TỬ VI ĐẨU SỐ Tác Giả: Nguyễn Mạnh Bảo

Thảo luận trong 'Chiêm tinh – tướng số - tử vi' bắt đầu bởi nam sơn đạo nhân, 29/6/11.

Lượt xem: 16,808

  1. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    575. -THẤT – SÁT
    Là Nam-Đẩu tướng tinh, thuộc Hỏa đái kim, gặp Tử Vi là Quyền tính, còn dư là Sát tinh, người mắt to, tính mau mắn bất thường, vui giận bất nhất, làm việc lui tới thì trầm ngâm.
    Ở cung Miếu-Vượng là người có mưu lược. Gặp Tử Vi là người có Quyền Bính về Bịnh bị làm Vũ chức thì lợi gặp thêm Tả Phù, Xương Khúc Khôi Việt thì vị đến Cực Phẩm. Lạc vào cung có Không Vong thì lại không có uy lực ngộ hung tinh ở cung sinh nó thì làm Đồ Tể, hội với Hình Tú là bị thương khắc.
    An Mệnh ở cung Dần Hợi Tị Ngọ người sinh năm Đinh Kỷ thì hợp cục. An ở cung Thân người sinh năm Lục Canh thì Cát nếu ở cung Tý Ngọ Dần thì không hợp, người sinh năm Nhâm Canh Ngọ Tuất, lục Bính lục Mậu thì Trung bình. Có Dương Đà Hỏa Linh xung hội, tại hãm địa thì tàn tật, và là Hạ cục, tuy Phú phí mà không lâu.
    Đàn bà Mệnh có Thất Sát nhập miếu gia Quyền Lộc thì vượng phu ích tử, ở hãm địa ngộ Dương Hỏa thì thương khắc, hạ tiện.
    Cung Tý Ngọ là Vượng địa, người sinh năm Đinh Kỷ Giáp là Tài Quan cách.
    Cung Mão Dậu là Vượng địa có Vũ Khúc người sinh năm Ất Tân là Phúc hậu Tài Quan cách.
    Cung Dần Thân là nhập miếu người sinh năm Giáp Canh Đinh Kỷ là Tài Quan cách.
    Cung Tị Hợi là Hòa-bình gặp Tử Vi đồng cung người sinh năm Bính Mậu Nhâm là Phúc hậu.
    Cung Thìn Tuất nhập miếu gia Cát tinh là Tài quan cách.
    Cung Sửu Mùi là miếu gặp Liêm-Trinh gia Cát tinh là Tài quan cách.
    NAM MỆNH
    Sao Thất Sát ở cung Tý Ngọ Dần Thân là bực anh hùng, Tây man di phải chắp tay bái phục (đây chỉ man di hướng Tây, hướng Tây thuộc Kim: Thất Sát là Hỏa khắc Kinh, nên nói Tây Man-di sợ vậy - Học giả nên lấy đó làm ví dụ để luận bàn những chỗ thắc mắc và nhờ đó Lý Học ắt rõ ràng và có thể đưa các bạn lên đến bậc Cao Siêu).
    Gặp Tả Hữu Khôi Việt Sương hội có Khoa Lộc thì danh cao, lương lộc đến muôn chung.
    Sát ở Hãm địa thì sự hung họa không thể nói được như ôm hổ ngủ, nếu Sát mà cường mạnh thì không có gì chê nổi, thiếu niên ắt bị chết đuối ở Hoàng Tuyền. Thất-Sát tọa Mệnh lạc nhàn cung gặp Cự Dương Đà chiếu xung hợp nếu không bị thương tổn chân tay thì đến gẫy xương chỉ có tăng đạo ở cửa Thiền thì mới hưng long.
    NỮ MỆNH
    Nữ Mệnh mà gặp Sao Thất-Sát, thì bình sinh làm việc rất thông minh, khí cao trí lớn, không thua bậc mày râu. Lạc vào Hãm địa thì không tránh khỏi hình phu, khổ sở đắng cay. Thất Sát là Cô tinh gặp Tham Lang ngộ Hỏa Đà không được Quí đàn bà mà gặp là bất lương, chủ thay chồng hay làm nô tỳ.
    HẠN
    Nhị hạn phùng Thất Sát miếu vượng là gia đạo được hòa khí phát đạt, đối cung có Thiên Phủ chính chiếu lại, sĩ hoạn ắt được hiển đạt.
    Hãm địa thì nhiều chuyện buồn bực, làm việc gian nan rất thất bại, nếu trong cung lưu bạn lại có ác tinh nữa là chủ quan tai nhiều bệnh tật
     
  2. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    576. – PHÁ QUÂN
    Là Bắc đẩu tinh thuộc Thủy, hóa Hao Tinh chủ Thê Tử, Nô Bộc. Người hình ngũ đoản, lưng đầy, mi thưa, lưng vẹo, tính cương, ít giao du, tranh đấu, cưỡng bỏ tổ tông, phát phúc thích săn bắn.
    Hỉ gặp Tử Vi vị chí Tam Công người sinh năm Bính Mậu Dần Thân, Mệnh tọa cung Tý Ngọ có Phá Quân thì cô đơn tàn tật, tuy Phú-Quý nhưng không lâu, yểu-triết. Người sinh năm Bính Mậu, Mệnh tọa Thìn Tuất Sửu Mùi gặp Tử Vi thì được Đại phú quí, ngộ Liêm-Trinh Dương Đà Hỏa Linh ở Hãm địa là người thich tranh đấu, nhiều tật bịnh nên đi tư.
    Đàn bà an Mệnh ở cung Tý Ngọ nhập miếu thì có Tật bịnh, Hãm địa gia Sát là Hạ tiện dâm dục.
    Cung Tý Ngọ là nhập miếu, người sinh năm Đinh Kỷ Quí là phúc hậu, người sinh năm Bính Mậu là khốn cùng.
    Cung Mão là lợi Dậu là đắc địa gặp Liêm Trinh, người sinh năm Ất Tân Quí thì Lợi ích, người sinh năm Giáp Canh Bính thì không bền.
    Cung Thìn Tuất là Vượng địa, người sinh năm Giáp Quí là Phúc.
    Cung Dần Thân là Hãm địa, người sinh Giáp Canh Đinh Kỷ là Tài Quan cách.
    Cung Sửu Mùi là Vượng địa gặp Tử Vi, người sinh năm Bính Mậu Ất là Tài Quan cách.
    Cung Tị Hợi là Hòa bình người sinh năm Mậu là Phúc Hậu
    NAM MỆNH
    Mệnh có Phá Quân, Thất Sát hội với Tham Lang ở cung nhập miếu là người anh hùng của thế hệ không ai đương đầu nổi.
    Mệnh của Quan Vân Trường gặp Phá Quân nên làm Thượng Tướng, người thường thì giàu có, ruộng nương nhà cửa nhiều.
    Phá Quân ở cung Tý Ngọ hội với Văn Xương Tả Hữu đều nhập miếu là người rất khẳng khái, tài bạch phong dinh, làm tướng phó tá Quân Vương.
    Phá Quân là sao ít người đương nổi, hỉ gặp Khoa Quyền Lộc, nếu ở Hãm địa lại Gia Sát là người bỏ tổ tông Xuất ngọai, không nên an nó ở cung Thân (Mệnh) gặp Liêm Hỏa Dương Đà hội lại thì hung hại, không bị tai ương tàn khốc thì yểu-triết.
    NỮ MỆNH
    Phá Quân ở cung Tý Ngọ là nhập miếu, đàn bà gặp thì được Phúc Thọ, tính cách hơn người nhưng hay thay đổi, vượng phu ích tử, danh tiếng lẫy lừng.
    Đàn bà không nên gặp Phá Quân ở Mệnh lạc hãm, lại gặp Kình Dương ắt rất Hung, khắc hại chồng hiền không phải chỉ một lần, nên “chiều chiều sầu cảm khóc thầm thương”.
    HẠN
    Hạn gặp Phá Quân nên suy cho kỹ, miếu vượng thì được Phúc Lộc sương, lại gặp Xương Khúc Khôi Việt hạn gặp thì cực kỳ là Vinh quang, gặp Sát thì phùng sự phá bại, nên phòng Thê Tử hay mình có khi chết.
    Hạn gặp Phá Quân về đàn bà thì chủ về máu huyết, hãm địa thì chủ sự mất mác trái lòng không thể nói được, đàn bà sợ có đại tang, không thì bị nạn về sanh đẻ gặp tai ương.
     
  3. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    577. - VĂN XƯƠNG
    Là Nam Bắc đẩu tinh thuộc Kim, là Văn Khôi Tinh, Mệnh có Văn Xương tọa thủ là người có cặp mắt thanh tú phân minh, cơ sảo học hành lỗi lạc, hội với Thái Dương, Lương Lộc Tồn ở Tài Quan hợp chiếu thì Phú quí, trước khó sau dễ. Ở Hãm địa gia Dương Hỏa là người làm công nghệ khéo, ngộ Kình Đà Linh là đái tật cũng được sống lâu, mặt dỗ, ở Vượng Địa thì có nốt ruồi kín.
    Đàn bà Mệnh nhập miếu vượng thì bình thường, gia cát tinh thì phú quí. Ở Hãm địa ngộ Hỏa Dương Cự Cơ Sát Kỵ là hạ tiện, dâm dục ca kỹ, nô tỳ.
    Cung Dần Ngọ Tuất là hãm địa, người sinh năm Đinh Kỷ Giáp Canh là Tài quan cách.
    Cung Thân Tý Thìn là đắc địa, người sinh năm Quí Canh Giáp là Quí cách.
    Cung Tị Dậu Sửu là nhập miếu người sinh năm Ất Mậu Tân là Đại quí.
    Cung Hợi Mão Mùi là lợi ích người sinh Ất Mậu là Tài quan cách.
    NAM MỆNH
    Ở cung Vương Địa Mệnh có Văn Xương tọa thủ là có Tài cao Trí lớn đáng muôn kim, văn nghệ tinh hoa tám tráng đại là cách “Bình Bộ thượng Thanh Vân” (đi bộ lên được mây xanh, phát Công khanh dễ dàng).
    Văn Xương thủ Mệnh thì thật là phi thường, hạn đến thì không sợ yểu thương mà lại Phúc thọ lâu dài, chỉ sợ hạn xung phùng Hỏa Kỵ nếu không yểu triết ắt bị hình thương.
    NỮ MỆNH
    Nữ nhân Thân Mệnh có Văn Xương là người đẹp đẽ thanh kỳ, phúc lại bền, tam hợp đối xung có Tử Phủ chiếu ắt được Phú quí và phong tặng.
    Văn Xương cư Mệnh lại ngộ Liêm Trinh ở Hãm địa lại có Hình Hỏa Kỵ nếu không hóa chồng thì ắt yểu vong.
    HẠN
    Sao Văn Xương là sao rất thanh tú, hàng sao thứ nhì của Đẩu Số, nếu gặp Thái Tuế trong hai hạn là học trò chiếm Bảng vàng. Nếu hạn không đắc địa lại có Dương Đà Hỏa Linh Kỵ thì bị quan tụng khẩu thiệt mà phá tán gia tài chưa hết hình thương lại bị nhiều sự che ám đình trệ.
     
  4. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    578. – VĂN – KHÚC
    Là Bắc Đẩu tinh thuộc Thủy, là Tý Khoa Giáp
    An Mệnh cùng với Văn Xương gặp Cát tinh chủ người Khoa Bảng. Tọa một mình ở Thân Mệnh lại có Ác Sát hợp lại là người không có tên tuổi, hèn kém phụ tiếp người sinh năm Lục Giáp, an ở cung Tị Dậu Sửu là Quí cách làm đến Hầu Bá. Lại cùng với Tham Lang Hỏa Tinh đồng cung hay tam hợp ở Miếu Vượng Địa là Mệnh Lưỡng Tướng.
    Nếu gặp Vũ Tinh Phá Sát lâm ở Hãm địa là táng Mệnh chi ách (chết non)
    Có Đồng Lương Vũ hội ở vượng cung là người thông minh quả quyết. Như gặp Dương Đà Hỏa Linh xung phá chỉ nên đi tu.
    Ở Vượng địa thì có nhiều nốt ruồi kín, hãm địa thì mặt bị rỗ hay nhiều sẹo.
    Đàn bà Mệnh nhập miếu địa có Văn Khúc tọa thủ là người thanh tú, nếu ở hãm địa có Cự Hỏa Kỵ Cơ chiếu hội, có Tham Phá đồng cung xung phá là người hạ tiện, cô quả, dâm dục.
    Cung Dần là bình hòa, Ngọ Tuất là hãm địa người sinh năm Giáp Canh là Tài Quan cách.
    Cung Thân Tý Thìn là đắc địa người sinh năm Đinh Quí Tân Canh là phúc hậu
    Cung Tị Dậu Sửu là nhập miếu, người sinh năm Tân gặp Tử Vi là Đại phú quí.
    Cung Hợi Mão Mùi là vượng địa, người sinh năm Tân Bính Nhâm Mậu là Tài quan cách.
    NAM MỆNH
    Văn Khúc thủ Mệnh thì người hiền lành, tướng mạo đường đường trí khí hiên ngang. Là Sĩ Thứ gặp thì được Phúc hậu, người Trượng Phu ắt được phong tặng Kim chương. Nếu gặp Hỏa Kỵ và Ác tinh tụ hội là người bẻm mép hay nói, chỉ ở “Không môn” thì được Quí hiển.
    NỮ MỆNH
    Đàn bà Mệnh có Văn Khúc là người tướng mạo thanh kỳ phúc hậu, thông minh lanh lợi không phải là người tầm thường. Nếu bị Hãm địa gặp Sát Tinh thì bỏ chồng và dâm dục.

    HẠN
    Hai hạn gặp Văn Khúc, Sĩ Thứ thì phát phúc, lại có Tả Hữu Thiên Đồng hội chiếu thì tài lộc thao thao bất tuyệt là Thượng Cục.
    Hạn có Văn Khúc có cả Liêm Dương Đà lạc hãm nếu không phải tai ắt họa ương.
    Nếu Mệnh ở nhược cung ắt năm đó chết.
     
  5. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    579. - TẢ - PHỤ
    Là Nam Bắc đẩu tinh thuộc Thổ là sao Thiện, phó tá Lệnh Quân Vương. Nếu gặp Phủ Tướng Sương Tham Vũ hội lại, hay có Hữu Bật đồng cung thì đại Phú Quí, Tài Quan song mỹ. Nếu gặp Dương Đà Hỏa Kỵ là Trung cục, ở cung Vượng là có nốt ruồi. Gặp Tam Sát ở hãm địa gia Cự Môn Thất Sát, Thiên Cơ là Hạ cục.
    Đàn bà Tả Phụ thủ Mệnh có Cát tinh thì vượng phu ích tử, làm Tăng đạo thì thanh khiết.
    NAM MỆNH
    Tả Phụ là Tôn Tinh hay dáng phúc, là người long lưu đôn hậu, thông kim bác cổ, có Tử Phủ Quyền Lộc Tham Vũ hội lại, làm Văn-quan, Vũ chức đều là thanh quí.
    Gặp Dương Đà Hỏa Linh ba phương chiếu lại, nếu có Tài Quan lại không phải triệu cát tường, lại gặp Liêm Phá Cự xung lại, nếu không bị thương tàn ắt bị yểu vong.
    Nữ phùng Tả phụ chủ người hiền hậu hay làm lụng siêng năng, có trí khí cao, lại hợp với Tử Vi và Thiên Phủ ắt được phong tặng kim khôi vinh diệu.
    Gặp Hỏa Đà thì bất lương, gặp Thất Sát, Phá Quân thọ không lâu, số phải bỏ chồng mới được phú túc người thông minh, về già còn lắm kẻ chuộng người yêu.




    HẠN
    Hạn gặp Tả Phù thì Phúc đầy, người thường thì giàu có thiên kim. Làm quan mà lại có Khoa Quyền chiếu thì chức vị được thăng lên Phò Tá Thánh Quân.
    Không nên gặp Sát tinh chủ bi ai, sầu khổ, gặp Hỏa Linh Không Kiếp thì tài phá nhân vong, công việc xung bại.
     
  6. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    580. - HỮU BẬT
    Là Nam Đẩu tinh thuộc Thổ, sao Thiện, là sao phò tá các lệnh của Tử Vi.
    Nhập miếu thì được hậu trọng thanh tú, cảnh vẻ thẳng thắn tâm tính khoan hồng, ưa điều phước thiện, người đa mưu túc kế, ở vào các cung khác là đáng phúc. Ở vào Tứ Mộ lại càng tốt thêm, nếu hội với Tử Phủ Tướng Xương Khúc thì chung thân phúc thọ, nếu gặp các Sát tinh và Dương Đà Hỏa Kỵ xung hợp là Phúc bạc cũng chưa đến nỗi là hung, nhưng có nốt ruồi kín, sẹo rỗ, thương tàn đái tật.
    Đàn bà có Hữu Bật tọa thủ Mệnh hội có Cát tinh là vượng phu ích tử tăng đạo thì thanh khiết.
    NAM MỆNH
    Hữu Bật với Thiên Cơ là Thượng tể tinh, mệnh phùng thì người trọng hậu tối thông minh, nếu không có Dương Đà Hỏa Kỵ hội, lại thêm Cát tinh là bậc Anh hùng cái thế Tài Quan đại quí.
    Hữu Bật là Tôn Tinh nhập Mệnh cung nếu có Sát Tinh là người thường. Gặp Dương Đà Không Kiếp nếu bị đái tật thì miễn tai hung.
    HẠN
    Hạn gặp Hữu Bật thì tốt vĩnh viễn là người có tài năng thì rất thịnh vượng, làm quan được cất nhắc, nhà sư thì vui cùng đạo đức. Sĩ thứ ắt được hiển danh. Gặp Hung tinh ắt khuynh gia bại sản, đến hết như người quét sạch, trăm sự đều bất thành. Học trò, nhà sư thì bị thương hại, tớ khinh Thầy, chủ phá gia tan nát.
     
  7. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    571. - LỘC - TỒN
    Là Bắc Đẩu tinh thuộc Thổ, là Tước ti, Quí tinh là người trì trọng tâm từ thiện, tình cảm trực, có tài cơ biến, đa học đa năng. Chủ Phú quí, là văn nhân có thanh danh; ở các cung khác thì đáng phúc, tiêu tai nạn, bỏ tổ tông. Ở Hãm địa thì giảm phúc. An ở cung Mệnh, Quan Lộc, Điền Trạch là Phúc Đức.
    Đàn bà là người thanh bạch, đẹp đẽ có trí khí đàn ông.
    NAM MỆNH
    Người Mệnh có Lộc Tồn tọa thủ thì có tính cương cường cứng rắn, trăm sự đều thành, làm Quan phải đổi, gặp Xương Khúc hội lại thì y Lộc thao thao, hiển đạt ở Môn đình.
    Nếu gặp Đà Hỏa ắt phúc bất toàn, gặp Thiên Cơ Không Kiếp Kỵ chỉ có nhà Sư mới được thanh nhàn.
    NỮ MỆNH
    Lộc Tồn an Mệnh gặp Tử Phủ thì trăm sự đều được yên ổn, lại gặp Đồng Trinh tất là hạng Phu Nhân.
    An ở cung Hãm có Không Kiếp Linh Hỏa thì tất là có tai nạn, nếu không có Cát Tinh đến chiếu thì vợ chồng ắt phải phân ly nhau không hợp.
    HẠN
    Hai hạn gặp Lộc Tồn chủ rất lành, làm việc cầu mưu ắt Cát Tường. Trong Sĩ Hoạn mà gặp thì bị nhiều sự thuyên chuyển thay đổi, thứ dân gặp thì được lương tiền đầy đủ.
    Gặp Lộc Tồn ắt được sống lâu, làm việc mưu kế vạn sự đều được vinh sương, lại gặp Khoa Quyền Tả Hữu thì giàu có đầy kho đụn, chủ Phú túc, về gả cưới ắt lại thêm con nối dõi, lại gia Khoa Lộc đồng cung ắt hưởng vinh hoa phúc hậu.
    Hạn gặp Lộc Mã giao trì chỉ sợ Kiếp Không, nếu lại có Thái Tuế và Ác Tinh xung chiếu thì hạn năm đó chắc chết.
    582. – KHÔI - VIỆT
    Là sao Thiên Ất Quí nhân thuộc Hỏa, an ở cung Thân Mệnh, lại được Cát tinh tam hợp thủ chiếu tất thiếu niên đăng khoa cập đề. Nếu gặp Hung Kỵ lại không phải là hạng Văn nhân quán thế, may ra làm được thầy giáo là cùng.
    Hạn mà gặp thì chủ thanh cao, danh thành lợi đậu.
    An ở Thân Mệnh nếu không Phú quí thì là người rất thông minh, tú lệ thanh bạch, có uy quyền mà người ta nể sợ, là người có dáng uy nghi.
    Đàn ông lại gặp được nhiều Cát tinh là Tể tướng, đàn bà là hạng Mệnh phụ tề gia nội trợ giỏi. Nếu gặp Hung Sát Tinh thì cũng chủ Phú quí.
    HẠN
    Khôi Việt ở Mệnh Thân mà hạn gặp thì được Cát sương người thường gặp thì lương tiền đầy đủ, làm quan thì đựơc lên cao chức phận, ắt định đương niên được chầu Đế Vương.
     
  8. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    583. – KÌNH – DƯƠNG
    Là Bắc Đẩu tinh thuộc Hỏa kim, là Phù Tinh (Phù: lớp ở ngoài) hóa Hình. Nhập miếu là Quyền Quí là người to mình thô, tính cương cường quả quyết, thích dũng mãnh, lắm cơ mưu, kiêu căng gian trá, Hoạnh lập công danh, thường đoạt quyền người Quân Tử.
    Người sinh hướng Tây Bắc là Hợp là Phúc. Mệnh nên ở Tứ Mộ là miếu địa, lại hội với Nhật Nguyệt là trai khắc vợ, gái khắc chồng. Hội với Xương Khúc Tả Hữu là có nốt ruồi kín, sẹo.
    Nếu ở Mão Dậu là Hãm địa thì tác họa thương tàn bị đui mù.
    Người sinh lục Giáp, lục Mậu, Mệnh cư Dần Thân có Kình Dương tọa thủ là cô đơn, không giữ được Tổ nghiệp mang hai họ thì sống lâu, làm nghề khéo léo.
    Gặp Liêm Cự Kỵ ở Hãm địa thì mang ám tật hoặc ở mặt, chân, tay có thương tàn, về già không tốt một đời hay chiêu hình họa bĩ.
    Đàn bà có Kình thủ Mệnh Thân miếu vượng là Quyền quí, ỡ hãm địa là thương phu khắc tử, có thêm Cô Hình Phá nữa là Hạ cách dâm dục.
    Cung Tý Ngọ Mão Dậu là hãm địa.
    Cung Dần là đắc địa.


    NAM MỆNH
    Trước Lộc Tồn một vị là Kình Dương, là Thượng Tướng mà gặp Kình Dương lại là thêm Phúc Lộc, quí nhân thủ chiếu là nắm giữ Bính Quyền Vạn lý giữ Hoàng gia.
    Người tính cương cường, Mệnh tọa Tứ Mộ có Kình Dương thì Phúc thọ trường cửu, nếu được Tử Phủ hội hợp thì giàu có đầy kho.
    Kình Dương mà lạc vào nhàn cung gặp Đà Hỏa xung chiếu là Hung, lại Thân Mệnh cùng có Kiếp Sát ắt bị chết giữa đường.
    NỮ MỆNH
    Đàn bà gặp sao Bắc Đẩu Phù tinh lại có Hỏa Cơ Cự Kỵ ắt là hạng thường. Ba phương có xung sát chiếu lại không yểu triết thì cũng bà đào giang hồ.

    HẠN
    Gặp ở hai hạn phải xem cho kỹ, người sinh năm Thìn Tuất Sửu Mùi ắt miễn được tai ương, được Tài Quan hiển đạt, phúc được lâu dài.
    Gặp Kình Dương ở Thiên La (cung Thìn) và ở Địa Võng (cung Tuất) hai hạn gặp nhau thì hoạn lớn. Nếu Mệnh cung Chủ Tinh suy nhược thì chỉ đau một bịnh là chết.
    Kình Dương gia Sát tinh thật là hung.
    Hai hạn gặp ở trong cung hãm thì khắc Tử hình Thê bán ruộng nhà, bị Đồ, Lưu Sứ hay lìa vợ mà tùng chinh.
    584. – ĐÀ – LA
    Là Bắc đẩu tinh thuộc Hỏa đái kim, hóa Kỵ Tinh. Nhập miếu ở cung Thân Mệnh là người “hùng”, tính ương ngạnh thô tục. Gặp Phá Tướng là người trí khí cao cường hoạnh phát, hoạnh phá, không giữ được Tổ nghiệp, là người lông bông, vô nghề nghiệp, hối hận ăn năn, hữu thủy vô chung. Người ở Tây Bắc thì hợp là Phúc. Người sinh Thìn Tuất Sửu Mùi, hay Mệnh tọa ở Tứ Mộ Cung có Cát tinh thì nhiều là Phúc hội với Nhật Nguyệt (2 sao kỵ nhất) thì trai khắc vợ, gái khắc chồng, lại gặp Hóa Kỵ nữa là người đui mù. Hội với Tả Hữu Xương Khúc có nốt ruồi kín. Nếu không có chính tinh mà một mình Đà La thủ Mệnh là người Cô đơn bỏ tổ tông, thay họ, giỏi về công nghệ, hoạt bác. Nếu ở Hãm cung phùng Cự Sát tất thương Thê khắc Tử, bội nghĩa lục Thân và còn thương Thê khắc Tử, bội nghĩa lục Thân, và còn thương tàn đái tật, làm tăng đạo thì tốt.
    Đàn bà thì trong bụng như lang sói, ngoài thì giả dối, thương Phu khắc Tử, bất hòa lục Thân không còn có Liêm sĩ nữa.
    Cung Thìn Tuất Sửu Mùi là nhập miếu, người sinh Thìn Tuất Sửu Mùi là lợi.
    Cung Dần Thân Tị Hợi là hãm địa.
    NAM MỆNH
    Mệnh có Đà La thì hợp với người sinh năm Tứ Mộ được Tử Phủ Sương hợp thì Tài Lộc được phong dinh, danh giá lừng lẫy
    Đà La ở hãm địa thì khỏi nói sự hung hại, nào khẩu thiệt, quan phi một đời không hết, tài tán người ly, Thành cô độc, làm sự gì cũng không vừa lòng.
    NỮ MỆNH
    Đàn bà mà gặp Đà La, gặp được Cát tinh thì người hình dung, dâm đãng, lại có Hung Sát ba phương cùng chiếu phá, nên phòng sự biệt ly.
    HẠN
    Hạn gặp Đà La thì sự lôi thôi rất nhiều, tất nhiên phải nhẫn nại và cần phai khiêm hòa nếu không có Cát diệu chiếu hợp thì chỉ “Nhất Mộng Nhập Nam Kha” (chết) Kình Đà mà Giáp Thân Mệnh lại có Hỏa Linh Không Kiếp và Thiên Tướng thì hình Thê khắc Tử không lành vậy
     
  9. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    585. - HỎA TINH
    Là Nam đẩu Phù tinh thuộc Hỏa, là người tính cương cường xuất chúng, môi răng và chân tay có thương tích, lông tóc kỳ lạ, hình dáng khác nhau. Lâm vào các cung đều là không tốt, chỉ duy có sao Tham Lang ở Miếu vượng địa ắt có ngay lập Võ công ở biên thùy là Tài Quan cách; người sinh ở Đông Nam phương thì lợi, không lợi cho người ở Tây Bắc phương và người sinh năm Dần, Mão, Tị, Ngọ thì hợp họa nhỏ.
    Lại có Kình Dương thì cường bạo tai nguy, có khắc là Hạ cục, mang hai họ thì đỡ tai ương.
    Đàn bà thì tâm độc, trong lòng như lang sói, ngoài thì không thực, hình Phu khắc Tử, Mệnh đàn bà không nên gặp Hỏa Tinh, nếu có thì nhiều thị phi dâm dục hạ tiện.
    Người sinh năm Dần Ngọ Tuất thì vừa vừa, có họa nhỏ.
    Người sinh năm Thân Tý Thìn là Lạc hãm thì tai hại hối lẫn khốn cùng.
    Người sinh năm Tị Dậu Sửu là đắc địa thì tốt.
    Người sinh năm Hợi Mão Mùi là lợi ích thì tốt phát phúc nhiều.

    HẠN
    Hạn có Hỏa Tinh đắc địa là có sự vui vẻ đầy nhà, mọi sự đều được hanh thông, làm quan thì phát phúc, thứ dân thì tiền tài phong phú.
    Hỏa tinh là một sao có tính cách tráo trở, ở hãm địa thì tự nhiên bị quan tai nguy hiểm, khắc hại lục thân, không tránh khỏi phá tài, gian lao tâm khổ.
    586. - LINH TINH
    Là Nam Đẩu Phù Tinh thuộc Hỏa, tính độc ác, Hình thần phá tướng, có gan lớn hơn người.
    Người sinh năm Dần Ngọ Tuất là có Quyền Quí.
    Người sinh hướng Đông Nam thì cũng lợi và hạn đến thì Phúc đức. Người sinh hướng Tây Bắc thì hạn thành rồi bại tuy phú quí mà không bền. Nhập miếu ngộ Tham Lang Vũ Khúc thì làm Tướng trấn biên di, lại hội với Tử Phủ Tả Hữu không Quí thì Phúc. Như hãm Yểu Triết phá tướng, thọ nhưng phải ly tổ làm con nuôi họ khác.
    Đàn bà thì tính tình cương ngạnh, nghịch với Lục Thân thương hại, chồng con, gặp được sao tốt nhiều thì được Phong túc.

    HẠN
    Hạn gặp Linh Tinh hội với Tham Lang thì Phúc rất nhiều, nhập miếu lại gặp nhiều sao tốt thì Phú quí rất lớn, tiếng tăm xa gần nơi nơi đều ca tụng.
    Ở nơi hãm địa là một sao không thể đương nổi, hạn gặp chắc phải điên cuồng, không có sao tốt chiếu hội, chưa tránh được tai này thì họa kia đã tới.
    587. - HỎA LINH an NAM MỆNH
    Ở Miếu địa thì nên gặp Tử Phủ Tham Lang là người tính mau mắn có uy quyền trấn giữ ở Biên thùy sau ắt quí.
    Hai sao tại Mệnh lạc vào nhàn cung, người sinh ở Tây Bắc phương là người thường thường ắt bị phá tán gia tài rất mau, mang tật thì tránh được họa hung.
    NỮ MỆNH
    Có Hỏa Linh an Mệnh ngộ Tham Lang thì được vui vẻ, hòa khí. Ba phương hợp lại không có Sát Tinh thì việc gì cũng đẹp đẽ, con nhà khuê cát ắt được toại lòng ước mong.
    Hỏa Linh Lạc hãm ắt đương không nổi, nữ Mệnh mà gặp thì chủ thương tàn, ba phương chiếu lại có nhiều Sát tinh, phải phòng kẻ dưới phản trắc giết chết.
    HẠN
    Hạn gặp Hỏa Linh cùng Tham Lang tương hội thì Phúc rất nhiều, lại được Cát tinh thì nhiều Quyền Bính, phú quí thanh danh xứ xứ ca.
    Ở hãm địa thì bịnh nhọt, ứ huyết sâm. Mất mác không thể kiểm, khẩu thiệt quan tai không tránh được.
     
  10. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    588. - ĐỊA - KIẾP
    Là Thần Kiếp Sát thuộc Hỏa, tính cẩn thận, hậu trọng làm việc như điên cuồng, động tĩnh thì tăng ác không theo chính đạo, làm việc gian tà, có Cát tinh hội chiếu thì hợp nhỏ, gia cát ít thì yểu vong.
    Đàn bà gặp thì bỏ chồng, làm nô tỳ ca kỹ mà thôi.
    NHẬP MỆNH
    An ở Mệnh là chủ phát tật, bị nhiều điều buồn bực tức tối. Nếu lại gặp Dương Hỏa thì bị cay đắng, trong nhà phải phòng nội thất (vợ).
    HẠN
    Hạn phùng Địa Kiếp ắt trong năm có họa nguy. Gặp thêm Thái Tuế và Sát tinh ắt nhiều Tật nguy, gặp sao Quan phù là có việc mang đến cửa Quan.



    589. – THIÊN – KHÔNG (Thiên Địa Tuần Triệt Không)
    Là Thần Không Vong, an ở Thân Mệnh là người tính tôn trọng cẩn hậu, làm việc thì đến hư hỏng, không theo chính đạo, thành bại đa đoan bất tụ tài, xa tổ ấm thì Vinh sương. Gặp nhiều Không thì không tốt gọi là Đoạn Kiều (gẫy cầu tức là bỏ chồng hay vợ) thì mới tốt, ắt họa nhẹ. Có Sát tinh ít là người thường, nhiều là hạ tiện.
    Xem Thái-Tuế trong hai hạn có Chính Diệu gia Cát tinh thì bình an. Trong Kinh nói rằng: “Nam Liệt Anh Hùng vận đáo Thiên Không nhi táng Quốc”. (Anh hùng hạn đến Thiên Không thì mất nước).
    Đàn bà thì đơn thủ chỉ là hạng bỏ chồng, nô tỳ, ca kỷ.
    NHẬP MỆNH
    Mệnh có Thiên Không tọa thủ là người Xuất gia. Gặp Văn Xương Thiên Tướng ắt có thể chế hóa được.
    Nếu gặp Tứ Sát đồng ở Thân Mệnh là người phải có âm đức nhiều thì mới có phúc được.
    HẠN
    Hạn gặp Thiên Không là phá điền trang không thì vợ con bị thương tổn. Tài bạch không được hanh thông còn bại thất. Người Mệnh Thân ở tuyệt địa mà gặp hạn này chắc chết.
    HẠN KIẾP KHÔNG
    Tử Vi cư Mão Dậu lại có Kiếp Không lâm vào thì làm tăng Đạo được phúc hưng long, vui cùng non nước ắt cao tăng, hưởng được phúc thọ song toàn.
    Hai hạn gặp Kiếp Không ắt bị trái lòng như Đức Phu Tử bị nhịn đói ở nước Trần, Hạng Vũ anh hùng mà mất nước, Lục Châu gặp hạn này mà ngã lầu chết.
    591 – THIÊN – THƯƠNG
    Là tuần hư hao thuộc Thủy, lâm nhị hạn Thái Tuế không cần đắc địa hay không, chỉ cần xem các sao ở ba phương chiếu lại mà tốt thì có thể tốt được.
    Nếu gặp Mệnh vo chính diệu lại có Dương Hỏa Cự Cơ tất chủ quan tai, tang chế phá tài, nhiều chuyện lôi thôi.
    592. – THIÊN SỨ
    Là Chuyển-Sứ tinh (mang sứ mạng) thuộc Thủy, thẩm xét cái lý do Họa phúc của nhân gian. Nếu nhị hạn Thái Tuế lâm vào có Cát tinh nhiều thì họa ít, nếu không có Chính Tinh lại có Kỵ Cự Dương Hỏa ắt bị quan tai, vong tán, có việc bất ngờ mà khuynh gia bại sản.
    593. – THƯƠNG SỨ NHẬP HẠN
    Có bốn câu thơ:
    Thiên Hao thủ Mệnh hiện Thiên-Thương
    Phu Tử tại Trần dã tuyệt lương
    Thiên Sứ hạn làm nhân cộng Kỵ,
    Thạch Sùng hào phú phá gia vong
    Nghĩa là: Hạn gặp Thiên Thương gọi là Thiên Hao là như Đức Phu Tử gặp ắt bị tuyệt lương ở nước Trần.
    Sao Thiên Sứ lâm hạn lại gặp Hóa Kỵ
    Giàu có như Thạch Sùng cũng bị phá gia bại sản.
    594. – THIÊN – MÃ
    Thuộc Mã, tối hỉ hội với Lộc Tồn, rất Kỵ gặp Triệt Lộ Không Vong. Như Mệnh an ở cung Thìn Tuất Sửu Mùi ngộ Thiên Mã ở cung Dần Thân Tị Hợi tại cung Phu hay Thê gia Cát tinh hội lại thì Phú Quí, gia Sát tinh thì bắt mỹ, gia Quyền Lộc chiếu lâm thì chủ trại làm quan, gái được phong tặng.
    HẠN
    Hạn gặp Thiên Mã thì Cát tường, gặp Tử Phủ Lộc Tồn thì tốt vô cùng, làm Quan thì hiển đạt, học trò thi đỗ đạt. Thiên Mã thủ hạn không đắc địa lại sợ Kiếp Không ngộ chiếu lại có Thái Tuế đồng cung hạn đến thì chết.
     
  11. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    595. – HÓA LỘC
    Là Thần Phúc đức thuộc Thổ, thủ Thân Mệnh là người làm Quan, được Khoa Quyền tương ngộ thì làm đến Đại Thần. Tiểu hạn mà gặp thì chủ sự vui mừng, kẻ sĩ gặp ắt được tiến cữ và biệt đãi, đại hạn thì được 10 năm Cát-Khánh, nếu gặp Cát tinh lai lâm lại có cả Dương Hỏa Kỵ xung chiếu thì cũng không hại.
    Đàn bà có Hóa Lộc thủ Thân Mệnh lại Gia cát tinh chiếu là bậc Mệnh Phụ, trong ngoài uy nghiêm, gặp Sát tinh thì bình thường.
    NHẬP MỆNH
    An Mệnh có Hóa Lộc thì tuổi nào cũng được Vinh hiển trai thì hưởng phúc, làm Võ quan được nổi tiếng trên bãi chiến trường, là Văn nhân có danh dự cả Triều đình.
    Lộc thủ Mệnh có Thiên Đồng ngộ Thái Dương thường nhân thì Đại phúc, ruộng nhà dư, huê lợi tiền tài, lục súc đều sinh vượng, việc gì cũng được Cát tường.
    HẠN
    Hạn gặp thì chức vị được lên cao, ở bên phò tá Thánh Minh, thường dân thì đại quí tự nhiên được hưởng nhiều kim ngân châu báu.
    596. – HÓA - QUYỀN
    Là Thần cầm quyền sinh sát thuộc Mộc thủ Thân Mệnh có Khoa Lộc tương nghinh là cách Xuất Tướng nhập Tướng, hội với Cự Vũ tất chuyên đại sự trưởng ba quân, là người hình cổ quái nhưng đi đến đâu người ta cũng khâm phục kính nể. Tiểu hạn mà gặp ắt chuyện gì cũng tốt. Đại hạn thì được 10 năm tọai lòng, gặp hung tinh cũng không bị tai họa. Như gặp Dương Đà Hao Sứ Không Kiếp thì nghe thấy những sự chê trách về con cái, hay bị quan tai trách phạt.
    Đàn bà mà gặp Hóa Quyền thủ thân Mệnh thì trong ngoài đều xứng ý tọai lòng. Làm tăng đạo thì cai quản chùa chiền ở nơi Sơn lâm làm đến cao Tăng Sư hiệu.
    NAM MỆNH
    Sao Hóa Quyền thủ Mệnh mà có nhiều Cát tinh phù tả thì sự nghiệp được to lớn đẹp đẽ, người thì gan dạ hiên ngang. Lại gặp Cự Liêm Vũ ở ba phương chiếu lại là trấn thủ biên cương chỉ huy binh lãnh.



    NỮ MỆNH
    Mệnh đàn bà nên gặp được nhiều sao tốt lâm chiếu thì Y lộc đầy đủ, phú quí song toàn, nhưng tính ương ngạnh, cướp cả quyền chồng, có phúc hưng thịnh.
    HẠN
    Hạn gặp Sao này thì tốt vô cùng, Quan lộc được cao thăng phò tá Đế quân Tài bạch càng nhiều, nên làm nghề đao kiếm, theo Tiểu hạn thì đương niên gia đạo được an khang.
    Sao Hóa Quyền lại gặp Vũ Tham, làm việc hay mưu sự thành việc hoàn toàn, người sinh năm Nhâm Tý thì Phúc Lộc càng cao thêm, người thường thì hưởng vàng bạc nhiều.
    597. – HÓA – KHOA
    Là Thần Văn Chương, chủ về Thi Cư thuộc Thủy. Thủ Thân Mệnh có Quyền Lộc tương phùng là người thông minh gặp Khôi Việt thì tốt lắm, chắc thi cữ đỗ cao làm đến Đại Thần, như ngộ Á Tinh cũng là nhà Văn chương Tú Sĩ, quần anh mô phạm, chỉ hiềm gặp Triệt Lộ Không Vong, Tuần Không, Thiên Không thì không tốt.
    Mệnh đàn bà có Hóa Khoa thủ tọa ắt vào bậc Công Khanh Phụ Nữ, duy chỉ có Tứ Sát xung phá thì chủ bình thường.
    NAM MỆNH
    Là người học hành văn hay chữ tốt, bao tàng cẩm tú, một bước làm đến Công Khanh trong triều đình, dạy học thì được thanh danh Vinh hiển.
    Có Hóa Khoa thủ Mệnh mới thấy cho là tầm thường nhưng là bậc tài khoa cẩm tú, gặp được Xương Khúc Khôi Việt ắt một bước lên đến Đại Thần, danh giá vang lừng.
    NỮ MỆNH
    An ở Thân Mệnh đàn bà, là người hiền lương. Tứ Đức kiêm toàn, tính cách thanh tao, lại gặp Cát tinh có Quyền Lộc cũng chiếu thì chồng Vinh hiển, và có Quí tử là bậc phu nhân.
    HẠN
    Có Hóa Khoa lâm hai hạn gặp Văn Xương, Sĩ Tử mà gặp thì tên tuổi lẫy lừng đỗ đạt cao. Thứ dân thì phú quí nhiều. Trăm sự được hài lòng, công việc được anh hương hiển đạt.
     
  12. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    589. – HÓA - KỴ
    Là Thần Quan Thủ thuộc Thủy. Thủ Thân Mệnh là người nhất sinh chẳng đẹp lòng, tự chiêu lấy thị phi. Tiểu hạn mà gặp là một năm không đủ gì cả. Đại hạn thì 10 năm hôi lẫn, Nhị hạn mà lại gặp Thái Tuế giao làm với Hóa Kỵ là người ngẩn ngơ, văn nhân vơ vẩn, vũ nhân thì vướng phải Quan tai khẩu thiệt, đi buôn, làm công nghệ ở nơi mình sinh thì không nên gì, khó mà lập nghiệp được.
    Như gặp được Tử Phủ Xương Khúc Đồng Hữu thì lợi. Sao Quyền Lộc với Kỵ đồng cung lại có Dương Hỏa Linh Không là người làm việc hoạnh phát hoạnh phá, thủy chung không được lâu dài, có phát tài cũng không đậu, nhất sinh là bôn ba cực khổ, hoặc đái tật bần yểu.
    Tăng đạo mà gặp thì hoàn tục, nhưng có sao Thiên Đồng ở cung Tuất gặp Kỵ người sinh năm Đinh thì lại tốt. Sao Cự Môn ở cung Thìn có Kỵ người sinh năm Tân thì trái lòng không đẹp.
    Thái Dương ở cung Dần Mão Thìn Tị Ngọ gặp Hóa Kỵ, Thái Âm ở cung Dậu Tuất Hợi Tý gặp Hóa Kỵ là họa, nếu Nhật Nguyệt ở hãm địa có Hóa Kỵ thì đại hung.
    Sao Liêm Trinh ở cung Hợi thì cũng như sao Hóa Kỵ, ảnh hưởng giống nhau, sao thuộc hỏa nhập Tuyền Hương là cung Hợi (Thủy) người Thủy Mệnh mà gặp thì không hại.
    NAM MỆNH
    Trong các sao thì Mệnh không nên gặp Hóa Kỵ, lại gặp hung tinh như Tứ Hung, nếu có Cát tinh trợ cứu thì cũng được Phú Quí nhưng không nhiều. Như Tham Phá cư hãm địa gặp Cát tinh có Hóa Kỵ, sau cũng không lợi, trai thì trộm cướp, gái đa dâm, gia thêm Sát chiếu Mệnh là quân đạo thích ăn đêm.
    NỮ MỆNH
    Đàn bà Mệnh có Hóa Kỵ tọa thủ cũng chẳng lạ gì, nếu gặp hung tinh ắt là cơ họa hại, phải cực khổ lao đao mới kiếm được ăn, rất là bần tiện. Nếu có Cát tinh cũng chiếu thì giảm được tai nguy.
    HẠN
    Hạn gặp Kỵ nhập miếu thì phản phúc, nếu bị quan tai thì không bị thương bại, lên xuống công danh không được toại ý, gặp được Cát Tinh thì được an khang, hai hạn có Không và Kỵ, từ tai đến họa liên miên ắt nhà bị khuynh đảm làm quan thì bị giáng chức vì ăn hối lộ, làm thơ lại nên phòng hình phạt tù trượng.
    Hóa Kỵ lạc hãm ở nhàn cung, có Ác Sát tinh lâm vào là họa hung, tài tán người nghiệt nhiều tật khổ, quan chức thì bị giáng chức, tang khó trùng trùng.
    599. - MẤY CÁCH VỀ TỨ HÓA NÊN BIẾT
    Như: Lộc hội Lộc Tồn thì Phú quí hay cách Song Lộc. Quyền hội Cự Vũ là anh dương, có danh tiếng lớn lao.
    Khoa hội Khôi Việt là quí hiển.
    Kỵ hội Thân Mệnh là chiêu thị phi.
    600. – THÁi - TUẾ
    Hay là Tuế Quân thuộc Hỏa, gọi là Lưu niên Thái Tuế tinh quân, hội với hung tinh nên gặp Kỵ, nếu gặp ắt bị thương tổn về người trong nhà.
    Hai hạn tương xung lại gặp Tử Phủ Xương Khúc Tả Hữu Khôi Việt, cát tinh cứu trợ thì tai nạn ít chỉ nên đề phòng lục súc nuôi trong nhà, mất hay chết. Nếu gặp Dương Đà Hỏa Linh Kiếp Không Thương Sứ ắt bị Tài phá Thân vong.
    Đàn bà gặp thì phòng đẻ khó mà có khi nguy đến tính mạng, có cứu được cũng bị nhiều sự nguy hại.
    Gặp sao Thái Tuế trong hạn ít khi đương nổi ảnh hưởng của nó, làm Quan cần phải xem kỹ, nếu không có Cát tinh cứu trợ ắt không tránh được quan tai làm náo động tất cả.
     
  13. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    601. – II. HUYNH - ĐỆ
    Có sao Tử Vi thì có Anh trên mình, lại cả Sao Thiên Phủ nữa là có 3 người, cùng có Thiên Tướng là 3, 4 người, gặp Phá Quân cũng có 3 hoặc anh em dị bào gia thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì chắc hại nhưng sau cũng có thể hòa thuận.
    Thiên Cơ miếu vượng có hai người, Thái Âm có hai, ba người. Gặp Dương Đà Hỏa Linh tuy có mà khắc hại nhau.
    Thái Dương miếu vượng là có ba người, cùng với Cự Môn không có Sát tinh có ba người cùng với Thái Âm có năm người, ở hãm địa là bất hòa rất lâu, thêm có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp bị khắc giảm đi phân nữa.
    Vũ Khúc miếu vượng là có hai người không hợp nhau ở hãm địa Gia Sát thì có một cùng với Thiên Tướng có hai người, có Phá Quân Thất Sát là có một người mà có Xương Khúc Tả Hữu là có ba người có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì cô đơn.
    Thiên Đồng nhập miếu là bốn, năm người cùng với Thiên Lương là hai, ba người với Cự Môn không có Sát tinh là ba người. Với Thái Âm là bốn, năm người ỡ hãm địa chỉ có hai người, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ thì được phân nữa bất hòa.
    Liêm Trinh nhập miếu là có hai người, gặp Tham Lang có chiêu oán nhau, gặp Thiên Tướng là có hai người gặp Thất Sát có một người, gặp Thiên Phủ Tả Hữu Xương Khúc có ba người, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp khắc và bất hòa nhau.
    Thiên Phủ là có 5 người, gặp Tử Vi thêm Tả Hữu Xương Khúc có 6, 7 người, gặp Liêm Trinh có 3 người, gặp Dương Đà Hỏa Linh chỉ có 2.
    Thái Âm nhập miếu có 6 người, gặp Thái Dương có 5, 6 người. Gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là giảm một nữa, khắc nghịch nhau, nên ở riêng.
    Tham Lang miếu vượng có hai người, hãm địa có nhưng là anh em dị bào, gặp Liêm Trinh thì bất hòa, có Tử Vi là 3 người, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là cô đơn.
    Cự Môn miếu vượng là 2 người, hãm địa là dị bào nên ở riêng, có Thái Dương gia thêm Tả Hữu, Xương Khúc có 3 người. Có Thiên Cơ là hai người trái ý nhau, không đồng tâm hợp ý. Gặp Thiên Đồng là có 2, 3 người gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là cô chắc.
    Thiên Tướng hòa bình có 2, 3 người, có Vũ Khúc là 2 người, có Liêm Trinh là 2 người, gặp Kinh Đà Linh Hỏa Kiếp Không thì cô đơn.
    Thiên Lương miếu vượng là có 2 người hòa thuận nhau hoặc nhiều thì không phải cùng Cha khác Mẹ lại bất hòa. Ở Hãm cung là không có, Thiên Đồng là có 3 người, cùng Thiên Cơ có 2 người, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì ít vậy.
    Thất Sát chủ cô khắc, Tý Ngọ Dần Thân thì có 3 người nhưng bất hòa nhau, mỗi người một nơi, gia thêm Xương Khúc Tả Hữu thì lại tốt với nhau.
    Phá Quân nhập miếu là có 3 người, hãm địa gia Sát là cô đơn, cùng Vũ Khúc có 2 người, cùng Tử Vi có 2 người, cùng Liêm Trinh có 1 người, gia Xương Khúc Tả Hữu có 3 người hòa hợp nhau, Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì cô đơn.
    Văn Xương Văn Khúc, ở các cung là có 3 người gặp Đà Hỏa Linh miếu vượng là không khắc, hãm địa là cô đơn, thêm Không Kiếp là hoàn toàn không có.
    Tả Phủ, có 3 người, có Thiên Đồng Xương Khúc có 4, 5 người, gia Dương Đà Hỏa Linh có 2 người, gặp Không Kiếp thì bất hòa lâu.
    Hữu Bật có 3 người, cùng với Thiên Đồng, Xương Khúc là có 4, 5 người, gia Dương Đà Hỏa Linh thì có 2 người, có Không Kiếp thì bất hòa.
    Lộc Tồn được ở cung Miếu vượng thì có anh em gặp Sát tinh thì khắc hại và chiêu oán.
    Dương Đà là khắc hại nhau, nhập miếu có 1 người có nhiều Cát tinh chiếu thì 2, 3 người ở hãm địa thì toàn không.
    Hỏa tinh nhập miếu có Cát tinh thì có 1, 2 người, gia Liêm Sát Phá Linh thì Cô khắc.
    Linh Tinh nhập miếu tượng sinh thì có anh em gia Dương Đà Hỏa Không Kiếp thì không có.
    Hạn ở cung Huynh Đệ đến độ đó mà gặp Cát tinh thì anh em hòa thuận được một năm, gặp Hung sát đó hình khắc nếu không thì anh em tranh giành nhau.
     
  14. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    602. – III. THÊ THIẾP HAY PHU
    Tử Vi là bách niên giai lão, tính tình cứng cỏi, cùng Thiên Phủ thì giai lão, Cùng Thiên Tướng thì hồi nhỏ tuổi êm đẹp, Cùng Phá thì hình khắc, gia Dương Đà Hỏa Linh Hình Tham có Cát tinh chiếu thì tránh được Hình.
    Thiên Cơ là lúc nhỏ tuổi vợ hay chồng tính cương cường, phải chồng là con trưởng, gia Dương Đà Hỏa Linh chủ sinh ly, nhiều tuổi hãy lấy nhau thì tốt, cùng Thiên Lương là nên lấy người trong tuổi, cùng Thái Âm là vợ đẹp, cùng Thái Dương miếu vượng thong thả hãy cưới thì tốt, sớm thì khắc nhau, nhưng khi cưới vợ rồi thì được quí hiển, với Thiên Lương gia Tả Hữu, vợ là hạng kén Chồng cùng Thái Âm là người nội trợ giỏi, cùng Cự Môn không có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì không khắc, có Tử Sát phản lại là khắc, gặp Hao là phi lễ thành hôn (vợ chồng theo nhau không cưới xin).
    Vũ Khúc là trái lòng lại khắc hại, nên chậm hãy cưới người cùng tuổi tương đương nhau, gia Cát tinh là nhân lấy vợ thì có tiền tài giàu có, nếu gặp Hung tinh là nhân khi cưới vợ thì khuynh gia bại sản.
    Gặp Tham Lang là nên chậm lấy nhau ắt khỏi hình khắc.
    Gặp Thất Sát thì khắc 2, 3 đời, gia thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì khắc lắm.
    Thiên Đồng, chậm cưới thì được bách niên giai lão, chồng nên là con Trưởng, vợ nên là Thứ, thêm Tứ Sát thì lâu mới hòa thuận, bị sinh ly. Gặp Cự Môn với Tứ Sát cũng khắc. Gặp Thái Âm là vợ đẹp, gặp Thiên Lương thì vợ chồng cực mỹ.
    Liêm Trinh là chồng hay vợ phải 3 lần, với Tham Lang lại càng khắc, với Thất Sát là hình và lâu hòa hợp, gia Dương Đà Hỏa Linh chủ sinh ly, gặp Thiên Phủ thì giai lão tính cương cường mà không khắc.
    Thái Dương được tương sinh thương yêu nhau lắm chồng chủ Quí, gặp Duơng Đà Hỏa Linh Không Kiếp chậm hãy cưới thì tránh được hình, trọng tuổi cưới ắt được giai lão.
    Thái Âm nhập miếu trai gái đều quí, vợ chồng đẹp đẽ, gia Xương Khúc thì cực đẹp, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, Hóa Kỵ không khắc thì chủ sinh ly. Cùng có Thái Dương thì giai lão, cùng Thiên Đồng là nội trợ giỏi gặp Thiên Cơ thì hồi niên thiếu được mỹ hảo.
    Tham Lang là trai gái không được mỹ mãn, ba lần làm dễ, nếu nhập miếu thì nên chậm cưới, gặp Liêm Trinh là chủ khắc, gia Dương Đà Hỏa Linh chủ sinh ly, có Tử Vi thì trong tuổi có thể đối được sự hung hại.
    Cự Môn nên là người trọng tuổi, là khắc lâu mới hợp có Thái Dương mà không gặp Tứ Sát thì được giai lão. Cùng Thiên Cơ là vợ đẹp, gặp Thiên Đồng là vợ thông minh, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là khắc 2 vợ hoặc chủ sinh ly.
    Thiên Tướng là người mặt đẹp đẽ, đầy đặn, hiền lương, chồng nên nhiều tuổi hơn, lấy người trong thân thuộc gặp Tử Vi thì giai lão, cùng Vũ Khúc là hồi trẻ thì hòa thuận, cùng Liêm Trinh nhập miếu thì hình khắc gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là hình khắc.
    Thiên Lương thì vợ đẹp, với Thiên Đồng là có hòa khí, cùng Thiên Cơ thì hiền lành đẹp đẽ, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì thai đựng không hòa thuận.
    Thất Sát mới thì khắc, với Vũ Khúc cũng khắc, chậm cưới thì miễn hình, cùng Liêm Trinh chủ sinh ly gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là khắc 3 đời vợ hay chồng.
    Phá Quân, Trai gái đều khắc, không cưới xin chủ sinh ly, có Vũ Khúc thì khắc 3 đời, có Liêm Trinh cũng khắc lâu hòa, có Tử Vi thì nên lấy vợ người lớn tuổi hơn.
    Văn Xương là vợ trẻ, nội trợ thông minh, có Thiên Cơ Thái Âm chủ người tươi đẹp, không nên lạc Hãm gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là tối Kỵ.
    Văn Khúc tương sinh hội với Thái Âm có Cát tinh chiếu là giai lão, cùng Văn Xương là người đa tình đa cảm thê thiếp nhiều, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ thì khắc, lạc hãm là người mặt rỗ.
    Lộc Tồn tương sinh không khắc. Vợ nên ít tuổi và chậm cưới, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Triệt Lộ Không Vong là cô đơn.
    Tả Phụ - Hữu Bật là giai lão, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Tham Liêm, vợ là người nhiều tuổi tính cương ngạnh gặp Dương Đà nhập miếu gia Cát tinh chậm cưới thì miễn hình hoặc lâu mới hòa, hãm địa thì sớm khắc, gia Nhật Nguyệt Cự Cơ Hỏa Linh Vũ Sát chủ sinh ly.
    Hỏa Linh nhập miếu gia Cát tinh thì không bị hình khắc, hãm địa thì hình khắc không tránh được.
    Khôi Việt chủ vợ chồng đẹp đẽ, cư cung Thê tất chủ được vợ giàu có, gia Cát Tinh là chủ vợ chồng vừa quí vừa đẹp đẽ.
    Đẩu Quân an ở cung Thê Phùng Cát Tinh thì thê thiếp đẹp đẽ không bị tai khắc, gặp ác tinh thì thê thiếp bị tai nguy, lại phải xem cung bản Mệnh và cung Thê, nếu lưu niên ở cung Thê có Đẩu Quân và Ác tinh chủ năm đó hình thương Thê thiếp. Nếu không khắc thì năm đó ắt có tai nạn
     
  15. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    608. – IV. TỬ TỨC
    Tử - Tức ca:
    Trường Sinh bát (8) tử Tuần trung báu,
    Mộc dục thất (7) chi sinh ngũ (5) tồn,
    Quan-đái Lâm-quan tam (3) tứ (4) vị,
    Đế-vượng ngũ (5) tử, Bệnh trung nhất (1).
    Tử cung hình khắc sự nan ngôn.
    Mộ trung Thai Dưỡng chung sanh tử.
    Tuyệt trung nhất (1) chi tử mục hôn,
    Thai trung đầu nữ nhị (2) chi nhất (1)
    Dưỡng cung tam (3) tử nhị (2) miếu tồn.
    Trên đây là bài ca xem theo giây Sao Tràng Sinh mà đoán. Số đoán bao nhiêu người con theo trên này mà không nhất định còn phải xem ảnh hưởng coi Sao Chính tọa thủ chiếu hợp cung Tử Tức, gia đảm theo miếu, hãm, vượng suy.
    Giải nghĩa:
    Cung Tử-Tức có sao Tràng sinh đóng là có 8 người con, nếu có Tuần đóng thì bị giảm một nữa.
    Có Mộc dục là 7 người còn 5
    Có Quan-đái Lâm-quan được 3 người
    Có Đế Vượng là có 5 người
    Có Suy là 3, có Bệnh là 1.
    Có Tử là bị hình khắc không nói được.
    Có Mộ Thai Dưỡng sau chắc có con.
    Có Tuyệt có 1 người bị mù.
    Có Thai thì có 2 gái còn 1.
    Có Dưỡng thì có 3 con còn 2
    Xem các sao Cát Hung Tinh, miếu vượng lạc hãm thế nào mà đoán cho hợp Kiền Khôn. Các sao lưu chuyển phải xem cung độ.
    Sao Nam Đẩu thì chỉ con Trai.
    Sao Bắc Đẩu là chỉ con Gái.
    Đó là Thần Thông biến hóa cái cơ vi của Đẩu Số
    Nhưng Dương tinh ở cung dương thì sớm có con trai.
    Âm tinh ở cung Âm thì sinh gái trước.
    Người sinh ban ngày thì kỵ nhất cung Tử Tức có Thái Dương bị hãm hay có Thái Âm chiếu
    Người sinh ban đêm sợ nhất Thái Âm hãm ở cung Tử Tức hay có Thái Dương chiếu. Như trên sau chết không con.
    Phàm các cung Vô chính diệu thì xem đối cung.
    Nếu các cung có Chính diệu được miếu vượng mà bị Tuần hay Triệt thì tính cách lại phản ngược lại.
    Phàm xem Tử-Tức thì phải xem bản cung và các sao chủ có mấy người. Nếu gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ là chủ sinh con thì có sự hình khắc. Sau xem đối cung có bị xung, hình bĩ. Như bản cung không có chính diệu thì chuyện xem đối cung có sao gì chủ có mấy con. Nếu được Cát tinh, quí tinh thủ Tử-Tức ắt chủ con cái về sau Vinh sương quí hiển. Nếu có nhiều ác tinh lại có Hình Sát thủ cung thì bị hình khắc sinh con cương ngạnh phá đãng.
    Lại phải xem 3 phương tứ chính được nhiều Nam đẩu tinh thì chủ sinh Nam nhiều (nếu không bị Tuần, Triệt), nhiều Bắc đẩu tinh thì chủ sinh Gái. Nếu có Thái Dương lạc ở cung dương là chủ sinh. Trai trước, Thái Âm lạc ở cung âm chủ Sinh gái trước. Cần xem Hình Sát ở bản cung không có sự chế hóa tương sinh thì tất nhiên tuyệt tự.
    Có Tử Vi miếu vượng sinh 3 trai, gái 2, gia Tả Hữu Xương Khúc có 5 người sau ắt được quí hiển, có Lộc Tồn sinh 5 con giảm một, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp chỉ có 1 đôi, nhưng đổi chỗ ở thì sinh nhiều, gặp Phá Quân là 3 người, gặp Thiên Phủ gia Cát tinh, có 4, 5 người, gia Xương Khúc, Tả Hữu là quí Tử. Nếu chỉ có Tử Vi ngộ Không Kiếp là Cô độc.
     
  16. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    Có Thiên Cơ miếu vượng là có 2 con hoặc con vợ thứ thì nhiều, có Cự Môn có 1 con, gặp Thiên Lương ở cung Dần là có 2, 3, tại cung Thân có gái nhiều trai ít chỉ có 1 con, có Thái Âm cùng 2, 3 người, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là không con.
    Có Thái Dương nhập miếu là 3 trai 2 gái sau đều quí hiển. Gặp Cự Môn là 3 người, có Thái Âm đồng là 5 người, ở hãm địa có 3 người không thành thân, gia thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp chỉ còn một con khi chết, gặp Lương Sinh 5 còn 4.
    Có Vũ Khúc chủ 1 con, hoặc sinh nhiều cũng vậy, hữu sinh vô dưỡng, gặp Phá Quân chủ hình có 1 con, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là tuyệt tự, với Tham Lang thì già có 2 con. Gặp Thiên Tướng đồng cung là nuôi con nuôi, sau sinh được 1 con, với Thất Sát chủ cô độc hoặc con phá tán thương tàn. Ngộ Tả Phụ là sinh 4 giảm 2.
    Thiên Lương hợp Vũ Khúc sinh 7 thành 6.
    Thiên Đồng miếu vượng có 5 con, có quí tử, với Cự Môn là 3 người, với Thái Âm có 5 người, tại cung Ngọ là hãm địa thì giảm phân nửa, có Thiên Lương thì sinh gái trước, trai sau có 2 con, ở cung Thân chỉ còn 1 đứa. Ở cung Dần gia Cát tinh có 3 con, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì hình khắc, ngộ Văn Xương sinh 5 thành 4.
    Liêm Trinh có 1 người với Thiên Phủ chủ quí tử có 3 nguời. Nếu có Tham Phá Thất Sát cùng chiếu chủ cô độc lại gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là không có con ngộ Thiên Tướng là 2 con.
    Thiên Phủ có 5 con, với Vũ Khúc là 2 người, với Tử Vi là 4, 5 người, với Liêm Trinh có 3 người, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp chỉ có 3 người.
    Thái Âm có 3 gái 2 trai, gái trước trai sau: miếu vượng thì Quí tử, hãm địa là giảm một nửa, mà ốm yếu không thành người, có Thái Dương đồng là 5 người, có Thiên Cơ là 2 người, với Thiên Đồng là 5 người, ở miếu địa thì không khắc. Hãm cung là bị hình khắc, gặp Sát tinh 9 con giảm 7. Có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là không con.
    Tham Lang miếu vượng là có 2 con, sớm bị hình khắc. Có Tử-Vi là 2 người, gặp Liêm Trinh là không con, như có Cát tinh chiếu là có 2 nguời, với Vũ Khúc là có 3 người, trước khó nuôi sau dễ, gặp Dương Đà sinh 2 còn 1.
    Cự Môn nhập miếu là 2 người trước khó sau dễ nuôi. Gặp Thái Dương là có 1, 2 người dễ nuôi gia Dương Đà Hỏa Linh là ít con. Có Thiên Cơ là 1 con có Cát Tinh nữa là 2 con, gia Không Kiếp là không, ngộ Thiên Không là sinh 3 giảm 2.
    Thiên Tướng ngộ Kình Dương sinh 3 con, không có Dương Đà Hỏa Linh có 2 con thành người, có Sát tinh thì lúc đầu phải cầu khi trọng tuổi có 1, 2 đứa. Có Tử Vi cũng như Xương Khúc Tả Hữu có 3, 4 đứa, với Vũ Khúc có 3 người gia thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì khắc từ nhỏ, với Thiên Đồng gia Xương Khúc Tả Hữu Cát tinh là có 3 người, với Thiên Cơ có 2 người gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là không có.
    Hồng Loan ngộ Địa Kiếp sinh 3 thành không có.
    Thiên diêu và Thiên khốc sinh 2 thành không.
    Thất Sát là chủ cô đơn có phúc lắm mới có 1 con, gặp Tử Vi và Cát tinh thì có 3 người, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là không con, nếu có cũng bất thành nhân, là con nhà vô loại phá gia chi tử, ngộ Không vong là sinh 6 thành không.
    Phá Quân nhập miếu có 3 người con cứng đầu cứng cổ. Có Tử Vi có 3 người, với Vũ Khúc gia Xương Khúc Tả Hữu có 3 người, gặp Liêm Trinh có 1 người, gia Dương Đà tương sinh hữu chế vô hình thêm Không Kiếp Hỏa Đà là ít con.
    Tả Phụ tọa thủ một mình cung Tử Tức là 3 trai, 1 gái, có Tử Vi Thiên Phủ và Cát tinh chủ Quí tử, có Phá Sát Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp chỉ có 2 người bất thành nhân.
    Hữu Bật có 3 người, gia Cát tinh là có Quí tử, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp giảm một nữa
    Văn Xương có 3 người, gia Cát tinh có nhiều con, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp khó lòng được 1.
    Đào Hoa ngộ Hóa Kỵ sinh 3 giảm 2.
    Văn Khúc miếu vượng có 4 đức, hãm địa có 2, 3 gia Dương Đà Hỏa Linh con rất ít.
    Lộc Tồn chủ cô đơn, có lấy vợ lẽ cũng chỉ có một đứa ngơ ngẩn, gia Cát Tinh thì có 1 đứa, gia Hỏa Tinh và các Sát tinh là cô hình.
    Dương Đà ở hãm địa thì cô đơn, có Cát tinh miếu vượng có 1 người, như đối cung có nhiều Cát tinh vô sát thì có 3, 4 đứa, có Hao Sát Kỵ tại bản cung thì tuyệt tự.
    Hỏa Tinh gặp Cát tinh thì không phải cô đơn, Hãm tinh và gia Sát tinh thì bình thường.
    Linh Tinh là cô đơn, gia Cát tinh nhập miếu là vợ thứ có thể có con, ở đối cung nhiều Cát tinh chiếu thì có 2, 3 người.
    Khôi Việt chủ có quí tử.
    Đẩu Quân ở tại cung Tử Tức phùng Cát tinh là có con cái sương thịnh gặp Hung tinh thì hình khắc, hoặc có là phá gia chi tử.
    Hoa Cái ngộ Cô thần sinh 2 thành 1.
     
  17. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    604. – V. TÀi - BẠCH
    Tử Vi cung Tài bạch là giàu có đầy kho đụn, gia Dương Đà Hỏa Linh thì không vượng, có Phá Quân là trước khó sau dễ, gặp Thiên Tướng là Tiền tài súc tích, ngộ Thiên Phủ thì giàu có suốt đời giữ được mà hưởng, gia Tả Hữu là người giữ tiền cho cả một nước, quan về Tài Chánh gặp Thất Sát gia Cát tinh là Tài Bạch hoạnh phát.
    Có Thiên Cơ thì phải lao tâm phí lực mới sinh tài, gặp Cự Môn là phải làm cái gì náo động rầm rĩ mới lấy được tiền, có Thiên Lương ắt có sảo kế kiếm ngoại tài, gặp Thái Âm ở Hãm cung là thành bại bất thường, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì có thành có bại.
    Thái Dương nhập miếu là Phong phú, hãm địa là lao khổ không toại lòng, gặp Thái Âm gia Tả Hữu Cát tinh Phát tài không nhỏ, gặp Lộc Tồn gan dạ thì giàu đến Cự Phú có Cự Môn là lúc nhỏ tuổi đã thành bại, trung và hậu vận thì phát nhiều.
    Vũ Khúc là phong phú, gặp Hóa Cát tinh là giàu Cự vạn, không có Cát tinh là khi hết kiệt lại có tài đến, gặp Phá Quân thì vào tay mặt ra tay trái, trước không sau có, ngộ Thiên Tướng thì giàu có gặp quí nhân thì sinh tài thành gia nghiệp, gặp Thất Sát là tay trắng làm nên thành gia nghiệp, gặp Tham Lang thì ngoài 30 tuổi mới phát tài, gia Dương Đà Hỏa Linh thì không tụ, sợ gặp Không vong ắt bần hàn.
    Thiên Đồng là tay trắng làm nên giàu có về sau mới phát, gặp Cự Môn là Tài bạch lên xuống ra vào không thường, cùng với Thiên Lương tài vào đại vượng, gia Tứ Sát Không Kiếp, hoặc là hạng lưu lạc giang hồ sinh tài thành gia thất.
    Liêm Trinh tại Dần Thân là người trong sự náo nhiệt mới sinh tài, ở hãm địa thì trước khó sau dễ, có Tham Lang thì sinh hoạnh phát, hoạnh phá, gia Dương Hỏa thì tài tiến cực kỳ tự nhiên, có Thất Sát là trong sự náo động mới có tài, gặp Thiên Tướng thì giàu có đầy kho đụn. Như gặp Hao, Kiếp, Thiên Không, là người thường bị phá tài về việc quan.
    Thiên Phủ thì Phú túc có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có sự thành bại, gặp Tử Vi đồng cung là Cự Phú vàng bạc súc tích, có Liêm Vũ đồng gia Quyền Lộc là giàu có lớn và sang trọng.
    Thái Âm nhập miếu thì giàu có đầy kho ở Hãm cung thì sự thành bại thường thường không tụ, có Thái Dương đồng cung là trước ít sau nhiều, với Thiên Cơ là tay trắng làm nên gia nghiệp, có Thiên Đồng là tài vượng, có Lộc Tồn, Liêm Tả Hữu là chủ đại phú.
    Tham Lang miếu vượng là hoạnh phát, hãm địa là bần cùng, gặp Tử Vi là thành cơ nghiệp được hưởng hương hỏa để lại, sau được Phong phú, gặp Hỏa Tinh thì trước 30 tuổi thành bại bất thường, sau 30 tuổi là hoạnh phát.
    Cự Môn là tay trắng làm nên có tiền thành cơ nghiệp, là người trí khí cao cả hoạnh phá tài trong sự náo nhiệt. Gặp Thái Dương nhập miếu là thành gia nghiệp. Với Thiên Cơ là tài khí sinh thân mình, mà chỗ làm không nhất định, với Thiên Đồng là tay trắng thành gia, người lưu lạc trên đất khách xa quê hương thì tốt, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là phá bại đa đoan.
    Thiên Lương thì phú túc, nhập miếu là Đại phú, ở hãm địa là phải làm việc khổ cực để độ nhựt, với Thiên Đồng là bạch thủ sinh tài hơn tổ nghiệp, gặp Thiên Cơ phải cố tâm dùng sức mới phát tài không mỹ mãn, phải thay đổi chỗ ở thì thành gia nghiệp gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là trước khó sau dễ cũng khổ cực để độ nhật.
    Thiên Tướng là Phú túc, gặp Tử Vi là có Tài, tự nhiên đến, có Vũ Khúc đồng cung với Tứ Sát là làm công nghệ sinh tài, gặp Liêm Trinh là buôn bán sinh tài, gia thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, Kỵ thì thành bại không giữ được tiền.
    Phá Quân ở cung Tý Ngọ là có nhiều vàng bạc, súc tích nhiều quí vật, cư Thìn Tuất là vượng cung thì tài thịnh ở Hãm cung là phá tổ tài tán, thêm Vũ Khúc thì giữ được, ở cung Tị Hợi thì đông lai tây khứ, tài vào lại ra, gặp Tử Vi là trước tán sau sinh tài, lúc đầu thì khó khăn sau được toại lòng, thêm Không Kiếp thì cực nghèo khổ.
    Văn Xương là Phú túc đầy kho đụn, thêm Cát tinh tài vượng, gặp Cự Môn thì giàu có, hãm địa có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là hạng bần sĩ nghèo nàn.
    Văn Khúc nhập miếu thì phú túc, gia Cát tinh thì được Quí nhân dẫn tài, thêm Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì trong nhà hiềm kỵ nhau, đông lai tây khứ, thành bại, không toại lòng.
    Tả-Phù Hữu-Bật là Phú túc, hội với Cát tinh là được Quí nhân dẫn tài, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ chủ thành bại và không tụ.
    Lộc Tồn là Phú túc đầy kho đụn, ngọc cất vàng chôn, gia Cát tinh thì kiếm tiền dễ dàng, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ thì trước không sau có.
    Kình Dương ở cung Thìn Tuất Sửu Mùi là người kiếm tiền trong chỗ náo động, hãm địa thì phá tổ không tụ, sau không phát đạt, chỉ nước đục thả câu, nhơ nhuốc thì có tài.
    Đà La trong sự náo động mới có tài, ở Hãm cung là làm ăn khó nhọc mới đủ tiền độ nhật, gia Không Kiếp thì vào tay phải ra tay trái.
    Hỏa Tinh là một tay hoạnh phát hoạnh phá, ở Hãm cung thì cực khổ, gia Cát tinh thì tài nhiều được tài trí.
    Linh Tinh nhập miếu là một mình làm nên hoạnh phát, hãm địa thì cô hàn tân khổ độ nhật lao lung.
    Khôi Việt chủ thanh cao mà sinh tài, nhất tinh toại ý. Xem Nguyệt hạn gặp Đẩu Quân ngộ Cát tinh thì tháng đó phát tài, ngộ Hung tinh Không Kiếp Hao Kỵ thì tháng đó bị tổn tài, chiều sự khẩu thiệt quan phi thì tai mới khỏi
     
  18. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    605. – Vi. TẬT – NGUY
    Trước hết phải xem cung Mệnh có những sao gì, vượng hãm, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ thủ chiếu như thế nào, rồi xem cung Tật Nguy có những sao lành, dữ, miếu hãm thế nào rồi mới đoán.
    Có Tử Vi thì ít bị tai nạn, với Thiên Phủ cũng ít, với Thiên Tướng là bị bịnh lao từ nhỏ, như gia Phá Quân là bị huyết khí bất hòa, với Dương Linh là chủ có ám tật, gia Không Kiếp chủ tai vạ và tâm khí tật.
    Thiên Cơ là ngoài da nhiều tai nạn ở Hãm địa là dầu mặt bị phá tướng, gặp Cự Môn có bệnh về huyết khí, gặp Thiên Lương là có bịnh ở Hạ bộ, với Thái Âm có bịnh nhọt, gia Dương Hỏa ở Hãm cung là có tật ở mắt, chân tay không có khí lực.
    Thái Dương là đau đầu, gặp Thái Âm gia Kỵ Dương Đà chủ mắt bị thương, Hãm cung thì chủ mục tật lâu không nhìn thấy.
    Vũ Khúc có bịnh hay tai nạn ngoài da, chân tay đầu mặt bị thương, gặp Dương Đà là đời thường có tai nạn có Thiên Tướng là chiêu lấy ám tật, có Thất Sát là huyết tật, có Tham Lang cùng ở cung miếu vượng là không có tật, ở Hãm Địa gia Tứ Sát thì mắt tay chân bị tật vì gió máy, hay mụn nhọt, hay bị chích hay chém.
    Thiên Đồng nhập miếu ít tật bịnh và tai nguy, có Cự Môn là tâm khí tật, thêm Thái Âm gia Dương Hỏa là Huyết khí tật, có Thiên Lương gia Tứ Sát là tâm khí tật.
    Liêm Trinh là có tật bề ngoài, tật về lưng và chân nhập miếu gia Cát tinh là bình thường ngộ Tham Lang ở Hãm địa là mắt có nhiều tật, gặp Thất Sát Phá Quân, Thiên-Phủ là ít tật bịnh.
    Có Thiên-Phủ là ít tật bịnh, tai nạn, có bị cũng cứu được có Tử Vi thì ít tai, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là có Phong tật, gặp Liêm Trinh gia Kiếp Sát Không vong là nửa đời người bị thương tàn.
    Thái Âm miếu vượng không bị tai ương, ở Hãm địa là người bị tai nạn nhiều, chủ chúng lao. Đàn bà chủ thương tàn, có Thái Dương gia Cát tinh là nhất sinh ít bịnh, có Dương Đà Hỏa Linh là tật ở mắt, gia Không Kiếp là Phong tật, có Thiên Đồng gia Dương Đà ở Hãm cung là chủ gốc bịnh liên miên, cùng Hỏa Linh nhiều tật.
    Cự Môn là hồi nhỏ bị nguy về mụn nhọt nhiều, gặp Thái Âm là đầu bị nhức nặng, gặp Thiên Đồng là hạ bộ bị chứng phong, gia Dương Đà Hỏa là có tật về tửu sắc, gia Kỵ thì tai mắt bị đau.
    Thiên Tướng là ít tai bịnh, lạc hãm là người da mặt vàng thủng có bịnh về huyết khí, đồng với Tử Vi là ít tai bịnh, gặp Vũ Khúc lại gia Tứ Sát là Phá Tướng, có Liêm Trinh cùng gia Không Kiếp là chân tay bị thương bịnh.
    Thất Sát hồi nhỏ nhiều bịnh, lớn bị Trĩ, gặp Vũ Khúc gia Tứ Sát thì chân tay bị thương tàn, gặp Liêm Trinh chủ bịnh về mắt, gia Kình Dương là chân tay bị thương tàng.
    Phá Quân là hồi nhỏ bị chốc lỡ, mụn nhọt vì máu nóng, gặp Vũ Khúc thì mắt bị bịnh, gặp Tử Vi là ít bịnh, có Liêm Trinh gia Dương Hỏa là chân tay bị thương tàn.
    Văn Xương một mình ở cung Tật nguy là ít bịnh, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là nhiều tai bịnh, nếu cùng với Cát tinh thì một đời không bị bịnh.
    Văn Khúc là ít bịnh, gia Cát tinh là một đời không bịnh tật, có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp ở cung Hãm là có tai bịnh.
    Tả Phụ một mình thì bình thường, gia Cát tinh ít bịnh gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là thường có bịnh.
    Hữu Bật một mình gặp bịnh có người cứu gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp ắt nhiều tai nguy.
    Kình Dương là có chứng đầu phong, hoặc chân tay mệt mỏi, nếu bị phá tướng thì sống lâu, gia Cát tinh là ít bịnh.
    Lộc Tồn là thiếu niên nhiều tai ương gia Cát tinh là ít bịnh, có Dương Đà Hỏa Linh là chân tay bị thương tàn, gia Không Kiếp bị ám tật thì sống lâu.
    Đà La nhỏ bị sún răng, lở miệng, đầu mặt bị thương phá thì sống lâu.
    Hỏa Linh là ít bịnh, miếu vượng thì thân thể tráng kiện, linh lợi.
    Đẩu quân gặp Cát tinh thì thân tâm được yên ổn, năm đó không tai bịnh, gặp Hung Sát ở cung bản Mệnh thì sợ năm đó nhiều tai bịnh
     
  19. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    606. - VIi. THIÊN – DI
    Có Tử Vi với Tả Hữu là xuất ngoại có quí nhân phù trợ, phát Phúc, với Thiên Phủ là được hanh thông chi triệu, các việc được bén giọt thông đạt. Với Thiên Tướng là tại ngoại phát tài, với Phá Quân là đi đâu cũng có quí nhân ưa chuộng, tiểu nhân không đủ làm hại, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là đi ra ngoài không được yên.
    Thiên Cơ là xuất ngoại thì gặp Quí nhân, ở nhà thì có thị phi, với Cự Môn là trong động mà Tốt, với Thiên Lương là xuất ngoại được toại ý, với Thái Âm ở trong hoang mang mà tốt, gia Dương Đà Hỏa Linh ở ngoài ắt nhiều chuyện thị phi, thân không được yên.
    Thái Dương nên xuất ngoại thì phát phúc, nhưng không được yên mà hưởng. Với Thái Âm ra ngoài, trong hoang mang sợ sệt thì tốt, gặp Cự Môn thì lao tâm, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, ở ngoài thì tâm và thân không thanh nhàn.
    Vũ Khúc trong lo sợ thì tiến ít, không nên ở yên mà giữ, với Tham Lang là Cự thương, với Thất Sát Phá Quân là tâm thâm không được yên mà giữ, gia Dương Đà Hỏa Linh là ở ngoài ắt chiêu lấy thị phi.
    Thiên Đồng ra ngoài gặp quí nhân phù trợ, gặp Cự Môn là lao tâm, với Thái Âm là tân khổ với Thiên Lương là có quí nhân yêu chuộng, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp tại ngoại ít khi được hài lòng.
    Liêm Trinh ra ngoài được thông đạt, gần nhiều quí nhân, ở nhà ắt ít quí nhân, gặp Tham Lang trong có động mới đi được. Gặp Thất Sát là ra ngoài kiếm tiền bằng nhiều thứ, có Thiên Tướng trong động thì tốt, gia Dương Đà và 3 phương có Hung sát thì chết ở ngoài đường.
    Thiên Phủ ra ngoài gặp nhiều quí nhân phù trợ, có Tử Vi đồng làm thì phát phúc, gặp Liêm Trinh Vũ Khúc là trong động ắt được tài, làm Cự thương.
    Thái Âm nhập miếu xuất ngoại ngộ quí nhân phát tài, ở Hãm địa là ra ngoài ắt chiêu lấy thị phi, có Thái Dương cùng là cực đẹp đẽ, lâu lâu ắt yên tĩnh, gặp Thiên Đồng ở miếu vượng địa là ra ngoài tay trắng sinh tài thành cơ nghiệp.
    Tham Lang một mình, ra ngoài thì lao khổ, tự động ắt có hoạnh tài, gặp Liêm Trinh gia Tứ Sát tại ngoại là gian nan, gặp Vũ Khúc, là Cự Thương, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Sát ở lưu niên nữa ắt bị gặp binh đao đạo tặc nguy khốn.
    Cự Môn xuất ngoại thì lao tâm không yên, hư hao về người, gặp nhiều thị phi, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp lại càng thêm nguy.
    Thiên Tướng ra ngoài thì được quí nhân nâng đỡ, gặp Tử Vi là Cát Lợi, gặp Vũ Khúc ở ngoài thì phát tài, có Liêm Trinh gia Dương Đà là chiêu thị phi, tiểu nhân thì không đủ ăn.
    Thiên Lương ra ngoài gần quí nhân và thành được quí nhân, cùng với Thiên Đồng thì phúc hậu, với Thiên Cơ là làm nghề khéo bán ở ngoài đường.
    Thất Sát là ra ngoài nhiều, ở nhà ít, với Vũ Khúc là trong động thì tốt, với Liêm Trinh là ra ngoài sinh tài, với Tử Vi là ở ngoài phần nhiều được toại lòng, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là người tiết tháo ngồi một chỗ không yên, hoặc lưu đãng lang thang.
    Phá Quân xuất ngoại thì lao tâm không yên, nhập miếu là ra ngoài ngơ ngẩn, gia Dương Đà Hỏa Linh là bôn tẩu làm nghề khéo trên đường, gia Vũ Khúc, Xương Khúc là người hát chèo, hát bộ.
    Văn Xương xuất ngoại thì gặp quí nhân và phát đạt, là tiểu nhân thì không đủ ăn, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là lâu mới được an ninh.
    Văn Khúc tại ngoại là cận quí gia Cát tinh thì được phát tài, gia Dương Đà Hỏa Linh thì ít khi được toại lòng.
    Tả Phủ trong động thì quí nhân phù trợ phát phúc, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp người hạ tiện thì nhiều ăn, nhiều thị phi.
    Hữu Bật xuất ngoại gặp quí nhân phù trì phát đạt không nên ở yên một chỗ mà giữ lấy, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp ra ngoài có người cạnh tranh.
    Lộc Tồn là xuất ngọai thì y lộc được toại lòng, có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là cùng người không đủ ý.
    Kình Dương nhập miếu tại ngoại thì y lộc được toại lòng, gia Cát tinh trong động thì phát tài, lạc hãm ra ngoài có thể thành được nhưng kẻ Hạ tiện lại bị thiếu thốn nhiều.
    Đà La hội với Cát tinh ra ngoài gặp Quí nhân thì đắc tài, hãm địa gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp, là chiêu nhiều thị phi, hạ nhân thì không đủ ăn.
    Hỏa Tinh một mình, xuất ngoại thì không yên, gia Cát Tinh là trong động thì tiến tài, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là chiêu thị phi ngoài ít khi được toại lòng.
    Linh Tinh gia Cát tinh thì xuất ngoại tốt, gặp Hung sát trong động là bị khẩu thiệt lung tung.
     
  20. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    607. – VIIi. NÔ - BỘC
    Có Tử Vi là được đắc lực, ở vượng địa là họ sinh tài cho mình, gia Dương Đà Hỏa Linh là sự giúp đỡ chậm chạp, bất lực với Phá Quân là trước khó khăn sau mới mướn được Thiên Tướng là đắc lực, gia Không Kiếp là họ làm mình sợ hãi mà trốn đi.
    Thiên Cơ nhập miếu là đắc lực, bị hãm không là oán chủ, với Thiên Lương sau mướn được, với Thái Âm sau mới đắc lực, với Cự Môn gia Cát tinh là có Nô tỳ, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp toàn là khó mướn.
    Thái Dương nhập miếu, vượng địa thì chủ phát đạt, nếu ở Hãm cung cũng có mà oán chủ rồi trốn đi, gặp Thái Âm là mướn được nhiều, có Cự Môn là chiêu oán nhiều, gia Dương Đà Hỏa Linh là đày tớ phản chủ.
    Vũ Khúc ở vượng cung là tôi tớ nhiều, nhất hô bá ứng, với Thiên Phủ là nhiều tớ trai tớ gái, có Phá Quân là chiêu oán rồi đi, cuối năm lại mướn được, có Thiên Tướng là đắc lực, gặp Thất Sát là bội chủ, gặp Tham Lang không đắc lực có nhưng chậm.
    Thiên Đồng ở cung vương tướng là đắc lực, có Cự Môn là trước khó sau dễ; gặp Thái Âm là đắc lực, có Thiên Lương là giúp chủ, gia Dương Đà Hỏa Linh là tớ phản thầy, nếu có Không Kiếp là oán chủ rồi đi.
    Liêm Trinh lạc hãm là tớ phản thầy, cuối năm chiêu lại được, nhập miếu là nhất hô bá ứng, với Tham Lang là lực chậm, có Thất Sát là phản chủ gặp Thiên Đồng là nhiều tôi tớ, gia Dương Đà Hỏa Linh không vượng là chúng nó rủ nhau đi.
    Thái Âm ở miếu địa là đắc lực thành được việc, gặp Thái Dương là nhiều đầy tớ trai, gái, có Thiên Cơ thì chậm lực, gặp Thiên Đồng là vượng chủ, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp tuy có mà trốn đi, ở Hãm địa là toàn vô.
    Thiên Phủ là đắc lực nhất hô bá ứng; gặp Tử Vi là giúp đỡ chủ rất tín cẩn, gặp Vũ Khúc là đầy tớ có nhiều, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là nhiều đứa phản chủ trốn đi.
    Tham Lang lúc đầu khó mướn, tớ hại chủ, ở Hãm địa là không có, gặp Liêm Trinh cũng ít, gặp Tử Vi là có tớ trai gái, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp tuy có mà không nuôi được.
    Cự Môn nhập miếu lúc mới thì không đắc lực, chiêu thị phi, không ở được lâu, gặp Thái Dương là trợ chủ giữ nhà, gặp Thiên Đồng là không một lòng giúp chủ, về sau già thì mướn được.
    Thiên Tướng về sau mướn được, có Tử Vi là nhiều tớ trai hầu gái, có Vũ Khúc oán chủ, với Liêm Trinh về sau có thể mướn được, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp lực chậm và trốn đi.
    Thiên Lương đầy tớ nhiều lại vượng chủ, gặp Thiên Đồng là đầy tớ tín cẩn có thể giao cả nhà được, với Thiên Cơ thì đầy tớ không nhất tâm.
    Thất Sát là đầy tớ khinh chủ, ngạo ngược hay ăn cắp tiền tài, gặp Vũ Khúc là phản chủ, có Liêm Trinh là chậm lực, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là rất khó chiêu mướn.
    Phá Quân nhập miếu thì đắc lực, Hãm địa và chiêu oán, phản chủ, gặp Vũ Khúc là phản bội, có Tử Vi thì đắc lực, có Liêm Trinh là chậm lực, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là khó mướn.
    Văn Xương nhập miếu là có một đứa đắc lực giúp chủ gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp tuy có nhưng phản bội.
    Văn Khúc nhập miếu là đắc lực, lạc hãm là không nuôi được, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp là oán chủ mà đi.
    Tả Phụ là có một miếu vượng là nhất hô bá ứng, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ là phản chủ khó mướn.
    Hữu Bật có một người thành được việc, gia Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp Hao Kỵ là phản chủ, ăn cắp rồi trốn đi.
    Lộc Tồn đày tớ nhiều, gia Cát tinh là giúp chủ thành cơ nghiệp, có Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì chậm lực.
    Kình Dương có mà hội chủ chiêu oán không đắc lực, không ở được lâu, nhập miếu thì về sau có thể mướn.
    Đà La là tôi tớ chậm lực, oán chủ, nhập miếu gia Cát tinh thì lại có.
    Hỏa Tinh có một người mà oán chủ không đắc lực, gia Cát tinh nhập miếu thì mướn được 1, 2 người.
    Linh Tinh có một người mà không đắc lực, hận chủ, gia Cát tinh nhập miếu lại là giúp chủ trông nom công việc trong nhà, tín cẩn, gia Kiếp Không Hao Kỵ toàn là chậm lực.
    Đẩu Quân qua đến cung Nô Bộc phùng Cát Tinh thì tôi tới qui thuận, phùng hung tinh Hao Kỵ Sát hoặc hận chủ mà đi, hoặc hành hung đày tớ mà mang tiếng thị phi.
     

Chia sẻ trang này