thì vô hình, hoặc bỏ Tổ nghiệp, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì Cha Mẹ bất toàn.
    Liêm Trinh là bỏ Tổ nghiệp đi làm con nuôi, gặp Tham Lang thì sớm đã hình Cha Mẹ, cùng Thất Sát là cô khắc, với Thiên Phủ là miễn hình, với Phá Quân thì nhỏ đã bị hình, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì cha mẹ không được chu toàn.
    Thiên Phủ là phụ mẫu song toàn, gặp Tử Vi không bị hình cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc tại miếu vượng là vô hình, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là chủ thương.
    Thái Âm nhập miếu là vô khắc, gia Dương Đà Hỏa Linh là khắc mẹ không thì bị góa, bỏ tổ nghiệp, cùng Thái Dương vô Tứ Sát thì cha mẹ song toàn, cùng Thiên Cơ thì vô hình, có Thiên Đồng thì cực mỹ (không có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp).
    Tham Lang ở Hãm địa hồi nhỏ đi làm con nuôi họ khác, không thì bị góa hay phải đi gửi rể, cùng Liêm Trinh thì sớm bị hình, cô đơn gặp Tử Vi không có Sát thì Cha Mẹ song toàn.
    Thiên Lương hãm địa gia Dương Đà Hỏa Linh là cô khắc, bỏ tổ nghiệp đi, ở rể hay nuôi con thì tránh được hình cùng Thiên Đồng gia Tứ Sát là có hình, vô sát vô hình cùng Thiên Cơ thì vô hình, gặp Thái Dương thì khắc chậm, gia Tứ Sát Không Kiếp cũng sớm khắc Cha Mẹ.
    Thất Sát là sớm khắc Cha Mẹ, ly tổ, ly lục thân cốt nhục. Sống cô độc, gặp Vũ Khúc cũng bị hình, với Liêm Trinh sớm hình Cha Mẹ, cùng Tử Vi gia Cát tinh vô hình gia Tứ Sát Không Kiếp thì cha mẹ không được chu toàn.
    Phá Quân là sớm khắc, ly tổ, nuôi con nuôi thì tránh được hình, cùng Vũ Khúc thì sớm khắc, với Liêm Trinh cũng sớm khắc, gặp Tử Vi thì vô hình.
    Văn Xương gia Cát tinh nhập miếu là vô hình, gia Tứ Sát bị hình, hoặc bỏ tổ nghiệp, mang hai họ thì sống lâu.
    Văn Khúc một mình nhập miếu là vô hình, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì cha mẹ không được chu toàn.
    Tả Phụ một mình là vô hình, cùng Liêm Trinh là sớm hình, gia Văn Xương tương sinh là vô hình, gia Tứ Sát là hình thương ly tổ, mang hai họ thì sống lâu.
    Hữu Bật một mình là vô hình, gia Cát Tinh thì Cha mẹ cản ngăn che ám mình, có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là ly tổ, mang hai họ thì yên ổn.
    Lộc Tồn là vô khắc gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là nhỏ đã phá tài sản của Cha Mẹ và bị hình thương không tự mình thành gia thất được.
    Kình Dương là sớm đã hình khắc Cha Mẹ, hội với Nhật Nguyệt là ly tổ, gia Cát tinh thì tránh được hình.
    Đà La nhỏ tuổi đã hình thương Cha Mẹ, hội với Nhật Nguyệt là ly tổ, mang hai họ thì yên ổn, gia Cát tinh thì ở rể, hay bỏ vợ, bỏ chồng, hoặc mang hai họ thì sống lâu.
    Hỏa Tinh một mình là cô khắc, mang hai họ thì sống lâu, gia Cát tinh thì bình hòa.
    Linh Tinh thì bị hình khắc cô đơn, mang hai họ thì được an cư, gửi rể hay bị góa.
    Khôi Việt chủ Cha Mẹ được vinh quí, gia Cát Tinh là song toàn.
    Đẩu Quân quá độ đi đến cung phụ mẫu mà gặp Cát Tinh thì cha mẹ được Cát lợi, không bị tai nạn khắc thương được an nhàn, bên nội ngoại vui vẻ, gặp hung tinh thì cha mẹ không lợi.
    8 câu thơ dưới đề nhớ ngũ hành những vị sao chính
     
  9. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    612. - BẮC - ĐẨU TINH CHỦ

    Tử Vi, Tả Phụ, Lộc Tồn thổ
    Vũ Khúc, Đà La, Dương nhận kim
    Phá, Bật, Cự, Tham, Văn Khúc thủy
    Hỏa thuộc Liêm Trinh Bắc đẩu tinh


    613. – NAM - ĐẨU TINH CHỦ

    Thiên Phủ, Thiên Lương thổ hữu tình
    Thiên Đồng, Thiên Tướng thủy tuy thanh.
    Sương Sát thuộc Kim, Thiên Cơ Mộc
    Hỏa, Linh, Khôi, Việt hỏa nam tinh

    614. – CHƯ TINH NGŨ – HÀNH QUYẾT
    CHÍNH VÀ TRUNG TINH

    1. Tử Vi thuộc dương Thổ
    N và B
    NAM - ĐẨU
    Chính Diệu
    2. Thái Dương thuộc Dương Hỏa
    3. Thất Sát thuộc Kim đái Hỏa
    4. Thiên Cơ thuộc âm Mộc
    5. Thiên Đồng thuộc dương Thủy đái Thổ
    6. Thiên Lương thụôc âm Thổ đái Mộc
    7. Thiên Phủ thuộc âm Thổ
    8. Thiên Tướng thuộc Thủy đái Mộc’
    BẮC - ĐẨU
    9. Cự Môn thuộc âm Thủy đái Kim
    10. Liêm Trinh thuộc âm Hỏa đái Mộc
    11. Phá Quân thuộc âm Thủy đái Thổ
    12. Thái Âm thuộc âm Thủy
    13. Tham Lang thuộc âm Thủy đái Mộc
    14. Vũ Khúc thuộc âm Kim.
    TRUNG – TINH
    15. Hỏa Tinh thuộc dương Hỏa
    16. Linh Tinh thuộc âm đái dương Hỏa
    17. Thiên Khôi thuộc dương Hỏa đái Kim
    18. Thiên Việt thuộc âm Hỏa đái Mộc
    19. Văn Xương thuộc dương Kim đái âm Thổ.

    HẾT
     
  10. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    vậy là đã post xong hết quyển này
    thực ra là vừa đọc vừa post
    thấy quyển này khá dễ tìm hiểu cho người mới
    nhưng với cách trình bày này mà bảo mình đọc lại lần thứ 2 thì ko bao h^^
     
  11. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    vậy là đã post xong hết quyển này
    thực ra là vừa đọc vừa post
    thấy quyển này khá dễ tìm hiểu cho người mới
    nhưng với cách trình bày này mà bảo mình đọc lại lần thứ 2 thì ko bao h^^
     

Chia sẻ trang này