Tín ngưỡng Tam, Tứ Phủ - Giá trị Văn hóa phi vật thể số 1 Việt Nam (sưu tầm tổng hợp)

Thảo luận trong 'Tin tức Đạo Mẫu' bắt đầu bởi connuoiphatto, 4/4/14.

Lượt xem: 6,298

  1. hungthang999

    hungthang999 Member

    V. Nhị Vị Quỳnh Quế Công Chúa
    1. Quỳnh Hoa Công Chúa, Quế Hoa Công Chúa trong tín ngưỡng tứ phủ
    2. Sự tích Quỳnh Hoa Công Chúa, Quế Hoa Công Chúa
    3. Đền Hạ Tuyên Quang – Đền Tam Cờ
    4. Đền Mẫu Thượng – Đền Sâm Sơn – Đền Núi Dùm
    5. Chầu Quỳnh Văn
    6. Chầu Quế Văn
    VI. Thập Nhị Vị Chầu Bà
    1. Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên
    2. Chầu Đệ Nhị Thượng Ngàn
    2.1. Thần tích Chầu Đệ Nhị
    2.2. Chầu Đệ Nhị hiển linh trong ghi chép của Lê Quý Đôn
    2.3. Hầu giá Chầu Đệ Nhị
    2.4. Đền Đông Cuông
    2.5. Văn Chầu Đệ Nhị - Bản 1
    2.6. Văn Chầu Đệ Nhị - Bản 2
    3. Chầu Đệ Tam Thoải Phủ
    4. Chầu Đệ Tứ Khâm Sai
    4.1. Sự tích Chầu Đệ Tứ
    4.2. Hầu giá Chầu Đệ Tứ
    4.3. Đền Chầu Đệ Tứ - Làng Kim Cốc (?)
    4.4. Đền Chầu Đệ Tứ - Vụ Bản, Nam Định (?)
    4.5. Đền Chầu Đệ Tứ - Hà Trung, Thanh Hóa (?)
    4.6. Đền Chầu Đệ Tứ - Gia Lâm, Thanh Hóa (?)
    4.7. Văn Chầu Đệ Tứ
    5. Chầu Năm Suối Lân
    6. Chầu Lục Cung Nương
    6.1. Sự tích Chầu Lục Cung Nương
    6.2. Hầu giá Chầu Lục Cung Nương
    6.3. Lục Cung Linh Từ – Đền Chín Tư – Đền Lũng
    6.4. Văn Chầu Lục – Bản 1
    6.5. Văn Chầu Lục – Bản 2
    6.6. Văn Chầu Lục – Bản 3
    6.7. Văn Chầu Lục – Bản 4
    7. Chầu Bảy Kim Giao
    7.1. Sự tích Chầu Bảy Kim Giao
    7.2. Không có khái niệm Chầu Bảy Tân La
    7.3. Hầu giá Chầu Bảy Kim Giao
    7.4. Đền Kim Giao – Mỏ Bạch
    7.5. Văn Chầu Bảy Kim Giao
    8. Chầu Tám Bát Nàn
    8.1. Sự tích Chầu Bát
    8.2. Những lần sắc phong của Chầu Bát
    8.3. Hầu giá Chầu Bát
    8.4. Đền Tiên La – Thái Bình
    8.5. Đền Tân La – Hưng Yên
    8.6. Một số đền khác
    8.7. Văn Chầu Bát - Tiên Chúa Bát Nạn – bản 1
    8.8. Văn Chầu Bát - Tiên Chúa Bát Nạn – bản 2
    8.9. Văn Chầu Bát - Tiên Chúa Bát Nạn – bản 3
    8.10. Văn Chầu Bát - Tiên Chúa Bát Nạn – bản 4
    9. Chầu Chín Cửu Tỉnh
    9.1. Sự tích Chầu Cửu
    9.2. Đền thờ
    9.3. Hầu giá Chầu Cửu
    9.4. Văn Chầu Cửu
    10. Chầu Mười Đồng Mỏ
    11. Chầu Bé
    12. Chầu Bản Đền
    12.1. Khái niệm về Chầu Bản Đền
    12.2. Hầu giá Chầu Bản Đền
    VII. Thập Vị Ông Hoàng
    1. Ông Hoàng Cả
    2. Ông Hoàng Đôi
    2.1. Sự tích Quan Hoàng Đôi
    2.3. Ông Hoàng Đôi không phải là Quan Triệu Tường
    2.3. Hầu giá Quan Hoàng Đôi
    2.4. Đền thờ Quan Hoàng Đôi (Cẩm Phả)
    2.5. Tượng thờ Quan Hoàng Đôi ở đền Bảo Hà
    2.6. Tượng thờ Quan Hoàng Đôi ở Phủ Tây Hồ
    2.7. Văn Quan Hoàng Đôi
    3. Ông Hoàng Bơ
    3.1. Thần tích Ông Hoàng Bơ
    3.2. Ông Hoàng Bơ Bắc Quốc
    3.3. Hầu giá Ông Hoàng Bơ
    3.4. Đền ông Hoàng Bơ ở Cờn Môn (?)
    3.5. Đền ông Hoàng Bơ ở Thanh Hóa (?)
    3.6. Đền ông Hoàng Bơ ở Thái Bình
    3.7. Văn Ông Hoàng Bơ
    3.8. Thơ phú trong văn Ông Hoàng Bơ – Bản 1
    3.8. Thơ phú trong văn Ông Hoàng Bơ – Bản 2
    3.8. Thơ phú trong văn Ông Hoàng Bơ – Bản 3
    4. Ông Hoàng Tư
    5. Ông Hoàng Năm
    6. Ông Hoàng Lục
    6.1. Quan Hoàng Lục Thanh Hà
    6.2. Quan Hoàng Lục An Biên
    6.3. Điển tích khác về Quan Hoàng Lục
    7. Ông Hoàng Bẩy Bảo Hà
    7.1. Thần tích Ông Hoàng Bẩy Bảo Hà
    7.2. Ông Hoàng Bẩy cùng Ông Hoàng Đôi đánh trận
    7.3. Hầu giá Ông Hoàng Bẩy Bảo Hà
    7.4. Đền thờ Ông Hoàng Bẩy Bảo Hà
    7.5. Đền Đá Thiên không phải là Lăng mộ Ông Hoàng Bảy
    7.6. Văn Ông Hoàng Bẩy Bảo Hà – Bản 1
    7.7. Văn Ông Hoàng Bẩy Bảo Hà – Bản 2
    7.8. Văn Ông Hoàng Bẩy Bảo Hà – Bản 3
    7.9. Thập Nhị Tiên Nàng Văn
    7.10. Văn Ông Bảy Đánh Bài Tổ Tôm
    7.11. Văn Ông Bảy Đánh Bài Tam Cúc
    7.12. Văn Ông Bảy Chơi Xóc Đĩa
    8. Ông Hoàng Bát
    8.1. Ông Hoàng Bắc Quốc
    8.1.1. Thần tích Ông Hoàng Bắc Quốc
    8.1.2. Ông Hoàng Bắc Quốc thuộc Tứ Phủ
    8.1.3. Hầu giá Ông Hoàng Bắc Quốc
    8.1.4. Đền Quan Hoàng Bắc Quốc
    8.1.5. Văn Ông Hoàng Bắc Quốc – Bản 1
    8.1.6. Văn Ông Hoàng Bắc Quốc – Bản 2
    8.2. Ông Hoàng Bát Nùng
    9. Ông Hoàng Chín
    9.1. Ông Chín Cờn Môn
    9.1.1. Thần tích Ông Chín Cờn
    9.1.2. Hầu giá Ông Chín Cờn Môn
    9.1.3. Hầu giá Ông Chín Cờn tại Đền Sòng Sơn
    9.1.4. Ông Chín Cờn Môn không đeo kính đen, gậy batoong
    9.1.5. Đền Ông Chín Cờn
    9.1.6. Một số đền khác thờ Ông Chín Cờn
    9.1.7. Văn Ông Chín Cờn Môn
    9.2. Ông Hoàng Chín Thượng Ngàn
    10. Ông Hoàng Mười
    11. Thập Vị Hoàng Tử Văn
    VIII. Tứ Phủ Thánh Cô
    1. Cô Nhất
    1.1. Cô Nhất Thượng Thiên
    1.2. Cô Nhất Vân Đình
    1.3. Cô Cả Núi Giùm
    1.4. Cô Cả Bắc Ninh
    2. Cô Đôi Thượng
    2.1. Thần tích Cô Đôi Thượng
    2.2. Hầu giá Cô Đôi Thượng
    2.3. Đền Cô Đôi Thượng
    2.4. Đền Đôi Cô (Tuyên Quang)
    2.5. Văn Cô Đôi Thượng – Bản 1
    2.6. Văn Cô Đôi Thượng – Bản 2
    3. Cô Bơ
    3.1. Cô Bơ Bông
    3.2. Cô Bơ Tây Hồ
    3.3. Cô Bơ Hà Thành
    4. Cô Tư Ỷ La
    4.1. Sự tích Cô Tư Ỷ La
    4.2. Hầu giá Cô Tư Ỷ La
    4.3. Đền thờ Cô Tư Ỷ La
    4.4. Văn Cô Đệ Tứ Ỷ La
    5. Cô Năm Suối Lân
    6. Cô Sáu Sơn Trang
    6.1. Thần tích Cô Sáu Sơn Trang
    6.2. Hầu giá Cô Sáu Sơn Trang
    6.3. Đền thờ Cô Sáu Sơn Trang
    6.4. Văn Cô Sáu – Bản 1
    6.5. Văn Cô Sáu – Bản 2
    7. Cô Bảy Kim Giao
    8. Cô Tám Đồi Chè
    9. Cô Chín
    9.1. Cô Chín Sòng Sơn
    9.2. Cô Chín Thượng Ngàn
    10. Cô Mười Mỏ Ba
    11. Cô Bé
    11.1 Cô Bé Thượng Ngàn
    11.2. Cô Bé Đông Cuông
    11.3. Cô Bé Suối Ngang
    11.4. Cô Bé Thoải Phủ
    12. Cô Bản Đền Bản Cảnh
    12.1. Cô Đôi Cam Đường
    12.1.1. Sự tích Cô Đôi Cam Đường
    12.1.2. Tại sao Cô Đôi Cam Đường là Cô bản cảnh
    12.1.3. Hầu giá Cô Đôi Cam Đường
    12.1.4. Đền Cô Đôi Cam Đường
    12.1.5. Văn Cô Đôi Cam Đường – Bản 1
    12.1.6. Văn Cô Đôi Cam Đường – Bản 2
    12.2. Cô Bé Sapa
    12.3. Cô Bé Minh Lương
    12.5. Cô Bé Thạch Bàn
    12.6. Cô Bé Chín Tư – Cô Bé Lục Cung
    12.7. Cô Bé Bắc Nga
    12.8. Cô Bé Cây Xanh
    12.9. Cô Bé Chí Mìu
    12.9.1. Cô Bé Chí Mìu
    12.9.2. Đền Cô Bé Chí Mìu
    12.9.3. Cô Bé Chí Mìu ứng thơ dạy họ Lương
    12.10. Cô Bé Tân An
    12.11. Cô Bé Xương Rồng – Cô Bé Xương Long
    12.12. Cô Bé Cấm Sơn (Lào Cai)
    12.12.1. Sự tích Cô Bé Cấm Sơn
    12.12.2. Đền Cấm - Lào Cai
    12.12.3. Văn Cô Bé Cấm Sơn (Lào Cai)
    12.13. Cô Bé Mỏ Than
    12.13.1. Sự tích Cô Bé Mỏ Than
    12.13.2. Đền Cô Bé Mỏ Than
    12.14. Cô Bé Đen
    12.15. Cô Bé Đèo Kẻng
    12.16. Cô Bé Nguyệt Hồ
    12.17. Cô Bé Tây Hồ
    12.18. Cô Bé Đồng Đăng
     
  2. hungthang999

    hungthang999 Member

    IX. Tứ Phủ Thánh Cậu
    1. Cậu Hoàng Cả
    1.1. Hầu giá cậu hoàng cả
    1.2. Văn Cậu Quận Phủ Dầy
    1.4. Văn Cậu Đệ Nhất Đền Sòng
    1.4. Văn Cậu Đệ Nhất Lê Sơn
    2. Cậu Hoàng Đôi
    3. Cậu Hoàng Bơ
    4. Cậu Quận Đồi Ngang
    4.1. Đền Cậu Quận Đồi Ngang
    4.2. Văn Cậu Quận Đồi Ngang
    5. Cậu Bé Bản Đền
    X. Hạ Ban
    1. Quan Ngũ Hổ
    1.1. Các vị Ngũ Hổ
    1.2. Bài trí nơi thờ Ngũ Hổ
    1.3. Hầu giá Ngũ Hổ
    1.4. Văn Ngũ Hổ Thần Tướng
    1.5. Thỉnh Ngũ Hổ Tướng Quân
    1.6. Văn Luyện Ngũ Hổ
    1.7. Nhạc Luyện Ngũ Hổ
    2. Ông Lốt
    C. HỆ THỐNG CÁC VỊ THÁNH PHỐI THỜ CÙNG TỨ PHỦ
    I. Sự Mở Rộng Của Tín Ngưỡng Tứ Phủ Qua Hình Thức Phối Thờ
    1. Phối thờ Hội đồng Trần Triều với Tứ Phủ
    2. Phối thờ những Mẫu thần khác với Tứ Phủ
    3. Phối thờ Nữ thần địa phương với Tứ Phủ
    II. Hệ Thống Mẫu Thần Phối Thờ Cùng Tứ Phủ
    1. Mẫu Đầm Đa – Quốc Mẫu Âu Cơ
    1.1. Truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ
    1.2. Di tích Đầm Đa
    1.3. Văn Mẫu Đầm Đa
    2. Tứ Vị Vua Bà
    2.1. Các tên gọi khác nhau
    2.2. Sự tích
    2.3. Đền Cờn
    2.4. Đền Lộ
    2.5. Văn Tứ Vị Vua Bà
    3. Mẫu Thiên Y A Na
    3.1. Truyền thuyết
    3.2. Nhận xét truyền thuyết
    3.3. Tượng thờ
    3.4. Thờ phụng & ảnh hưởng
    3.5. Nghi thức hầu bóng
    3.6. Điện Hòn Chén
    3.7. Tháp Po Nagar
    3.8. Văn Chầu Tiên YaNa
    III. Công đồng Trần Triều
    1. Tín ngưỡng Đức Thánh Trần
    1.1. Truyền thuyết, di tích và lễ hội
    1.1.1. Truyền thuyết
    1.1.2. Di tích
    1.1.3. Lễ hội Đức Thánh Trần
    1.2. Cơ sở văn hóa – xã hội của Tín ngưỡng Đức Thánh Trần
    1.2.1. Thái độ cởi mở đối với tín ngưỡng dân gian và Đạo giáo
    1.2.2. Khuynh hướng phát triển ý thức tín ngưỡng dân gian
    1.2.3. Nhu cầu tâm linh của nhân dân
    1.3. Bản chất của hiện tượng Đức Thánh Trần
    1.3.1. Một hình thức tín ngưỡng dân gian – Thờ Phúc Thần
    1.3.2. Hình thức tín ngưỡng đậm màu sắc Đạo giáo
    1.4. Tổng kết về Tín ngưỡng Đức Thánh Trần
    1.4.1. Không gian văn hóa rộng lớn của tín ngưỡng Đức Thánh Trần
    1.4.2. Tín ngưỡng là kết quả của quá trình thần thánh hóa nhân vật lịch sử
    1.4.3. Tín ngưỡng có bản chất thờ phúc thần nhưng lại là phức hợp
    1.4.4. Tín ngưỡng Đức Thánh Trần cần được bảo tồn
    1.5. Một số thông tin khác về Tín ngưỡng Đức Thánh Trần
    1.5.1. Các vị thánh được thờ trong Tín ngưỡng Đức Thánh Trần
    1.5.2. Hiểu đúng về nghi lễ hầu đồng Nhà Trần
    2. Đức Đại Vương Trần Triều
    2.1. Lịch sử Đức Đại Vương
    2.2. Câu chuyện về Đức Thánh Trần Giáng Đàn Trừ Tà
    2.3. Hầu giá Đức Thánh Trần
    2.4. Đền Kiếp Bạc
    2.5. Đền Cố Trạch
    2.6. Đền Bảo Lộc
    2.7. Đền Trần Thương
    2.8. Đền Phú Xá
    2.9. Trần Triều Sự Tích Văn
    2.10. Văn Đức Thánh Trần Triều
    2.11. Trần Triều Hiển Thánh Hưng Đạo Đại Vương Sự Tích Văn
    2.12. Văn Hưng Đạo Đại Vương Hai Lần Phá Nguyên Mông
    2.13. Văn Hưng Đạo Đại Vương Hiển Thánh
    2.14. Xám Tạ Đức Trần Triều Văn
    2.15. Bài Văn Tạ Đức Trần Triều
    3. Quan Nam Tào, Quan Bắc Đẩu
    3.1. Lý do thờ Quan Nam Tào và Quan Bắc Đẩu
    3.2. Đền Quan Nam Tào, Quan Bắc Đẩu
    4. Tứ Vị Vương Tử
    4.1. Đức Thánh Cả
    4.2. Đức Thánh Phó
    4.3 Đức Thánh Tam
    4.4. Đức Thánh Tứ
    4.5. Tứ Vị Vương Tử Văn
    5. Vương Cô
    5.1. Đệ Nhất Vương Cô
    5.2. Đệ Nhị Vương Cô
    5.3. Cô Thái Bình công chúa
    6. Lục Tướng Trần Triều
    6.1. Đức ông phò mã Phạm Ngũ Lão
    6.1.1. Lịch sử và xuất thân
    6.1.2. Đền Phù Ủng và lễ hội
    6.1.3. Hầu giá Đức Thánh Phạm
    6.2. Ông Tả Yết Kiêu
    6.2.1. Lịch sử về Yết Kiêu
    6.2.2. Trâu thần và Yết Kiêu
    6.2.3. Làm tướng đánh giặc
    6.2.4. Với công chúa nhà Nguyên
    6.2.5. Đền Quát
    6.3. Ông Hữu Dã Tượng
    6.3.1. Lịch sử về Dã Tượng
    6.4.2. Đền thờ
    6.4. Nghĩa Xuyên tướng quân - An Nghĩa Đại Vương
    6.4.1. Lịch sử về Nghĩa Xuyên Tướng Quân
    6.4.2. Đền thờ
    6.5. Hùng Thắng tướng quân
    6.5.1. Lịch sử về Hùng Thắng tướng quân
    6.5.2. Đền thờ
    6.6. Huyền Quang tướng quân
    6.7. Văn Chầu Đức Ông Tả Hữu
    7. Vương Tôn
    7.1. Cô Bé Cửa Suốt
    7.1.1. Thần tích
    7.1.2. Hầu giá Cô Bé Cửa Suốt
    7.1.3. Đền Cặp Tiên
    7.1.4. Văn Cô Bé Cửa Suốt
    7.2. Cậu bé Cửa Đông
    7.2.1. Thần tích
    7.2.2. Hầu giá Cậu Bé Cửa Đông
    7.2.3. Đền thờ
    7.2.4. Văn Cậu Bé Cửa Đông
    8. Ngũ Hổ Đại Tướng
    8.1. Ngũ hổ trong tín ngưỡng Trần Triều
    8.2. Hầu giá Ngũ hổ
    8.3. Ngũ Hổ Tướng Quân Luyện Văn
    IV. Hệ Thống Nữ Thần Phối Thờ Cùng Tứ Phủ
    1. Chúa Đệ Nhất Tây Thiên
    1.1. Sự tích Chúa Đệ Nhất Tây Thiên
    1.2. Đền thờ Thượng Tây Thiên
    1.3. Hầu giá Chúa Tây Thiên
    1.4. Văn Chúa Đệ Nhất Tây Thiên – Bản 1
    1.5. Văn Chúa Đệ Nhất Tây Thiên – Bản 2
    2. Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ
    2.1. Sự tích Chúa Nguyệt Hồ
    2.2. Đền Chúa Nguyệt Hồ
    2.3. Hầu giá Chúa Nguyệt Hồ
    2.4. Văn Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ - Bản 1
    2.5. Văn Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ - Bản 2
    3. Chúa Đệ Tam Lâm Thao
    3.1. Sự tích Chúa Lâm Thao
    3.2. Đền thờ Chúa Lâm Thao
    3.3. Hầu giá Chúa Lâm Thao
    3.4. Văn Chúa Đệ Tam Lâm Thao
    4. Chúa Thác Bờ Hòa Bình
    4.1. Sự tích Chúa Thác Bờ
    4.2. Hầu giá Chúa Thác Bờ
    4.3. Đền thờ Chúa Thác Bờ
    4.4. Động Tiên – Động Thác Bờ
    4.5. Văn Chúa Thác Bờ - Bản 1
    4.6. Văn Chúa Thác Bờ - Bản 2
    4.7. Văn Chúa Thác Bờ - Bản 3
    5. Chúa Long Giao
    5.1. Sự tích chúa Long Giao
    5.2. Đền thờ chúa Long Giao
    6. Bà Chúa Cà Phê
    6.1. Sự tích Chúa Cà Phê
    6.2. Hầu giá Chúa Cà Phê
    6.3. Đền thờ Chúa Cà Phê
    6.4. Văn Chúa Cà Phê
    7. Chúa Ba Nàng
    7.1. Sự tích Chúa Ba Nàng
    7.2. Đền thờ Chúa Ba Nàng
    7.3. Văn Chúa Ba Nàng – Bản 1
    7.4. Văn Chúa Ba Nàng – Bản 2
    8. Bà Chúa Tộc Mọi
    8.1. Sự tích Bà Chúa Tộc Mọi
    8.2. Hầu giá Chúa Tộc Mọi
    8.3. Đền Chúa Tộc Mọi
    9. Chúa Bà Ngũ Phương
    9.1. Sự tích Chúa Bà Ngũ Phương
    9.2. Chùa Cấm thờ Chúa Ngũ Phương
    9.3. Đền Tiên Nga thờ Chúa Ngũ Phương
    9.4. Cây đa “mười ba gốc”
    9.5. Một số nơi khác thờ Chúa Ngũ Phương
    9.6. Hầu giá Chúa Ngũ Phương
    9.7. Văn Chúa Ngũ Phương
    9.8. Chúa Bà Năm Phương Văn
    10. Chúa Bà Đá Đen
    10.1. Sự tích
    10.2. Đền Chúa Đá Đen
    10.3. Văn Chúa Đá Đen – Bản 1
    10.4. Văn Chúa Đá Đen – Bản 2
    11. Bà Chúa Kho
    11.1. Sự tích
    11.2. Đền Bà Chúa Kho
    11.3. Văn Bà Chúa Kho
    11.4. Chủ Khố Phu Nhân Diễn Văn
    12. Chúa Bà Ngũ Hành – Ngũ Hành Nương Nương
    12.1. Tại sao Ngũ Hành Nương Nương nên được phối thờ cùng Tứ Phủ?
    12.2. Tục thờ Ngũ Hành Nương Nương
    12.3. Các vị Chúa Bà Ngũ Hành
    12.4. Đền thờ, miếu thờ
    12.5. Ngày tiệc Chúa Ngũ Hành
    13. Bà Chúa Nguyệt Hồ - Bắc Giang
    13.1. Sự tích Bà Chúa Nguyệt Hồ
    13.2. Đền Chúa Nguyệt Hồ
    14. Chúa Bà Thiên Thiên Uy Linh Công Chúa
    14.1. Thần tích Chúa Bà Thiên Thiên Uy Linh Công Chúa
    14.2. Hầu giá Chúa Bà
    14.3. Phủ Chúa Bắc Hà
    14.3. Văn Phủ Chúa Bắc Hà
    15. Lộc Hoa Công Chúa – Bà Chúa Lộc
    15.1. Thần tích Lộc Hoa Công Chúa
    15.2. Đền Truông Bát
    16. Bà Chúa Vực
    16.1. Thần tích Bà Chúa Vực
    16.2. Đền Bà Chúa Vực
    17. Nữ Tướng Lê Chân
    17.1. Lịch sử về Nữ Tướng Lê Chân
    17.2. Đền Nghè
    18. Chúa Bà Bản Đền Thừa Thiên Công Chúa
    18.1. Thông tin về Tiên Chúa Thừa Thiên
    18.2. Văn Chúa Bản Đền Thừa Thiên Công Chúa
    V. Sự Phối Thờ Của Tứ Phủ Cùng Các Vị Thần Khác
    1. Thần Bạch Hạc
    1.1. Thần tích Thần Bạch Hạc
    1.2. Đền Tam Giang – Chùa Đại Bi (Bắc Giang)
    2. Thần Độc Cước
    2.1. Thần tích Thần Độc Cước
    2.2. Đền Độc Cước (Sầm Sơn, Thanh Hóa)
    2.3. Đền Cô Tiên – Đền Thượng Độc Cước
    D. HÀNH LỄ TRONG TÍN NGƯỠNG TAM TỨ PHỦ
    I. Những Khái Niệm Cơ Bản Trong Tín Ngưỡng Tứ Phủ
    1. Chữ “Đồng”
    2. Đồng Thầy
    3. Thủ Nhang
    II. Nghi Thức Hầu Đồng Trong Tín Ngưỡng Tứ Phủ
    1. Hầu đồng, lên đồng là gì
    2. Căn nguyên của việc hầu đồng
    3. Chuẩn bị cho buổi hầu đồng
    4. Trình tự một buổi hầu đồng
    5. Áo bản mệnh
    6. Khăn phủ diện
    7. Trước khi hầu thánh
    8. Những giá không được phép hầu
    9. Thứ tự thỉnh giá mẫu
    10. Nguyên tắc hầu ba giá mẫu
    11. Nguyên tắc hầu nhà Trần
    12. Nguyên tắc hầu giá các quan
    13. Nguyên tắc hầu giá các cô, các cậu
    14. Nguyên tắc xin phép và chứng hương
    15. Trình tự các giá hầu đồng theo lối cổ
    16. Trình tự các giá hầu đồng ngày nay
    16. Tổng hợp các ngày tiệc Thánh
    III. Nghệ thuật Chầu Văn trong Tín ngưỡng tứ phủ
    1. Khái niệm Hát văn và sự ra đời của Chầu văn
    2. Vai trò quan trọng của Chầu văn trong hoạt động hành lễ “Lên Đồng”
    3. Sự lưu truyền của Chầu Văn
    4. Thực trạng của Chầu văn hiện nay
    5. Trình tự thực hiện nghi lễ hát chầu văn
    6. Một số làn điệu thường gặp trong hát văn
    7. Những điểm cần khắc phục trong hoạt động hát văn hiện nay
    IV. Các nghi lễ trong tín ngưỡng Tứ Phủ
    1. Lễ trả nợ Tào Quan
    1.1. Trả nợ tào quan là gì
    1.2. Trả nợ tào quan có phải lúc nào cũng được
    1.3. Tiền tào quan và kinh trả nợ Tào Quan
    1.4. Lễ sớ trả nợ Tào Quan
    2. Lễ bán khoán
    2.1. Bán khoán là gì
    2.2. Lễ bán khoán trong chùa
    3. Tôn nhang bản mệnh
    3.1. Tôn nhang bản mệnh là gì
    3.2. Trong bát nhang bản mệnh có gì
    3.3. Nghi lễ tôn nhang trong chùa
    4. Tôn nhang bản mệnh cho người có căn mạng nhà Thánh
    4.1. Tại sao phải tôn nhang bản mệnh
    4.2. Làm sao để biết mình có căn mệnh
    4.3. Tôn nhang tại cửa đền cửa điện
    4.4. Nghi thức “trình giầu”
    5. Nghi lễ mở phủ
    5.1. Thế nào là mở phủ
    5.2. Khái niệm tân đồng, đồng thuộc, đồng bói
    5.3. Nghi lễ mở phủ
    6. Nghi lễ dâng mã Trần Triều
    6.1. Đàn Tiểu
    6.2. Đàn Trung
    6.3. Đàn Đại
    V. Tập tục hành hương đi lễ cầu an
    1. Sửa lễ vật
    1.1. Trầu cau
    1.2. Lục cúng chay tịnh
    1.3. Đồ lễ mặn
    1.4. Kim ngân vàng mã
    1.5. Sớ văn
    1.6. Bảo vật
    2. Văn Khấn
    2.1. Văn khấn Công Đồng Tứ Phủ
    2.2. Văn khấn lễ Tam Tòa Thánh Mẫu
    2.3. Văn khấn lễ Đức Thánh Trần
    2.4. Văn khấn Mẫu thượng ngàn
    2.5. Văn khấn Đền Bà Chúa Kho
    2.6. Các bài văn khấn khác thường dùng
    E. NƠI THỜ TỰ CỦA TÍN NGƯỠNG TAM TỨ PHỦ
    I. Những Khái Niệm Cơ Bản Về Nơi Thờ Tự
    1. Đền Thờ
    2. Phủ
    3. Miếu thờ
    4. Điện thờ
    5. Linh từ
    II. Cấu Trúc Của Đền Thờ Và Điện Thờ Tứ Phủ
    1. Cấu Trúc Trong Đền Thờ Tam Tứ Phủ
    2. Cấu Trúc Trong Điện Thờ Tam Tứ Phủ
    III. LẬP ĐIỆN THỜ TẠI GIA
    1. Một Vài Điều Chú Ý Trước Khi Lập Điện Thờ
    F. ĐẠO THÁNH CHÂN KINH
    I. Thánh Mẫu Chân Kinh
    1. Vân Hương Đệ Nhất Thánh Mẫu – Thánh Mẫu Liễu Hạnh bửu cáo
    2. Chánh Nhứt Vị Thánh Mẫu Canh Thế Chân Kinh Đệ Nhất Chương
    3. Đệ nhị vị Thánh Mẫu Canh Thê Chân Kịnh Đệ Nhị Chương
    4. Đệ Tam Thánh Mẫu Canh Thê Chân Kinh Đệ Tam Chương
    5. Tam Thế Thực Lục Giáng Bút Chơn Kinh
    6. Bài khuyến tích thiện phùng thiện của Thánh Mẫu
    7. Bài Giáng Bút của Thánh Mẫu
    II. Trần Triều Chân Kinh
    1. Hưng Đạo Đại Vương Chân Kinh
    2. Trần Thánh Chân Kinh
    3. Thanh Cung Liệt Tướng Bảo Cáo
    4. Tứ Vị Vương Tử Bảo Cáo
    5. Phạm Đại Vương Bảo Cáo
    6. Đệ Nhất Vương Nữ Bảo Cáo
    7. Đệ Nhị Vương Nữ Bảo Cáo
    8. Nguyên Từ Quốc Mẫu Bảo Cáo
    9. Khải Thánh Vương Mẫu Bảo Cáo
    10. Khải Thánh Vương Phụ Bảo Cáo
    11. Hiển Thánh Bảo Cáo
    12. Đại Vương Chính Kinh Văn
    13. Ngũ Phương Hổ Thần Quan Tán
    14. Trần Thánh Đại Vương Bảo Cáo
    VIII. Văn sớ trong tín ngưỡng Tam Tứ Phủ
    1. Sớ Lễ Phật
    2. Sớ Tứ Phủ
    3. Sớ Trần Triều
    4. Sớ Sơn Trang
    5. Sớ Phúc Thọ
    6. Sớ Nhất Tâm
    7. Sớ Sám Hối
    8. Sớ Cầu Thi Đỗ Đạt
    9. Sớ Cầu Duyên
    10. Sớ Cầu Tự
    11. Sớ Hầu
    11. Sớ Dâng Sao Giải Hạn
    G. TÍN NGƯỠNG GIA TIÊN VÀ TÍN NGƯỠNG TỨ PHỦ
    I. Gia Tiên Trong Tín Ngưỡng Thờ Mẫu
    1. Văn Chầu Tổ
    1.1. Văn Chầu Tổ (cố nghệ nhân Phạm Văn Kiêm sáng tác)
    1.2. Dâng Văn Chầu Tổ
    2. Tổ Cô trong Tín ngưỡng Tứ Phủ
    2.1. Tổ Cô trong Tín ngưỡng gia tiên
    2.2. Hầu giá Tổ Cô
    2.3. Văn Tổ Cô
    3. Cô Bé Cậu Bé Tại Gia
    Tài liệu tham khảo
     
  3. linkmiu

    linkmiu New Member

    mình thực sự khất khâm phục nghị lực và tâm huyết của bạn hùng thắng, Phật Thánh chứng minh công đức.
     
  4. TamDa

    TamDa New Member

    thấy cái mày đọc quen quen , thì ra là ở đây
    http://tinnguongtuphu.blogspot.com/
     
  5. zum_zum

    zum_zum Member

    xin phép tác giả, nhà cháu xin down sách để tìm hiểu ạh. xin chân thành cảm ơn tác giả.
     
  6. connuoiphatto

    connuoiphatto New Member

    IV.TỨ PHỦ QUAN HOÀNG

    1. Thánh ông Hoàng Cả
    Tên húy của Ngài: Đoàn Thượng
    Sắc phong tước hiệu: Đông hải Đại vương.
    Đền thờ chính: Ở Lý Nhân, Nam Hà nhưng đã bị phá, nay được thờ phối hương với đền thờ bà Vũ Nương và ở đền Trung suối Mỡ (Bắc Giang)
    Thân thế: Là con của vua cha Bát Hải Động Đình, là cả trong Tứ phủ Ông Hoàng, giáng sinh đầu tiên. Sau đó, lên cõi thượng thiên coi giữ sổ sách.
    Ông Hoàng Cả (thường gọi tắt là Ông Cả) hay còn gọi là Ông Hoàng Quận: là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình. Trong Tứ Phủ Ông Hoàng, ông là anh cả, giáng sinh ra đầu. Sau này ông lên cõi Thượng Thiên, coi giữ sổ sách.Thiên Tào. Có khi ông rong chơi khắp chốn khi chơi Thiếu Lĩnh, lúc chơi Non Bồng. Ông dạo khắp các nơi Bồng Lai, Tiên Cảnh, khi trên thượng giới ông cuỡi con Xích Long, khi dạo chơi trên mặt nước Ông Hoàng cưỡi lốt tam đầu cửu vĩ. Có khi ông cũng ngự lên cõi trần gian phù hộ cho người làm ăn buôn bán hoặc kẻ học hành khoa cử. Tuy nhiên Ông Hoàng Cả không giáng trần.
    Ông Cả rất ít khi ngự đồng, khi ngự về ông thường mặc áo đỏ (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét đỏ. Ông Hoàng Cả ngự về thường chỉ tấu hương, khai quang (cũng có người hầu ông về múa hèo, nhưng khá hiếm vì không mấy người hầu về Ông Cả.

    2. Thánh ông Hoàng Đôi
    Tên húy của Ngài: Nguyễn Hoàng Triệu.
    Sắc phong tước hiệu: Thượng Đẳng thần.
    Đền thờ chính: Thanh Hóa (đền ông Hoàng Triệu), ở Hà Nội (đền Hoàng ở Chèm).

    Thân thế: (Thường gọi tắt là Ông Đôi) hay còn gọi là Ông Triệu Tường: là con trai Đức Vua Cha. Ông theo lệnh, giáng sinh lên cõi trần gian, làm con trai thứ hai nhà họ Nguyễn, sau đó ông trở thành danh tướng, có công giúp nhà Lê trong công cuộc “Phù Lê Dẹp Mạc”, ông là người đã đem quân truy đuổi họ Mạc đến tận đất Cao Bằng, rồi ông được vua Lê phong công, giao cho kéo binh đóng ở đất Tống Sơn, Triệu Tường, Thanh Hóa.
    Ông Đôi cũng khá ít khi ngự đồng, nếu có ngự về, ông mặc áo như Ông Hoàng Cả (nhưng màu xanh), chỉ có ở Hà Nội là hay thỉnh ông về nhưng lại thỉnh ông như một vị Quan Lớn (gọi là Ông Lớn Triệu Tường), ngự sau giá Quan Điều Thất, ông về tấu hương, khai quang rồi múa cờ lệnh (cờ lệnh đại, vuông, ngũ sắc).
    Đền thờ Ông Hoàng Đôi được lập ở nơi mà xưa kia ông đã kéo binh vê đóng ở đó gọi là Đền Triệu Tường (hay còn gọi là Đền Quan Triệu) ở đất Tống Sơn, núi Triệu Tường, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa, ngoài ra ở Hà Nội cũng có một ngôi đền gọi là Đền Quan Triệu (hay tên thường gọi là Đền Hoàng).
    3. Thánh ông Hoàng Bơ
    Tên húy của Ngài: Tống Khắc Bính, là thái tử con vua Nam Tống
    Sắc phong tước hiệu: Thượng Đẳng Thần.
    Đền thờ chính: Đền thờ Ngài ở Thanh Hóa gần đền cô Tám. Đền thờ chính của Ngài là ở trên núi nhìn ra biển ở cửa Cờn, ngày nay người ta chuyển thành thờ ông Hoàng Chín, Đền Hưng long và đang được hưng công tại Thái Bình.
    Thân thế: Ngài hầu Mẫu ở đền Cờn, mẫu Hàn Sơn Thanh Hóa, làm việc thoải cung, là 1 trong 4 vị Khâm sai thay quyền vua Mẫu bốn phủ đi bắt lính nhận đồng. Ngài ngự áo xanh theo sắc phong bốn phủ, chít khăn mỏ rìu, mặc áo trấn thủ, đi ghệt tay ghệt chân, thắt đai vàng thành hoa trước ngực, múa hèo. Sau khi làm lễ khai quang, Ngài đi hèo ngự tọa, hiến tửu, nghe thơ, ban phát lộc tài. Đầu năm tháng Giêng, người ta hầu Ngài ngự áo đỏ khăn đỏ chứ không như bây giờ, mặc áo trắng. Có người lý luận rằng áo Ngài thì Ngài mặc nhưng trong tâm linh Việt Nam cho màu trằng là màu buồn nên đầu xuân kiêng mặc áo trắng.Như vậy mới là hóa thân bất tử giữa trần và âm. Đó là phong cách chứ không phải là sự đơn thuần. Ngài hạ sinh vào thời Nam Bắc Tống phân tranh. Sau khi nhà Nam Tống bị nhà Bắc Tống đánh bại, Ngài dong thuyền ra biển Đông và thác hóa. Thân y trôi vào cửa Cờn được ông Hoàng Chin lúc bấy giờ đang tu ở đó vớt lên chôn cất. Sau này Ngài phù Lý, Trần anh kinh hiển hách được nhân dân gọi là ông Hoàng Bơ Thoải. Đền thờ Ngài hiện nay đã bị những kẻ vô học chuyển thành đền ông Hoàng Chín. Ngưỡng mong những nhà nghiên cứu cũng như những người có chức có quyền và chức đồng đạo sớm trả lại đền thờ của Ngài theo đúng nghĩa.
    Theo tài liệu khác về thân thế Quan Hoàng Bơ:

    Cổ nhân có câu : "Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân", nghĩa là người sống nhân đức thì trời đất sẽ ủng hộ giúp đỡ. Từ thủa xưa, mỗi khi đất nước nguy biến, nhân dân cực cực đều xuất hiện những vị anh hùng cứu dân hộ quốc. Theo tâm linh người Việt, đó là sự diệu kỳ do thiên địa hóa hình, thần tiên giáng thế. Ông Hoàng Bơ Thủy Cung - một vị Thần quản cai cõi miền sông nước đã hóa thân thành Minh Đức Đại Vương hiển tích tại đền Hưng Long, làng Kênh Xuyên, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
    Thần tích kể rằng: Làng Kênh Xuyên thủa xưa có hai vợ chồng lão ông Trần Thái Công và lão bà Đặng Thị hiền lành nhân đức đã luống tuổi mà chưa có con nối dõi bèn phát nguyện ra trông coi đèn hương đền thờ Thánh Mẫu Đệ Tam Thủy Tinh. Dầu dãi trải mấy thu không tiếc công lao, lại làm phúc đắp đường, sửa đê, bố thí người nghèo khổ. Công đức cảm động đến Thánh Mẫu, một đêm thái bà nằm mơ thấy một người con gái mình mặc áo trắng mang đai ngọc lưu ly tay ôm một đứa bé trai kháu khỉnh, ngự trên rồng vàng bay lên từ mặt nước nói rằng :
    - Ta là con gái động đình Long Vương, Thủy Tinh Ngọc Dung Xích Lân Long Nữ Công Chúa thấy vợ chồng ngươi siêng năng làm phúc, chăm sóc đèn hương, nên cho Hoàng tử Long cung đầu thai làm con để lo báo hiếu, sau này sẽ cứu giúp dân lành nhiều phen.
    Giấc mộng tỉnh, thái bà thấy trong lòng khác lạ mà mang thai, đến kỳ khai hoa mãn nguyệt bỗng thấy mây ngũ sắc vây quanh, hương thơm sực nức, từ trên trời hào quang sáng chói như trăm hồng ngàn tía. Đúng ngọ ngày hạ chí mười ba tháng sáu (ngày hội đền Đức Thánh Mẫu) thái bà sinh hạ một cậu bé trai khôi ngô tuấn tú, dung mạo khác thường bèn đặt tên là Trần Minh Đức, tám tháng biết nói, chín tháng biết đi, năm tuổi đã đọc thông sách vở. Lớn lên chỉ mộ về đạo Phật thiền gia dù cho Thái ông, Thái bà có giục giã cũng không màng chuyện hôn nhân phu phụ. Năm hăm hai tuổi Minh Đức lập một thảo am để hàng ngày nghiên cứu Phật Pháp thuyền gia. Sau khi Thái ông, Thái bà về tiên, thì Minh Đức cũng đi đâu không rõ. Ngôi đền và thảo am để nhang lạnh khói tàn, bỗng một đêm dân làng ai ai cũng đều mơ thấy có một vị hoàng tử khôi ngô tuấn tú đầu đội kim khôi, mình mặc áo trắng lưng giắt kiếm bạc, cưỡi trên đôi bạch xà hiện lên trên mặt biển nói rằng:
    -Ta là hoàng tử long cung, giáng sinh vào để tác phúc cho Thái ông, Thái bà nay hết hạn ta về thủy cung. Dân làng thời phải nên thờ phụng Thánh Mẫu Thủy Tinh cho nghiêm cẩn như xưa khi có nạn ắt ta đến cứu. Về sau sẽ âm phù cho đất đai rộng mãi.
    Sáng dậy ai cũng thuật lại cho nhau giấc mơ y hệt, bèn cung kính sợ hãi mà cho rằng ngôi đền rất linh thiêng nên lập thêm long ngai bài vị Minh Đức Hoàng Bơ Thoải đại vương phụng thờ, hương hỏa ngày đêm không dứt.
    Đến năm Giáp Ngọ ngày mười ba tháng tám có bão lớn con đê Ngự Hàm bỗng dưng vỡ toác, nước ngập mênh mông, người chết vật trôi nhiều vô số kể. Việc đắp đê hàn long không thể tiến hành, dân làng bèn nhớ giấc mơ xưa lập đàn cầu đảo, bỗng đâu từ ngoài biển có một ông Bạch mãng xà bơi vào, rắn bơi đến đâu hàn long đến đó, khi hàn long xong thì cũng không thấy rắn trắng đâu nữa. Dân làng đều biết là Minh Đức hoàng tử cứu giúp bèn về đền lễ tạ.Và Chánh tổng Tân Hưng lúc đó là cụ Bá Thuần cho xây một ngôi đền ngay chỗ vỡ đê thờ Minh Đức hoàng tử. Chỗ ấy ngày nay là thôn Hưng Long Bắc, xã Đông Long, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Vì làng Kênh Xuyên được âm phù lên mở rộng mãi ra biển đến nay đã tách thành 4 làng. Kênh Xuyên, Hưng Thịnh, Hải Long và Hưng Long. Đồng thời tâu lên triều đình về sự linh ứng của ngài. Và được triều đình ban phong mỹ hiệu cấp ruộng tế điền để phụng thờ.
    Đức thánh hoàng còn được triều Nguyễn sắc phong mỹ tự " Đông Hải, Thủy Tinh, Bạch Long, Linh Phù, Hiển Ứng, Tịnh Tuệ, Bác Huệ, Minh Đức Đại Vương thượng đẳng thần " Từ đó đến nay dân thôn phụng thờ và lễ bái đều linh nghiệm, là nơi ngư dân cầu đảo trước mỗi mùa cá và mỗi lần ra khơi. Hàng năm vào mười ba tháng sáu là ngày tiệc đản sinh của Thánh Hoàng dân làng đều tổ chức tế lễ rước kiệu từ đền về chùa lễ Phật và bái yết thánh Mẫu Đệ Tam và hầu bóng, nhiều lần có cá Heo về chầu.
    Văn dâng ông Hoàng Bơ:
    Mặt nước lạ lùng tiến lên trên mặt nước lạ lùng
    Rõ ràng ông Bơ thoải chân dung khác thường

    Trên điện ngọc rồng mây năm sắc
    Dưới Động Đình ghềnh thác nguy nga
    Mênh mông một dải giang hà
    Ầm ầm sóng vỗ xa xa bạc đầu

    Sáng tựa gương trần ai chẳng bụi i
    Bầu rượu Tiên thơ túi dênh dang
    Khăn thêu áo trắng đai vàng
    Võ hài chân dận vai mang đôi hèo

    Khai quang dong nhang thập kỳ diệu
    Quang minh chứng đàn duyên
    Ngã tích tăng cúng giàng kim phụng hoàng thân cận
    Thánh chúa tiên Trưng vương

    Động đình hồ nước bao xa
    Có điện Thất bảo có tòa có tòa Đại dương
    Bắt tề tay tiên chuốc chén rượu đào
    Nhất tuần sơ nâng lên Bệ Ngọc
    Nâng lên kính Mẫu để các cô dâng mời
    Là mời rước ông hoàng Bơ xơi

    Quỳnh Tiên rót chén rượu đào
    Nâng lên Bệ Ngọc nâng lên kính Mẫu
    Để các cô dâng vào là mời rước ông hoàng Bơ xơi

    Tam bươi ba chén rượu đào
    Nâng lên Bệ Ngọc nâng lên tạ Mẫu
    Để các cô dâng vào là mời rước ông hoàng Bơ xơi


    Bạn Tiên nữ xắp hàng rong ruổi
    Cá kình nghê thẳng lối tiễn đưa
    Ông Hoàng Bơ dưỡng dực trên bờ
    Trống rong cờ mở thật là trang nghiêm



    Sắp hai hàng tàn vàng tán tía
    Kiệu vàng son nghi lễ bát âm
    Quân Vương dừng gót nghỉ chân
    Họa thơ Lý Đỗ ca ngâm đọ cờ


    Tiệc xong lại chèo đua bẻ lái
    Thuyền chèo về Bát Hải vui chơi
    Quỳnh Côi Phượng Dực mấy nơi
    Sông Tranh Sông Cả qua chơi Lục Đầu


    Lau lách xạc xào gió hiu hiu thổi
    Lửa 1 khoang đầy ông Bơ ngồi sưởi ấm hồn thơ

    Tay nâng bầu rượu ngồi bên mạn con đò
    Bút Tiên nghiên ngọc ông Bơ họa vần thơ lai láng

    Thơ ông Bơ mấy hỏi cung hằng
    Cung hằng ơi sao lúc mờ lúc sáng
    Trăng nhớ thương ai mà khi khuyết lại khi tròn

    Trăng ơi còn nhớ thương ai mà vương vấn chi đây
    Rượu quỳnh chưa cạn chia tay sao đành

    Khoan nhặt mái chèo cửa Chùa bỗng tới
    Long lanh mặt nước in bóng mái tam quan

    Tiếng mõ ngân vang tiếng chuông chùa
    Nghe như rũ sạch lòng phàm
    Gác trăng ngoài đỉnh núi ông Bơ vào niệm Phật

    Nam mô A Di Đà Phật


    Xa xa thấy mờ mờ rêu đá
    Nhìn bến bờ cỏ lá lá chen hoa

    Trông đỉnh non bóng đã xế tà
    Hồn thơ Lý Đỗ nay đà nơi đâu

    Chén rượu quỳnh ông Bơ say rồi lại tỉnh
    Mượn hồn thơ đang tỉnh chợt lại say

    Gác bút treo nghiên bấy lâu nay
    Biết ai tâm sự dãi bầy lòng son
    Hỏi non những non mòn vì nước
    Hỏi nước thời xuôi ngược thờ ơ

    Nhớ ai họa lại mấy vần thơ
    Trăng ơi sao trăng cứ lững lờ ở trong mây

    Thuyền ông Bơ đi chở đầy ánh trăng vàng
    Thuyền ông Bơ đi chở đầy ánh trăng vàng
    Nay ông bơ về thì trăng lặn chỉ còn bầu rượu túi thơ

    Lấp lánh sang khê thuyền ai lấp lánh sang khê
    Thuyền thoi cô tú nữ chèo sang rước ông Bơ về tòa Thoải Cung
     
    Chỉnh sửa cuối: 23/4/14
  7. chily

    chily Member

    Hungthang ơi!Quảng đại ,từ bi hỉ xả đi.Có Nhân -Quả mà.Ta ngườ phàm trần ,còn Phật Thánh nhìn thấy hết :Đúng ,sai,phải trái mà.
     
  8. hungthang999

    hungthang999 Member

    Cảm ơn các bạn rất nhiều, mình mong sẽ được các bạn đóng góp những ý kiến quý báu để cuốn sách càng được hoàn thiện.
    Trước hết mình chưa có dự định phát hành thành sách vì mình thấy còn thiếu nhiều phần nữa cần phải tìm hiểu và cũng cần có thời gian để học hỏi thêm.
     
  9. connuoiphatto

    connuoiphatto New Member

    4. Thánh ông Hoàng Tư
    Tên húy của Ngài: Nguyễn Hữu Cầu.
    Sắc phong tước hiệu: Thượng Đẳng Thần, Thủy Cung hoàng tử.
    Đền thờ chính: Đồ Sơn. Nhân dân thường gọi là miếu Thủy thần.
    5. Thánh ông Hoàng Năm
    Tên húy của ngài: Hoàng Công Chất.
    Sắc phong tước hiệu: Thượng Đẳng Thần.
    Đền thờ chính: Điện Biên
    6. Thánh ông Hoàng Sáu
    Tên húy Ngài là: Chưa rõ
    Sắc phong tước hiệu: Thượng Đẳng Thần.
    Đền thờ Ngài: Phố Lu
    7. Thánh ông Hoàng Bảy
    Tên húy của Ngài: Nguyễn Hoàng Bảy.
    Sắc phong tước hiệu: Thượng Đẳng Thần.
    Đền thờ Ngài: Bảo Hà, Lào Cai.
    Thân thế: Đền Bảo Hà nằm ở xã Bảo Hà, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai giáp ranh tỉnh Yên Bái, còn được gọi là đền ông Hoàng Bảy. Đền xây dựng dưới chân đồi Cấm, có quang cảnh thiên nhiên “trên bến dưới thuyền” đẹp đẽ. Phía tả ngạn là dòng sông Hồng cuồn cuộn chảy. Còn bên hữu ngạn là một hồ rộng, tạo cho nhà đền cảnh đẹp trữ tình. Ngôi đền Bảo Hà được xây dựng vào cuối đời Lê (niên hiệu Cảnh Hưng), thờ danh tướng Hoàng Bảy họ Nguyễn, có công bảo vệ và xây dựng tổ quốc ở cửa ải Lào Cai. Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, Bảo Hà có một vị trí quan trọng phòng thủ biên giới, là cửa trạm của phòng tuyến sông Hồng phía Tây Bắc.
    Từ đời nhà Trần đã đặt hai cửa trấn ải là cửa quan Bảo Thắng và Bảo Hà, trong đó Bảo Hà là hậu cứ của Bảo Thắng. Tại đây có đài hoả hiệu, trạm liên lạc thông tin cho các châu huyện phía dưới. Giữa niên hiệu Cảnh Hưng, Bảo Hà là trung tâm Châu Văn Bàn. Trong thời kỳ này, bọn giặc phương Bắc thường hay quấy nhiễu, xã Khấu Bàn, châu Văn Bàn đã phải xây dựng các thành luỹ chống giặc.
    Đến cuối đời nhà Lê (1740-1786), các châu Thuỷ Vĩ, Văn Bàn và nhiều nơi khác thuộc phủ Quy Hoá luôn bị giặc cướp phương Bắc tràn sang quấy nhiễu. Trước tình hình giặc giã biên cương quấy đảo, triều đình cử viên tướng thứ bảy họ Nguyễn lên trấn thủ Quy Hoá. Danh tướng họ Nguyễn đưa đội quân tiến dọc sông Thao đánh đuổi bọn giặc cỏ, giải phóng Khảu Bàn và xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn. Tại đây danh tướng đã tổ chức các thổ ty, tù trưởng luyện tập binh sỹ… Sau đó thống lĩnh quân thủy và quân bộ tiến đánh giặc ở Lào Cai, giải phóng các châu thuộc phủ Quy Hoá (Yên Bái, Lào Cai ngày nay).
    Sau đó, quân giặc phương Bắc do tên tướng Tả Tủ Vàng Pẹt đưa quân sang xâm lược bờ cõi, danh tướng Hoàng Bảy lại dẫn quân lên tham chiến. Song, do trận chiến không cân sức, ông đã anh dũng hy sinh. Giặc vứt xác ông xuống sông Hồng, và trôi đến Bảo Hà. Nhân dân trong vùng do ông Lư Văn Cù đứng ra tổ chức vớt xác ông lên chôn cất và lập miếu thờ. Để ghi nhớ công lao của ông, các vua triều Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị đã tặng ông danh hiệu “Trấn an hiển liệt” và đền thờ ông cũng được các vua triều Nguyễn cấp sắc phong là “Thần Vệ Quốc”. Còn đồng bào các dân tộc Kinh, Tày, Dao… thì tôn thờ ông là vị nhân thần. Ông đi vào cõi tâm linh các dân tộc và hiện thân trong các lễ hội xuống đồng vào ngày Thìn tháng giêng.
    Sự tích: Ông Hoàng Bảy hay thường gọi là Ông Bảy Bảo Hà. Ông là con Đức Vua Cha. Theo lệnh vua, ông giáng phàm trần, trở thành con trai thứ bảy trong danh tộc họ Nguyễn, cuối thời Lê. Vào triều Lê Cảnh Hưng, có giặc Trung Quốc từ Vân Nam tràn sang cướp bóc, đốt phá. Triều đình bèn cử ông, dọc theo sông Hồng, lên đánh đuổi quân giặc và trấn giữ vùng biên ải nơi Bảo Hà, Lào Cai. Tại đất Bảo Hà, ông thống lĩnh lục thủy, đánh đuổi quân giặc về vùng Vân Nam, sau đó ông chiêu dụ các thổ hào địa phương đón người Dao, người Thổ, người Nùng lên khẩn điền lập ấp. Sau này trong một trận chiến đấu không cân sức, Ông Bảy bị giặc bắt, chúng tra khảo hành hạ dã man, nhưng ông vẫn một lòng kiên trung, quyết không đầu hàng, cuối cùng, không làm gì được, chúng sát hại ông rồi mang thi thể vứt xuống dòng sông. Kì lạ thay, di quan của ông dọc theo sông Hồng, trôi đến phà Trái Hút, Bảo Hà, Lào Cai thì dừng lại. Còn một điều kì lạ nữa là khi ông bị giặc sát hại, thì trời bỗng chuyển gió, mây vần vũ, kết lại thành hình thần mã (ngựa), từ thi thể ông phát ra một đạo hào quang, phi lên thân ngựa, đến Bảo Hà thì dừng lại, trời bỗng quang đãng, mây ngũ sắc kết thành hình tứ linh chầu hội. Sau này khi hiển linh ông được giao quyền cho trấn giữ đất Lào Cai, ngự trong dinh Bảo Hà, đến lúc này ông nổi tiếng là một Ông Hoàng không chỉ giỏi kiếm cung mà còn rất ăn chơi, phong lưu: khi thanh nhàn ông ngả bàn đèn, uống trà mạn Long Tỉnh, ngồi chơi tổ tôm, tam cúc, xóc đĩa… lúc nào cũng có thập nhị tiên nàng hầu cận, ông cũng luôn khuyên bảo nhân dân phải ăn ở có nhân có đức, tu dưỡng bản thân để lưu phúc cho con cháu. Triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị sắc tặng ông danh hiệu “Trấn An Hiển Liệt” và các triều vua nhà Nguyễn khác tôn ông danh hiệu: “Thần Vệ Quốc_ Ông Hoàng Bảy Bảo Hà”.
    Ông Bảy là Ông Hoàng hay ngự về đồng nhất, cũng bởi vì trong hàng Tứ Phủ Ông Hoàng, ông rất hay chấm lính bắt đồng (có quan niệm cho rằng, những người nào mà sát căn Ông Bảy thì thường thích uống trà tàu, hay đánh tổ tôm, xóc đĩa…). Khi ngự về đồng, ông thường mặc áo lam hoặc tím chàm (thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét lam, cài chiếc kim lệch màu ngọc thạch. Ông ngự về tấu hương, khai quang rồi cầm đôi hèo, cưỡi ngựa đi chấm đồng. Đến giá Ông Bảy về ngự, nếu ông ném cây hèo vào người nào thì coi như ông đã chấm đồng người đó. Lúc ông giá ngự, thường dâng ông ba tuần trà tàu rồi thuốc lá có tẩm thuốc phiện.
    Văn dâng ông Hoàng Bảy:

    Lên đất Bảo Hà nhắn ai lên đất Bảo Hà
    Nếm mùi phong nguyệt đó là Thần Tiên

    Gió nam thoảng hương bay ngào ngạt
    Bóng ác tà đã gác non tây
    Trăng in mặt nước vơi đầy
    Bảo Hà cổ tích xưa nay còn truyền

    Quan Hoàng Bảy trấn miền Bắc địa
    Hợp binh hùng lục thuỷ Thao Giang
    Quân cơ mưu lược luận bàn
    Doanh trung thường có hai hoàng vào ra


    Khai quang dong nhang thập kỳ diệu
    Quang minh chứng đàn duyên
    Ngã tích tăng cúng giàng
    Kim phụng hoàng thân cận
    Thánh Chúa Tiên Trưng Vương

    Phong hoa tuyết nguyệt đượm mùi
    Dâng câu thiên bảo chúc lời huê phong
    Chuốc chén ô long, trà thơm chuốc chén ô long
    Cô nâng bình ngọc để các bạn Tiên dâng Ông chén quỳnh

    Kiến thượng kim bàn trà ô long kiến thượng kim bàn
    Mẫu đơn lắng tỉnh để lúc cửa nhàn ông Bảy hiến vui

    Chuốc chén quyên mời trà hồng đào chuốc chén quyên mời
    Thanh hương mỹ vị ngọt á a bùi tỳ tân
    Á tân á tân ngọt bùi tỳ tân

    Trù hoạch quân cơ tạm đắc nhàn
    Nung gang thành sắt luyện Tiên đan

    Vi vu sáo trúc trời mây khói
    Kỳ cục thâu canh đất nổi hoàn

    Tuệ nhật sáng soi lòng dũng kiệt
    Cương thường, cương thường nặng gánh dạ sắt son

    Ấy mùi phong nguyệt là thế thế
    Nhớ ả phù dung cuốc gọi ì hồn

    Đượm mùi phong nguyệt nước non
    Đê mê Quốc túy Quốc hồn xưa nay phù dung ơi

    Phù dung ơi nàng hiện đâu đây
    Dường như ngọn cỏ cành cây la đà hay còn
    Hay còn tiếc nguyệt yêu hoa
    12 cô tiêm thuốc pha trà rước ông Hoàng Bảy xơi
    Trần ai tri kỷ
    Khách tài tình hồ dễ mấy ai hay
    Kiếp nhân sinh 3 vạn 6 ngàn ngày
    Say cũng lụy mà không say thời cũng đủ

    Thuở trời đất ông Bảy dọc ngang ngang dọc
    Chí anh hùng ông Hoàng Bảy người hun đúc chí càn khôn
    Giáo trong tay trăm trận dạ đâu sờn
    Thú trời đất ông Bảy mở kho tàng vôi tận

    Vừa gặp lúc Thiên khai thái vận
    Chén trà thơm ông Hoàng Bảy người chấm trước đôi tuần
    Nào là tài tử giai nhân cho bõ lúc hẹn hò non nước

    Mở sách ra ông thấy chữ đề đức năng tương túy
    Ông Hoàng Bảy đang say một tí với đời

    Ông Bảy khuyên ai giữ đạo làm người
    Đi lễ Phật lấy chữ Di Đà là hơn cả

    Ông mới tâu qua Quan Nam Tào cùng Quan Bắc Đẩu
    Số mệnh trần gian lão ấu chép biên
    Ai mà hiếu thuận thảo hiền
    Tu nhân tích đức Ông Bảy chép biên cho thọ trường

    Còn những ai ngang tàng bạo ngược
    Chỉ hại người không trước thời sau
    Lỗi lầm có xá chi đâu
    Sở nguyện ông cho như ý sở cầu toàn tâm


    Đã nên đấng cầm cân nảy mực
    Ông lấy chữ tội và chữ phúc để mà cân

    Đừng có ai khoe trọn vẹn muôn phần
    Cây đức mà đã mất ông Bảy cầm cân sao cho bằng

    Đấng anh linh ông Bảy soi đời vời vợi
    Ai mất chữ tâm thời tội phải mang
    Lưới trời ở khắp 4 phương
    Hại nhân nhân hại khôn đường thoát thân

    Ông đã khuyên ai thì đừng có kinh những kẻ ngèo hèn
    Cây đức mà tươi tốt ông cho vẻ vang sau này

    Nay ông Bảy ra nay ông Bảy ra ông cho nước tiên tảy hết bụi trần
    Thanh cao rồi lại 10 phần dễ Ông thanh cao
    Chữ cương thường treo cao giá ngọc
    Chữ công dung tứ đức khuyên di
    Đệ tử con khấn nguyện tâu quỳ
    Xin ông hoàng Bảy độ trì người chứng ư minh



    Hoàng sai thập nhị Tiên Nàng
    Cô nào Nàng ấy sửa sang đứng hầu
    Dâng nước trà tầu tiên Cô Nàng Cả
    Dâng nước trà tàu Sơn lâm vừa ý
    Ông Bảy gật đầu vỗ gối ban khen aa


    Dâng bộ khay đèn Tiên Cô Nàng Đôi
    Vào Dâng bộ khay đèn
    Dọc ngà tẩu sứ móc tiêm chuôi nạm à vàng

    Dâng hộp thuốc ngang Tiên Cô Nàng Ba
    Dâng hộp thuốc ngang
    Thế là vừa ý ông Bảy Hoàng trên đất sơn lâm

    Đốt đỉnh nhang trầm Tiên Cô Nàng Tư
    Đốt đỉnh nhang trầm
    Ngọn đèn khêu tỏ tay ông cầm móc tiêm

    Dâng hộp bánh nguyên Tiên Cô Nàng Năm
    Dâng hộp bánh nguyên
    Kẹo xìu thuốc cống ,ông ngự cảnh tiên ai sánh ớ bì

    Tính nết nhu mì đó là Tiên Cô Nàng Sáu tính nết nhu mì
    Dâng đôi tuấn mã, để ông đi chấm ớ đồng

    Nảy khúc đàn thông tiên Cô Nàng Bảy
    Nảy khúc đàn thông
    Đêm ngày hậu hạ trong cung Bảo Hà

    Dâng chiếc lược ngà Tiên Cô Nàng Tám
    Dâng chiếc lược ngà
    Đôi tay chải chuốt thật là khéo thay

    Cô Nàng Chín yểu điệu ai tày
    Đôi tay dâng một đôi giày để hầu ông
    Múa lượn bài bông tiên Cô Nàng Mười
    Múa lượn bài bông
    Đôi tay Cô nảy ngũ cung dịu dàng



    Trải chiếu chia bài Tiên Cô Mười Một
    Trải chiếu chia bài
    Tổ tôm đánh chắn thực là đố ai sánh bì

    Múa lượn xanh tiền Cô Mười Hai, múa lượn xanh tiền
    12 Cô tố nữ hầu giá đôi bên ông Bảy Bảo Hà

    bát vạn hùng binh lệnh ông Bảy sai bát vạn hùng binh
    Tàn vàng tán tía rước ông Bảy về Bảo Hà sơn Trang.

    8. Thánh ông Hoàng Tám
    Tên húy Ngài: Nùng Chí Cao
    Sắc phong tước hiệu: Thượng Đẳng Đại Vương.
    Đền thờ Ngài: Cao Bằng (đền Kỳ Sầm).

    9. Thánh ông Hoàng Chín

    Tên húy của Ngài: Chưa rõ
    Sắc phong tước hiệu: Thượng Đẳng Thần.
    Đền thờ của Ngài: Ở phía đảo ngoài biển Cờn.

    Ngài là con đức Vua Cha, là Quan Hoàng có tính yểu điệu nhất. Về đồng mặc áo dài đen, chân đi guốc, tay cầm ô, mặc kiểu địa chủ thời cổ Việt Nam. Ông về đồng giáng bút, ngâm thơ, uống rượu bằng bát. Gốc tích của ông ít được lưu truyền, tuy nhiên ông có giáng trần, với tài văn chương, thơ phú kinh luân biệt tài. Ồng đăng khoa triều đình lúc tuổi vừa đôi tám. Và Ông cũng là một tướng tài được giao trọng trách thống lĩnh cửa Cờn Môn. Chính vì thế nhân dân còn gọi là Ông Hoàng Chín là Ông Cờn Môn. Sau ông còn là vị quan thanh liêm, cứu dân, giúp nước và luôn trợ người hữu duyên. Ông Chín Cờn cũng ít khi ngự về đồng. Cũng như ông Hoàng Tám Bát Quốc, thường những đồng cựu và sát căn duyên mới bắc ghế hầu ông

    10. Thánh ông Hoàng Mười

    Tên húy Ngài: Nguyễn Xí,
    Sắc phong:
    Đền thờ chính: Hà Tĩnh, Nghệ an
    Thân thế: Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh
    Ông Hoàng Mười:Theo truyền thuyết, ông Hoàng Mười là con thứ mười của Đức Vua cha Bát Hải Động Đình. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh. Vì thế, ông Hoàng Mười còn được nhân dân xứ Nghệ tôn vinh là "Đức thánh minh", là một vị quan nằm trong hệ thống điện thần thờ mẫu tứ phủ ở Việt Nam.
    Ông Hoàng Mười hay còn gọi là Ông Mười Nghệ An. Ông là con của Vua Cha Bát Hải Động Đình, vốn là thiên quan trên Đế Đình, thần tiên trong chốn Đào Nguyên. Theo lệnh ông giáng trần để giúp dân phù đời. Về thân thế của ông khi hạ phàm thì có rất nhiều dị bản. Theo như ở vùng Nghệ Tĩnh thì ông được coi là Lê Khôi, vị tướng tài, cháu ruột và là người theo Lê Lợi chinh chiến trong mười năm kháng chiến chống quân Minh, sau làm đến nguyên thần tam triều Lê gia, phong đến chức Khâm Sai Tiết Chế Thủy Lục Chư Dinh Hộ Vệ Thượng Tướng Quân. Lại có một dị bản khác cho rằng ông giáng xuống trần là Uy Minh Vương Lí Nhật Quang, con trai Vua Lí Thái Tổ, cai quản châu Nghệ An.
    Nhưng sự tích được lưu truyền nhiều nhất có lẽ là câu chuyện: Ông Mười giáng sinh thành Nguyễn Xí, một tướng giỏi dưới thời Vua Lê Thái Tổ, có công giúp vua dẹp giặc Minh, sau được giao cho trấn giữ đất Nghệ An, Hà Tĩnh (cũng chính là nơi quê nhà). Tại đây ông luôn một lòng chăm lo đến đời sống của nhân dân, truyện kể rằng có một lần xảy ra cơn cuồng phong làm đổ hết nhà cửa, ông liền sai quân lên rừng đốn gỗ về làm nhà cho dân, rồi mở kho lương cứu tế. Trong một lần đi thuyền trên sông, đến đoạn chân núi Hồng Lĩnh, thì lại có đợt phong ba nổi lên, nhấn chìm thuyền của ông và ông đã hóa ngay trên sông Lam. Trong khi mội người đang thương tiếc cử hành tang lễ, thì trời quang đãng, nổi áng mây vàng, bỗng thấy thi thể của ông nổi trên mặt nước nhẹ tựa như không, sắc mặt vẫn hồng hào tươi tắn như người đang nằm ngủ, khi vào đến bờ, đột nhiên đất xung quanh ùn ùn bao bọc, che lấy di quan của ông. Lúc đó trên trời bỗng nổi mây ngũ sắc, kết thành hình xích mã (có bản nói là xích điểu) và có các thiên binh thiên tướng xuống để rước ông về trời. Sau này khi hiển ứng, ông được giao cho trấn thủ đất Nghệ Tĩnh, ngự trong phủ Nghệ An. Nhân dân suy tôn ông là Ông Hoàng Mười (hay còn gọi là Ông Mười Củi) không chỉ vì ông là con trai thứ mười của Vua Cha (như một số sách đã nói) mà còn vì ông là người tài đức vẹn toàn, văn võ song toàn (“mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn), không những ông xông pha chinh chiến nơi trận mạc, mà ông còn là người rất hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú văn chương, không chỉ nơi trần thế mà các bạn tiên trên Thiên Giới ai cũng mến phục, các nàng tiên nữ thì thầm thương trộm nhớ. Sau các triều đại đã sắc tặng Ông Mười tất cả là 21 sắc phong (tất cả đều còn lưu giữ trong đền thờ ông).
    Cùng với Ông Hoàng Bảy, Ông Hoàng Mười cũng là một trong hai vị Ông Hoàng luôn về ngự đồng, cũng bởi vì ông còn được coi là người được Vua Mẫu giao cho đi chấm lính nhận đồng (khác với Ông Bảy, những người nào mà sát căn Ông Mười thì thường hay hào hoa phong nhã, giỏi thi phú văn chương). Khi ngự về đồng Ông Mười thường mặc áo vàng (có thêu rồng kết uốn thành hình chữ thọ), đầu đội khăn xếp có thắt lét vàng, cài chiếc kim lệch màu vàng kim. Ông ngự về tấu hương rồi khai quang, có khi ông múa cờ xông pha chinh chiến, có khi lại lấy quạt làm quyển thư, lấy bút gài đầu để đi bách bộ vịnh phú ngâm thơ, có khi ông lại cầm dải lụa vàng như đang cùng người dân lao động kéo lưới trên sông Lam (quan niệm cho rằng đó cũng là ông kéo tài kéo lộc về cho bản đền) và ông cũng cầm hèo lên ngựa đi chấm đồng như Ông Bảy, người ta cũng thường dâng tờ tiền 10.000đ màu đỏ vàng để làm lá cờ, cài lên đầu ông. Khi ông ngự vui, thường có dâng đọi chè xanh, miếng trầu vàng cau đậu, thuốc lá (là những đặc sản của quê hương ông) rồi cung văn tấu những điệu Hò Xứ Nghệ rất mượt mà êm tai.
    Đền thờ Ông Hoàng Mười là Đền Chợ Củi, chính là nơi năm xưa di quan ông trôi về và hóa, qua cây cầu Bến Thủy, bên sông Lam, núi Hồng Lĩnh, thuộc xã Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (cũng chính là nơi quê nhà của Ông Mười). Ngày ông giáng sinh 10/10 âm lịch được coi là ngày tiệc chính của ông, vào ngày này, du khách thập phương nô nức đến chiêm bái cửa đền ông thật là tấp nập, trải dải đến tận đôi bờ sông Lam, người ta dâng ông: cờ quạt bút sách ... để cầu tài cầu lộc cũng là cầu mong cho con em được đỗ đạt khoa cử, thành tài để làm rạng danh tổ tông.
    Văn dâng Ông Hoàng Mười:
    Thấp thoáng trăng thanh cành hồng thấp thoáng trăng thanh
    Nghệ An có đức thánh minh ra đời .


    Nghe thường hội nghị Quỳnh Tiên nghe tin
    Hoàng tới thiên duyên chạnh lòng Vân Tiên
    Vân tiên mượn cánh chim hồng Vân tiên
    Vân Tiên mượn cánh chim hồng


    Vân Tiên mượn cánh chim hồng xin Ông Mười
    Soi tỏ xin người soi tỏ tấc lòng gió trăng cầu ô
    Cầu ô đem bắc sông Ngân cầu ô
    Cầu ô đem bắc sông Ngân

    Nhịp cầu ô đem bắc sông ngân Hoàng ngồi trong
    Cung quảng ngồi trong cung quảng
    Đêm xuân mơ màng bóng trăng
    Bóng trăng soi tỏ canh ơ ơ trường bóng trăng
    Bóng trăng trăng soi tỏ canh trường


    Bóng ông trăng soi tỏ canh ơ trường mà đã cam
    Tấc dạ đã mà cam tấc dạ tiết sương cùng ơ ơ người bạn Thủy Tiên
    Thủy Tiên dìu dặt đón mời Thủy Tiên
    Thủy Tiên dìu a dặt đón mời

    Thỉnh bóng Ông Mười hôm nay thỉnh bóng Ông Mười
    Đèn nhang khuya sớm sớm hôm phụng thờ
    Trong Kinh có chữ Nam Mô

    Rượu bồ đào xin Ông Mười nhấp cho say
    Trăm hoa đua nở mừng ngày mừng ngày tiệc vui
    Quỳnh Tiên chuốc chén rượu đào
    Nhất tuần sơ nâng lên Bệ Ngọc
    Nâng lên kính Mẫu để các O dâng mời
    Là mời rước Ông Mười xơi

    Tay Tiên rót chén rượu đào
    Nâng lên Bệ Ngọc, nâng lên kính Mẫu để các o dâng vào
    Là mời rước Ông Mười xơi

    Tam bôi ba chén rượu đào
    Nâng lên Bệ Ngọc, nâng lên kính Mẫu để bốn O dâng mời
    Là mời rước Ông Hoàng Mười xơi


    Một lối lên Tiên nhẹ gót trần
    Mây trời tỏ thất vạn cảnh xuân
    Ba sinh gặp gỡ say vì cảnh
    Một giấc mơ màng thú cảnh tiên

    Văng vẳng bên tai cung đàn nguyệt
    Vang vang trong động thú trào xuân
    Chẳng hay cảnh ấy về đâu tả
    Mong tới nguyên đào vãng chủ nhân

    Vườn đào mong tới hỏi thăm
    Bông huê đào nở một năm mấy lần
    Tiễn đưa sao lòng cứ tần ngần
    Hoa đào năm ngoái mười phần còn kém xa

    À ơi chứ nước sông Lam răng là trong là đục
    Gạo chợ Chùa vừa trắng vừa trong
    Đường vô xứ Nghệ Đồi núi loanh quanh
    Nơi Ông Mười giá ngự đẹp như tranh tranh họa đồ

    À ơi nhớ quê hương Ông có dòng sông Lam có ngọn núi Hồng
    Nghe văng vẳng bên tai câu hò Vĩ dặm
    Hỏi rằng các O có mặn nồng ra răng
    sông Lam Hồng Lĩnh đẹp như tranh
    Tạo hóa xưa nay đã lập thành
    muôn thuở núi sông bền vững mãi
    Đất Nam Đàn Nghi Lộc còn danh

    chứ núi Hồng Lĩnh ai dăng mây bạt
    Nước sông Lam trong đục dôi ờ dòng
    Đêm sông Lam đêm sông Lam nằm nghe sóng vỗ
    Nhớ binh hùng nhớ tiếng vó ngựa năm xưa

    thành Huế ơi ông Hương núi Ngự
    Cầu Tràng Tiền bến Ngự đẹp long lanh
    5 cửa ô về với Kinh Thành
    Nam Đàn xứ Nghệ còn nghe nức danh Quan Hoàng Mười

    Ai vô xứ Nghệ thời vô
    Ai vô trong xứ Nghệ mà thời vô hè
    Qua cầu bến Thủy tới kinh đô Quan Hoàng Mười

    Ở trong xứ Nghệ rằng vui nhất có chợ Vinh a
    Xứ Nghệ vui nhất có chợ Vinh
    Đẹp có cầu Bến Thủy tối anh linh có Đền Quan Hoàng Mười




    Ông Mười mặc áo vàng anh
    Ông Mười mặc áo chứ vàng anh kìa
    Bút tiên đố ai mà họa được bức tranh Quan Hoàng Mười
    Thế gian nhớ miệng Hoàng cười
    Thế gian nhớ miệng ông Mười cười
    Nhớ khăn Hoàng đội nhớ lời Hoàng truyền ban

    Xưa kia cách trở con sông Lam
    Xưa kia cách trở con sông Lam
    Ngày nay có cầu Bến Thủy bắc ngang sang đôi bờ

    12 O Tố nữ muốn theo hầu
    Trâm hoa lược giắt lụa tàu vắt vai
    Chứ đầu lược khảm chân Hoàng dận đôi văn hài
    O Cả thì vào dâng điếu ngự
    Bắt O Nàng Đôi đi theo hầu

    O Nàng Ba gối xếp mà theo sau kìa
    O Nàng Ba gối xếp mà theo sau
    Đất lề quê thói o Tư têm trầu rước ông Mười xơi

    O Nàng Năm thì vào dâng giá mà gương soi
    O Nàng Năm dâng giá mà gương soi kìa
    Cùng O Nàng Sáu đứng ở bên ngoài chuốc rượu hầu ông

    O Nàng Bảy dâng hai đóa huê hồng
    O Nàng Bảy dâng hai đóa huê hồng kìa
    Cùng O Nàng Tám phò giá kiệu rồng rước ông Mười lên

    O Nàng Chín duyên dáng chẳng ai tày kìa
    O nàng Chín duyên dáng chẳng ai tày
    Sáo tiêu O Chín thổi sao cứ đầy vơi, đầy vơi chứ lòng Hoàng


    O Nàng 10 cứ thỏ thẻ chim oanh vàng
    Ngâm câu hò Vĩ dặm khiến cho lòng Hoàng cứ lâng lâng

    Đôi O thì vào múa lượn chứ bài bông
    Đôi O thì vào múa lượn chứ bài bông
    12 O Tố nữ hầu giá đôi bên Quan Hoàng Mười

    Lấp lánh giang khê chiếc thuyền ai lấp lánh giang khê
    Thuyền thoi Tố nữ chèo sang rước ông Hoàng mười về đất Nghệ An.
     
    Chỉnh sửa cuối: 23/4/14
  10. connuoiphatto

    connuoiphatto New Member

    VI.TỨ PHỦ THÁNH CÔ

    1. Cô Đệ Nhất Thượng Thiên

    Cô Nhất Thượng Thiên. Cô cũng vốn là con Vua Cha dưới Thủy Tề dưới Thoải Cung, được phong là Thiên Cung Công Chúa trên Thiên Đình. Có người nói rằng cô cũng với Cô Chín hầu cận bên cạnh Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên (tức Mẫu Liễu Hạnh) lại có nơi quan niệm cô là Tiên Cô kề cận, tay biên tay chép kề bên Chầu Đệ Nhất Thượng Thiên (tuy nhiên do có quan niệm là Mẫu Đệ Nhất cũng chính là chầu cho nên hai ý kiến này hầu như là thống nhất với nhau). Cô giá ngự trong cung tòa, cận bên Mẫu cho nên khi đến các đền phủ người ta thường có lời tấu để cô kêu thay lạy đỡ trước cửa Vua Mẫu Đình Thần Tứ Phủ. Khi thanh nhàn cô cưỡi gió cưỡi mây rong chơi khắp chốn, từ Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa cho đến tận Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Gia Định...
    Cô là tiên cô thần thông lục trí, cô chấm đồng người nết na thảo hiền rồi đem về tiến Mẫu trong Đền Sòng Sơn. Cô Nhất khá ít khi ngự đồng, chỉ những người sát căn cô mới hay hầu cô hoặc trong các dịp khai đàn mở phủ Cô Nhất về chứng đồng tân lính mới. Khi ngự về Cô Nhất mặc áo màu đỏ (áo gấm hoặc áo lụa thêu phượng), đầu đội khăn đóng (khăn vành dây), thắt khăn và vỉ lét đỏ. Cô làm lễ khai cuông rồi múa quạt. Cô Nhất thường được thờ vào ban Tứ Phủ Thánh Cô ở trong các bản đền.
    Cũng có một số người nói rằng có đền cô là Đền Cô Nhất ở trong đất Nghệ An giáp Thanh Hóa với món đặc sản bánh ngào.

    2.Cô Đôi Thượng Ngàn

    Cô vốn là con Vua Đế Thích trên Thiên Cung, được phong là Sơn Tinh Công Chúa, ra vào hầu cận bơ tòa Vua Mẫu trong điện ngọc, nơi tiên cảnh. Sau cô giáng sinh xuống đất Ninh Bình làm con gái nhà một chúa đất ở chốn sơn lâm, khi hạ sinh, Cô Đôi rất xinh đẹp: da trắng, tóc xanh mượt mà, mặt tròn, lưng ong thon thả.
    Sau này cô quyết chí đi theo hầu Đức Diệu Tín Thuyền Sư Lê Mại Đại Vương (chính là Mẫu Thượng Ngàn, Bà Chúa Sơn Trang) học đạo phép để giúp dân. Rồi khi về thiên, cô được theo hầu cận ngay bên cạnh Mẫu Thượng Ngàn Đông Cuông Tuần Quán được Mẫu Bà truyền cho vạn phép, giao cho cô dạy người rừng biết thống nhất về ngôn ngữ (nên có khi còn gọi là Cô Đôi Đông Cuông), cũng có người cho rằng cô về theo hầu cận Chầu Đệ Nhị. Lúc thanh nhàn cô về ngự cảnh sơn lâm núi rừng ở đất Ninh Bình quê nhà, trong ba gian đền mát, cô cùng các bạn tiên nàng ca hát vui thú tháng ngày trên sườn dốc Bò, có khi cô biến hiện ra người thiếu nữ xinh đẹp, luận đàm văn thơ cùng các bậc danh sĩ, tương truyền cô cũng rất giỏi văn thơ, làm biết bao kẻ phải mến phục. Đền Đông Cuông nơi thờ Mẫu Thượng Ngàn và Cô Đôi Thượng Ngàn
    Cô Đôi cũng là tiên cô cai quản kho lộc Sơn Lâm Sơn Trang, người trần gian ai nhất tâm thì thường được Cô Đôi ban thưởng, nhược bằng có nợ mà không mau trả lễ cô lại bắt đền nặng hơn. Cô Đôi Thượng rất hay ngự về đồng, vì danh tiếng cô lừng lẫy ai ai cũng biết đến, đệ tử cô đông vô số và cô cũng hay bắt đồng. Trong đại lễ khai đàn mở phủ người ta thường dâng lễ vàng cây lên 5 tiên cô là Cô Đôi, Cô Bơ, Cô Sáu, Cô Chín và Cô Bé, trong đó Cô Đôi thường là giá cô ngự về đầu tiên (mở khăn cho hàng cô) để chứng lễ. Khi cô về ngự thường mặc áo lá xanh hoặc quầy đen và áo xanh (ngắn đến hông), trên đầu có dùng khăn (khăn von hoặc khăn vấn) kết thành hình đóa hoa, cũng có một số nơi dâng cô áo xanh, đội khăn đóng (khăn vành dây) và thắt lét xanh, hai bên có cài hai đóa hoa. Cô về đồng thường khai cuông rồi múa mồi, múa tay tiên hái tài hái lộc cho đồng tử.
    Vì Cô Đôi Thượng hầu cận bên Mẫu Đông Cuông nên đền cô cũng được lập gần Đền Đông Cuông, trong đền thờ Cô Đôi và Cô Bé Đông Cuông, cách đền chính khoảng 500m, trước cửa đền có giếng nước quanh năm trong mát. Nhưng chính đền của cô lại là Đền Cô Đôi Thượng Ngàn tại xã Nho Quan, Ninh Bình (qua rừng quốc gia Cúc Phương) thuộc làng Bồng Lai .
    Văn dâng Cô Đôi Thượng:
    Tiến quả dâng hoa, chú Tiểu Đồng tiến quả dâng hoa
    thỉnh mời Cô Đôi xuống ngự dăm ba chén quỳnh

    Thiên Thai là cảnh bồng lai
    Tấu Cô Đôi Thượng đại tài ai qua
    Cô đang hầu Vua hầu Mẫu trong tòa

    Hầu Vua hầu Mẫu trong tòa
    Tiếng tăm lừng lẫy Vua Bà yêu Cô
    Cô ngự về Đồng đánh phấn soi gương


    Ngự về Đồng đánh phấn soi gương
    Lược ngà chải chuốt khăn bành dây Cô vấn đầu
    Vui chơi quán sở tầng lầu
    Xe giá lên chầu Thượng Đế Vua Cha
    Đệ tử Cô vô số hằng hà

    Đệ tử Cô vô số hằng hà
    Chiêu tài tiếp lộc gần xa cho đời
    Đứng trên ngàn rừng xanh ngăn ngắt
    Thấy Cô Đôi về ngỡ Phật Chùa Quỳnh Lâm
    Đôi tay Cô đàn miệng hát ca ngâm

    Đôi tay cô đàn miệng Cô hát ca ngâm
    Điểm đa điểm đót bổng trầm nhặt khoan
    Vượn ru con trên non rầu rĩ
    Dưới suối ngàn năn nỉ véo von
    Cô Đôi vui về tu ở trên non

    Cô Đôi vui về, Cô Đôi vui về tu ở trên non
    Cô Mường cô Mán ca ngâm chơi bời
    Cô mấy hát tiếng đầy tiếng vơi mấy lã chã
    Thú hữu tình càng ngự càng vui
    Ba gian đền mát thảnh thơi


    Ba gian đền mát thảnh thơi
    Sớm rong sườn núi tối Cô Đôi ngồi đầu non
    Cô Đôi ca rằng tang tích tình tang
    Ai ơi có biết Cô ở trên ngàn cùng trăng
    Ba bốn bề hưu quạnh vắng tanh

    Ba bốn bề hưu quạnh vắng tanh
    Măng tre măng nứa trúc xanh đầy ngàn
    Con chắp đôi tay con bái lạy Cô Đôi Ngàn


    Bài sai đối triệu Lục Cung
    Nàng ân nàng ái vốn dòng sơn trang
    Tính Cô hay măng trúc măng giang

    Song Đăng lai, kìa song Đăng Lai thấp thoáng bên lầu
    Song Đăng Cô Đôi Công Chúa múa hầu trên động sơn trang
    Ánh đăng soi sáng tựa hào quang

    Đăng soi sáng tựa hào quang
    Song đăng Cô múa dịu dàng khoan thai
    Thắt lưng đai giọt ngắn giọt dài


    Lưng đai giọt ngắn giọt dài
    Tay cầm đôi đuốc chân đi hài dạo hoa
    Chạnh niềm vàng đá người ta

    Chắp đôi tay bái lậy Cô Đôi Ngàn
    Sơn lâm Công chúa giáng đàn chưng đây
    Trần gian vất vả khôn thay


    Trần gian vất vả khôn thay
    Thỉnh Cô Đôi xuống đền này chứng minh
    Cô là Công chúa Sơn tinh


    Cô là Công chúa Sơn tinh
    Mặt tròn vành nguyệt má xinh phấn hồng
    Làn da Cô trắng tựa tuyết đông

    Làn da trắng tựa tuyết đông
    Tóc già già biếc lưng ong dịu dàng
    Chân Cô đi đưa nhởn đưa nhang



    Chân Cô đi đưa nhởn đưa nhang
    Bước nào là bước Tiên Nàng Nguyệt Nga
    Cô Đôi chạnh niềm vàng đá người ta



    Cô Đôi chạnh niềm vàng đá người ta
    Chau mày quân tử xót xa iêng hùng
    Mỗi năm là một não nùng


    Mỗi một năm a là một não nùng
    Dậy chim nhắn cá vặn hùng văn nhân
    Chứ vẻ nào mà chẳng thêm xuân
    Xót xa nhiều nỗi thanh tân chơi bời
    Tốt tươi nhụy nở hoa cười



    Tốt tươi iì nhụy nở hoa cười
    Đáng thanh đáng lịch đáng người Thần Tiên
    Nàng ân nàng ái ở bên.


    3. Cô Ba Thoải Cung (Cô Bơ)

    Cô vốn là con Thủy Tề ở dưới Thoải Cung, được phong là Thoải Cung Công Chúa, giá ngự vào ra trong Cung Quảng Hàn. Có người còn nói rằng, Cô Bơ là con gái vua Long Vương rất xinh đẹp nết na nên được Đức Vương Mẫu (có người cho rằng đó là Mẫu Cửu Trùng Thiên) cho theo hầu cận, chầu chực trong cung cấm. Sau này Cô Bơ Thoải giáng sinh vào thời Lê Trung Hưng, tương truyền sự tích như sau: Đức Thái Bà nằm mộng thấy có người con gái xinh đẹp, dáng ngọc thướt tha, tóc mượt mắt sáng, má hồng, môi đỏ, cổ cao ba ngấn, mặc áo trắng đến trước sập nằm dâng lên người một viên minh châu rồi nói rằng mình vốn là Thủy Cung Tiên Nữ, nay vâng lệnh cao minh lên phàm trần đầu thai vào nhà đó, sau này để giúp vua giúp nước, thì Thái Bà thụ thai.
    Đến ngày 2/8 thì bỗng trên trời mây xanh uốn lượn, nơi Thủy Cung nhã nhạc vang lên, đúng lúc đó, Thái Bà hạ sinh ra được một người con gái, xem ra thì nhan sắc mười phần đúng như trước kia đã thấy chiêm bao. Thấy sự lạ kì vậy nên bà chắc hẳn con mình là bậc thần nữ giáng hạ, sau này sẽ ra tay phù đời nên hết lòng nuôi nấng dạy dỗ bảo ban. Cô lớn lên trở thành người thiếu nữ xinh đẹp, tưởng như ví với các bậc tài nữ từ ngàn xưa, lại giỏi văn thơ đàn hát. Đến khi cô vừa độ trăng tròn thì cũng là lúc nước nhà phải chịu ách đô hộ của giặc Minh, cô cùng thân mẫu lánh vào phía sâu vùng Hà Trung Thanh Hóa, nơi ngã ba bến Đò Lèn, Phong Mục. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, cô đã có công giúp vua Lê trong những năm đầu kháng chiến (và có nơi còn nói rằng cô cũng hiển ứng giúp nhà Lê trong công cuộc “Phù Lê Dẹp Mạc” sau này).
    Trong dân gian vẫn còn lưu truyền lại câu chuyện sau: Vào những năm đầu khởi nghĩa, quân ta (ý nói nghĩa quân do vua Lê Lợi chỉ huy) vẫn còn yếu về lực lượng, thường xuyên bị địch truy đuổi, một lần Lê Lợi (có sách nói là Lê Lai) bị địch đuổi đến ngã ba sông Thác Hàn ở Hà Trung thì gặp Cô Bơ đang tỉa ngô liền xin cô giúp đỡ, cô bảo người lấy quần áo nông dân mặc vào, còn áo bào thì đem vùi xuống dưới ruộng ngô rồi cũng cô xuống ruộng giả như đang tỉa ngô. Vừa lúc đó thì quân giặc kéo đến, chúng hỏi cô có thấy ai chạy qua đo không thì cô bảo rằng chỉ có cô và anh trai (do Lê Lợi đóng giả) đang tỉa ngô, thấy vậy quân giặc bỏ đi. Lê Lợi rất biết ơn cô, hẹn ngày sau đại thắng khải hoàn sẽ rước cô về Triều Đình phong công và phong cô làm phi tử. Sau đó cô cũng không quản gian nguy, bí mật chèo thuyền trên ngã ba sông, chở quân sĩ qua sông, có khi là chở cả quân nhu quân lương. Có thể nói trong kháng chiến chống Minh thì công lao của cô là không nhỏ. Đến ngày khúc hát khải hoàn cất lên thì vua Lê mới nhớ đến người thiếu nữ năm xưa ở đất Hà Trung, liền sai quân đến đón, nhưng đến nơi thì cô đã thác tự bao giờ, còn nghe các bô lão kể lại là ngày qua ngày cô đã một lòng đợi chờ, không chịu kết duyên cùng ai, cho đến khi thác hóa vẫn một lòng kiên trinh.
    Người ta cho rằng, Cô Bơ được lệnh Vua Cha giáng trần để giúp vua, đến chí kì mãn hạn thì có xe loan lên đón rước cô về Thủy Cung. Sau đó cô hiển linh giúp dân chúng ở vùng ngã ba sông, độ cho thuyền bè qua lại được thuận buồm xuôi gió vậy nên cô còn có danh hiệu là Cô Bơ Bông (do tích cô giáng ở ngã ba sông) hay Cô Bơ Thác Hàn (theo tên gọi ở nơi quê nhà). Ai hữu sự đến kêu van cửa cô đều được như ý nên danh tiếng cô vang lừng khắp nơi nơi Cô Bơ luôn giá ngự về đồng, già trẻ, từ đồng tân đến đồng cựu, hầu như ai cũng hầu về Cô Bơ Bông. Khi cô giáng vào ai, dù già hay trẻ thì sắc mặt đều trở nên hồng hào tươi tốt, đẹp đẽ lạ thường. Khi cô ngự đồng, cô thường mặc áo trắng, đầu đội khăn đóng (khăn vành dây) có thắt lét trắng (có khi dùng thắt dải lưng hồng) rồi cô cầm đôi mái chèo, bẻ lái dạo chơi khắp nơi. Lúc chèo thuyền có khi có còn khoác thêm chiếc áo choàng trắng, trên khăn có cài ba nén hương, bên hông có dắt tiền đò, rồi khi chèo thuyền xong, cô lại cầm dải lụa để đi đo gió đo nước đo mây. Lúc cô an tọa người ta thường xin cô thuốc để trị bệnh, vậy nên Cô Bơ ngự về thường hay làm phép “thần phù” để ban thuốc chữa bệnh. Vì theo quan niệm nguyên xưa Cô Bơ Bông hầu cận Mẫu Thoải, lại theo sự tích nơi quê nhà cô là ở đất Hà Trung, Thanh Hóa, ngã ba Bông bến đò Lèn nên đền cô được lập ở đó, gần đền Mẫu Thác Hàn (chính là Mẫu Thoải), gọi tên là Đền Cô Bơ Bông thuộc xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trước đây đường đi vào rất khó khăn, nhưng hiện giờ đã được tu sửa nên giao thông đã dễ dàng hơn
    Đền cô là nơi thắng cảnh “trên bến dưới thuyền”, nơi giao của Ngũ huyện kê: “Một tiếng gà gáy năm huyện đều nghe” cũng với danh tiếng anh linh của tiên cô nên khách thập phương đến chiêm bái, cầu xin nhân duyên, khoa cử, làm ăn rất đông đúc. Thuyền bè dưới bến sông qua lại đều phải đốt vàng mã kêu cô, rồi những người đến kêu cầu đều dâng cô nón trắng hài cườm, võng lụa thuyền rồng
    Văn dâng Cô Đôi Bơ Thoải cung:
    Là bóng Cô Bơ Mẫu hiển danh là bóng Cô Bơ
    Lên tâu xuống giọng trong tòa Thoải Cung


    Nhang dâng một triện trống điểm ba hồi
    trống điểm ba hồi
    Đệ tử nay dâng tiến bản văn mời
    Dâng sự tích Cô Bơ Thoải Cung Công chúa

    Tiền duyên Tiền duyên cô sinh ở hạ giới tòa Long cung
    Hạ giới tòa Long cung
    Biến hóa lên về Động Đình Chung
    Thác sinh xuống làm con Vua, con Vua Thủy Tộc


    Ba nghìn, ba nghìn tì nữ
    Trăm ả cô tì hầu
    Trăm ả cô tì hầu
    Người mừng vui sắm sửa trầu cau
    Kẻ hầu hạ thì nâng khăn, nâng khăn sửa túi

    Cung cấm Quảng Ngàn, Hằng Nga Cung Cấm Quảng Ngàn
    Mẫu sai Cô xuống dương gian Ngự Đồng
    Vốn xưa hầu Mẫu Thoải Cung

    Hầu Mẫu Thoải Cung, Vốn xưa hầu Mẫu Thoải Cung
    Hài hoa dáng ngọc hầu trong lâu đài
    Tuổi vừa mười tám đôi mươi


    Cô Tô Thiền ngoại Hàn Sơn Tự
    Dạ bán trung thanh đáo Khách Thiền
    Thuyền rằng thuyền ai mà đậu bến Cô Tô nửa đêm
    Nửa đêm Cô Bơ nghe vang vọng tiếng chuông Đền
    Cô Bơ nghe vang vọng tiếng chuông Đền Hàn Sơn
    Lên tiếng dô khoan, khoan khoan dô khoan
    Chân Cô bước xuống thuyền
    khoan khoan dô khoan
    Phách nhất Cô Ba ơi
    khoan khoan dô khoan
    phách nhị cô dận nhịp
    khoan khoan dô khoan
    Phách ba Cô cầm chèo
    khoan lại hò khoan
    Xin Cô mở lái ra
    khoan khoan dô khoan
    Chèo từ Cô chèo từ
    khoan khoan dô khoan
    Hàn thác chèo sang
    khoan khoan dô khoan
    Về phủ giáp ba
    khoan lại hò khoan
    Chèo sang đền chính
    khoan khoan dô khoan
    Chèo ra Công Đồng
    khoan lại hò khoan
    Chèo về mà Phủ Bóng
    khoan khoan dô khoan
    Cho tới Đền Gioi
    khoan khoan dô khoan
    Tới Đền Đại lộ
    khoan lại hò khoan
    Đền Dầm mà Đền Sở
    khoan khoan dô khoan
    Đại lộ Đền Đức Ông
    khoan khoan dô khoan
    Vào Đền Cây Quế
    khoan khoan dô khoan
    Qua cửa Xích Đằng
    khoan lại hò khoan
    Tới Đền Lảnh Giang
    Khoan khoan dô khoan
    Bái yết Quan Đệ Tam
    Khoan lại hò khoan
    Rồi ngược dòng sông
    khoan khoan dô khoan
    Ngắm cảnh ngắm Bể
    khoan khoan dô khoan
    Đền rừng Đền núi
    khoan lại hò khoan
    Qua Đền cửa sông
    khoan khoan dô khoan
    Sang Chùa Bồ Đề
    khoan lại hò khoan
    Qua Chùa Lâm Du
    khoan khoan dô khoan
    A Di Đà Phật
    khoan khoan dô khoan
    Sang chơi Đền Ghềnh
    khoan lại hò khoan
    Chầu Đức Mẫu thoải
    khoan khoan dô khoan
    Chầu Đệ Tứ Khâm Sai
    khoan khoan dô khoan
    Cô lại về Đền đây
    khoan khoan dô khoan
    Cô Bơ săm săm
    khoan khoan dô khoan
    Ngắm cảnh ngắm Đền
    khoan lại hò khoan
    Đền Sinh cảnh đẹp
    khoan khoan dô khoan
    Bốn mùa phong quang
    khoan khoan dô khoan

    Đến bến Cô Ba ơi
    Xin Cô gác mái chèo bơi
    Để Cô rước Mẫu lên Đền
    Khoan hò dô khoan


    Một mái chèo
    chèo về Bát Hải danh tiếng đồn
    cô Bơ thoải Mẫu yêu mặt tròn
    mặt tròn ba ngấn cổ kiêu
    môi son má phấn mỹ miều nết na
    sông Thác Ngàn Cô Bơ ngự chốn ngã ba


    Thác Hàn ngự chốn ngã ba
    Thuyền bè xuôi ngược phải nương nhờ tay cô
    Cô ra tay chữa bệnh hạnh phù
    Trị bệnh Cô Bơ hạnh phù


    Ra tay chữa bệnh hạnh phù
    tàn nhang nước thải ban Cô cho lại lành
    Cô lên tâu xuống giọng một mình

    Lên tâu xuống giọng một mình thông mây
    Lọn gió tính tình ngao du



    Thoi Cô qua cửa thần Phù
    ai khéo tu thì nổi
    Vụng tu thì chìm
    Cao đầu, tín ngưỡng ai ơi.

    ---------- Post added at 01:05 PM ---------- Previous post was at 01:05 PM ----------

    4. Cô Tư Ỷ La, Cô Tư Địa Phủ

    Cô Tư Ỷ La cũng vốn là con vua Đế Thích chính cung. Theo lệnh vua cha, cô theo hầu Mẫu Thượng Ngàn tại đất Tuyên Quang. Về sau, nơi Mẫu giá ngự đó, người ta lập đền Mẫu Ỷ La nên cô cũng được gọi là Cô Tư Ỷ La. Tương truyền rằng, Mẫu bà rất yêu quý, thường cho Cô Tư kề cận bên mình. Vậy nên đúng như các tư liệu ghi lại thì chính xác là Cô Tư hầu cận Mẫu Thượng Ngàn chứ không phải cô hầu cận Chầu Bà Đệ Tứ Khâm Sai như chúng ta vẫn thường nghĩ. Ngoài ra Cô Tư còn có một danh hiệu khác là Cô Tư Tứ Tổng Tây Hồ. Qua ước đoán, có thể suy ra rằng danh hiệu này là do Cô Tư đã từng giáng hiện tại đất Tây Hồ, Hà Nội rong chơi, và điển hình nhất là hiện nay vẫn có ban thờ Cô Tư tại đình Tứ Liên; một ngôi đình cổ nằm ở gần Phủ Tây Hồ, Hà Nội.
    Trong hàng Tứ Phủ Tiên Cô, Cô Tư Ỷ La thường hiếm khi thấy ngự về đồng nên nếu nói về y phục cũng như cung cách khi hầu giá Cô Tư hiện giờ là rất khó. Tuy nhiên theo phỏng đoán của người viết thì có thể khi hầu giá Cô Tư Ỷ La thường mặc xiêm áo màu vàng nhạt, cô có thể khai cuông và múa mồi hầu Mẫu (đây chỉ là ý kiến cá nhân đưa ra để mọi người tham khảo). Hiện nay Cô Tư vẫn được coi là thờ chính cung hầu Mẫu Thượng Ngàn trong đền Mẫu Ỷ La thuộc thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Ngoài ra, như đã nói ở trên, Cô Tư còn được thờ vọng trong Đình Tứ Liên ( xưa gọi là Đình làng Ngoại Châu), phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội. Khi các thanh đồng hầu tráng mạn đến giá Cô Tư,

    5. Cô Năm Suối Lân

    Cô Năm Suối Lân vốn là tiên nữ trên trời, theo lệnh cô giáng trần là người thiếu nữ dân tộc Nùng ở xứ Lạng. Có tích lại kể rằng Cô Năm là người thị nữ thân cận bên Chầu Năm Suối Lân ( lúc sinh thời khi chầu còn là công chúa) nên cô cũng được tôn hiệu là Cô Năm Suối Lân hay Cô Năm Sông Hoá. Sau này được sắc phong hiển thánh, Cô Năm vẫn được coi là tiên cô kề cận bên cửa Chầu Năm, cô được coi là tiên cô trông giữ bản đền Suối Lân. Ngoài ra cô còn được coi là vị thánh trấn tại cửa rừng Suối Lân (cung rừng này một cửa vào là cửa Suối Lân do Cô Năm Suối Lân trấn giữ, cửa ra là cửa Thất Khê do Cô Bé Đèo Kẻng trấn giữ), vậy nên, ai đi chiêm bái trên đất Lạng đều phải qua bái yết cửa Chầu Năm và Cô Năm Suối Lân. Dòng Suối Lân do Cô Năm cai quản bốn mùa trong xanh, nước thông về sông Hoá, tương truyền rằng đây là dòng suối thiêng của cô, nước suối xanh mát bốn mùa không bao giờ cạn, nếu ai có bệnh tật đến xin nước suối cửa cô, uống vào sẽ thuyên giảm, nhược bằng, người nào không biết mà xuống suối tắm hay rửa chân tay, làm ô uế dòng suối của cô sẽ bị cô hành cho sốt nóng mê sảng. Phép anh linh của Cô Năm Suối Lân còn được biết qua việc nếu có kẻ nào báng nhạo cô sẽ “xát lá han” làm cho kẻ đó luôn ngứa ngáy không yên, rồi cô cho đi lạc đường rừng.
    Trong hàng thánh cô, thường thấy Cô Năm Suối Lân ít khi ngự đồng hơn Cô Sáu Lục Cung, thường chỉ người nào có sát căn quả về cửa Cô Năm hoặc khi về đền Suối Lân thì có thấy thỉnh bóng Cô Năm ngự đồng. Khi hầu về giá Cô Năm Suối Lân, thường người ta mặc xiêm y như màu áo của Chầu Năm (nhưng là áo ngắn vạt), đó có thể là màu xanh thiên thanh hoặc xanh lá cây, cô chít khăn củ ấu, bên mình có túi vóc, dao quai. Ngự đồng cô khai cuông rồi múa mồi. Hiện nay Cô Năm Suối Lân được phụng thờ là thánh cô trấn giữ cửa Suối Lân Sông Hoá, cung thờ cô được đặt cạnh ngay đền chính của cửa Chầu Năm Suối Lân (huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn).

    Văn dâng Cô Năm Suối Lân:


    Trâm cài soi nước suối Lân
    Gót Tiên hài xảo cảnh rừng cũng thanh
    Hoa đua nở đầy ngàn tay hái
    Gùi trên vai nặng trái chín thơm
    Rung rinh quẩy gánh đầu non




    Rung rinh quẩy gánh đầu non
    Vẳng nghe chim khiếu véo von trên cành
    Động lá rừng chim oanh gọi bạn
    Nhác trông lên cánh nhạn chập chờn
    Con cuốc kêu gọi cảnh chiều hôm


    Cuốc kêu gọi cảnh chiều hôm
    Tiếng chim gõ kiến nỗi buồn bâng khuâng
    Tiếng ông hổ gầm âm vang trong động
    Đàn báo hoa dạo lượn muôn nơi
    Hươu nai ngơ ngác ven đồi


    Bầy nai đang ngơ ngác ven đồi
    Hang sâu vực thẳm núi đồi bao la
    Con suối nhỏ xuôi về Hữu Lũng
    Đàn cá vàng lơ lửng dưới khe
    Ban đêm hổ báo chầu về



    Ban đêm hổ báo chầu về
    Lung linh mầu sắc đua khoe trước đền
    Con suối nhỏ đôi bên cầu bắc
    Sau lưng đền đá chất chập trùng
    Có phép Tiên biến hóa thần thông


    Phép Tiên biến hóa thần thông
    Chầu sai Cô trấn cửa rừng suối Lân
    Cô Năm thương dân đêm khuya biến hiện
    Áo chàm xanh hiện nét thêu hoa
    Ban đêm gà gáy canh tà

    Ban đêm gà gáy canh tà
    Cất cao tiếng hú hiện ra cửa rừng
    Hô thần chú bỗng rừng núi chuyển
    Các cửa ngàn à bặt tiếng muông kêu
    Tà ma phách lạc hồn siêu



    Bài sai Thập nhị Tiên nàng
    Khăn điều áo thắm dịu dàng bước theo
    Đông phương cô cả dâng hoa


    Đêm đêm đốt đuốc đi rừng
    Xa nghe chim hú thú rừng gọi nhau
    Đuốc Tiên sáng tỏ bên lầu





    Soi cho cuốc cú dân tường
    Soi trong Nam Việt 4 phương thái hòa
    Song đăng chầu sáng tỏ gần xa



    Đuốc Tiên sáng tỏ gần xa
    Soi trong lục đạo trầm luân mọi loài
    Cứ đêm đêm Cô biến hiển ra người



    Chèo vào trong động bồng lai
    Tới hồ 3 bể 12 cửa rừng
    Rừng hoa quế rừng lan rừng cúc
    Chơi trong rừng đào rừng trúc ấy đồi thông
    Rừng thông điệp điệp trùng trùng

    Rừng thông điệp điệp trùng trùng
    Núi rừng quanh quách cảnh rừng bao la
    Suối trong uốn khúc ấy lượn qua
    Đầu non thác đổ mưa sa ấy sầm ầm
    Con chim kêu vượn hót hổ gầm


    Chim kêu vượn hót hổ gầm
    Búa rìu vang động đầu ghềnh cuối hang
    Con đường đi uốn khúc quanh sườn đồi

    Đường đi uốn khúc quanh sườn đồi
    Dân cư vắng vẻ bản làng lơ thơ
    Mái nhà sàn mấy nóc đứng trơ

    Mái nhà sàn mấy nóc đứng trơ
    Tiên thì Chầu ngự nàng tiên theo hầu
    Non xanh phong cảnh muôn mầu.


    6. Cô Sáu Lục Cung, Cô Sáu Sơn Trang

    Cô cũng vốn là thánh cô nguyên tích là người Nùng ở đất Hữu Lũng, Lạng Sơn. Có thuyết thì nói rằng Cô Sáu là tiên cô kề cận bên cửa Chúa Thượng Ngàn ở đất Trang Châu (chưa xác định rõ), còn lại đa phần đều thống nhất rằng Cô Sáu là người kề cận Chầu Lục Cung Nương nên cô mới được gọi là Cô Sáu Lục Cung hay còn có danh khác là Cô Sáu Sơn Trang. Khi nhân dân lập đền thờ phụng Chầu Bà, vẫn thỉnh Cô Sáu là cô trấn bản đền Lục Cung. Ngoài ra, theo một số tích cũ kể lại, Cô Sáu Lục Cung sinh thời là người con gái xinh đẹp nết na, lại có tài chữa bệnh, cô thường đi khắp rừng sâu núi thẳm để hái thuốc cứu người vậy nên khi hiển thánh, Cô Sáu vẫn thường được muôn dân tôn là tiên cô có tài chữa bệnh cứu người, dân chúng khắp nơi về cửa cô để xin thuốc tiên trị bệnh. Cô Sáu Sơn Trang cũng nổi tiếng đành hanh trên đời, nghiêm khắc trừng trị kẻ nào nhạo báng cửa cô.

    Trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô, Cô Sáu Lục Cung rất hay về ngự đồng. Các thanh đồng đạo quan thường thỉnh bóng Cô Sáu Sơn Trang ngự đồng không chỉ có khi về đền Lục Cung, về đất Lạng Sơn mà cả khi khai đàn mở phủ hay trong cả những dịp hầu vui, đón tiệc tiên thánh. Cô Sáu ngự đồng thường mặc áo lam hoặc áo tím chàm (ngắn vạt rộng tay). Cô ngự đồng khai cuông rồi múa mồi như các tiên cô trên Thượng Ngàn khác. Hiện nay Cô Sáu Lục Cung chính là thánh cô trấn giữ bản đền Lục Cung Chín Tư, cung thờ cô được xây ngay cạnh chính cung đền Chầu Lục Cung Nương (Chín Tư, Hữu Lũng, Lạng Sơn).
    Văn dâng Cô Sáu Sơn Trang:
    Đệ tử con dâng bài văn tấu
    Cung thỉnh mời Cô Sáu sơn trang


    Cảnh sơn lâm trên ngàn lồng lộng
    Lục cung từ thượng đẳng tối linh
    Cô Sáu càng thêm nức tiếng thơm danh


    Càng thêm nức tiếng thơm danh
    Trừ tà chữa bệnh cứu sinh cho đời
    Tin Cô Sáu vâng lời Mẫu Thượng
    Hái thuốc Tiên độ lượng nơi nơi
    Hài xanh đủng đỉnh lên đồi


    Hài xanh đủng đỉnh lên đồi
    Chân quấn xà cạp chiếc gùi trên vai
    Thật ưa ngắm đôi tai vòng bạc
    Thẳng đường ngôi mườn mượt tóc mây
    Da ngà vẻ mặt hây hây


    Da ngà vẻ mặt hây hây
    Môi Chầu cắn chỉ vẻ đầy khuôn trăng
    Cô Nở nụ cười hàm răng Cô rưng rức
    Má hây hây sực nức mùi hương bay
    Áo lam ngắn vạt dài tay


    Áo lam ngắn vạt dài tay
    Chít khăn củ ấu tóc mai hoa cài
    Bước khoan thai lên chầu Mẫu Thượng
    Sớ trạng dâng đệ tấu tam toà
    Mẫu yêu cô Sáu nết na



    Bài sai thập nhị Tiên Nàng
    Khăn điều áo thắm dịu dàng bước theo
    Đông phương Cô Cả dâng hoa

    Đêm đêm đốt đuốc đi rừng
    Xa nghe chim cú thú rừng gọi nhau
    Đuốc Tiên sáng tỏ bên Lầu


    Đuốc Tiên sáng tỏ gần xa
    Soi trong lục đạo trầm luân mọi loài
    Cứ đêm đêm Cô biến hiện ra người


    Soi cho Quốc cú dân tường
    Soi trong Nam Việt bốn phương thái hòa
    Song đăng Cô sáng tỏ gần xa


    Cô lên rừng, Cô lên rừng Cô đi hái thuốc
    Cô mong sao chúng con được hồi sinh
    Nhớ Cô nhớ cả rừng xanh
    Vì Cô đem lại tuổi xanh cho đời

    Mẫu yêu Cô Sáu nết na
    Độ cho các đệ tử khắp gần xa an lành
    Tính đành hanh trên đời có một
    Kẻ gian tà rất mực Cô Sáu không tha
    Cô thư phù luyện chú canh ba

    Thư phù luyện ấn canh ba aaa
    Canh tư đốt đuốc vào ra cửa rừng
    Cô cất tiếng hú núi rừng đều im bặt
    Cô Rước Mẫu về ngự đất trang châu
    Mẫu sai cô Sáu theo hầu


    Mẫu sai Cô Sáu theo hầu
    Vai đeo gùi thuốc đứng hầu một bên
    Đức Mẫu Thượng sai Cô lên đỉnh núi
    Cô Sáu vâng lời vượt suối mới băng ngàn
    Cô tới đâu cầm thú reo vang


    Tới đâu cầm thú reo vang
    Voi quỳ hổ phục hai bên i đàng cô đi
    Chim tử quy bên đồi nó gọi bạn
    Gà gáy rừng điểm sáng năm canh
    Cô hái hoa trẩy quả trên cành

    Hái hoa trẩy quả trên cành
    Ban công thưởng lộc cho những người hữu duyên
    Hôm nay lai giáng bản làng


    7. Cô Bảy Tân La, Cô Bảy Kim Giao, Cô Bảy Mỏ Bạch

    Cô Bảy Kim Giao. Cô vốn cũng là một tiên cô người dân tộc Mọi ở đấy Kim Giao, Mỏ Bạch, Thái Nguyên. Theo một số tích nói rằng cô cũng là người kề cận bên Chầu Bảy nên cũng được gọi là Cô Bảy Kim Giao hay còn có hiệu khác là Cô Bảy Tân La ( khi cô được theo hầu cận Chầu Bảy tại đền Tân La). Tương truyền rằng cô cũng là vị thánh cô có công giúp người dân Mọi biết trồng trọt chăn nuôi rồi cô cũng có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc. Vậy theo một số tài liệu thì chính xác Cô Bảy là Cô Bảy Kim Giao hay Cô Bảy Tân La (theo hầu Chầu Bảy Kim Giao) chứ không phải là Cô Bảy Tân An (theo hầu Ông Bảy Bảo Hà ) như một số người vẫn nói. Còn có sự tích nói rằng, đêm đêm cô thường hội họp cùng các bạn tiên nàng, mắc võng đào giữa hai cây kim giao rồi cùng đàn hát.

    Trong hội đồng Thánh Cô, Cô Bảy Kim Giao là một trong số các cô ít khi ngự đồng nếu không nói là hầu như không thấy. Vậy nên nếu để nói đến y phục và cung cách hầu giá Cô Bảy là rất khó, theo phỏng đoán của người viết thì có thể giá Cô Bảy Kim Giao mặc áo tím hoặc chàm xanh, cô ngự đồng khai cuông rồi múa mồi. Hiện nay, Cô Bảy vẫn được thờ làm cô bản đền tại chính cung Đền Kim Giao (Thanh Liên, Mỏ Bạch, Thái Nguyên) và còn cả tại đền Tân La ( Dốc Lã, Bảo Khê, Hưng Yên). Khi hầu tráng mạn đến giá Cô Bảy Kim Giao
     
    Chỉnh sửa cuối: 23/4/14
  11. connuoiphatto

    connuoiphatto New Member

    8. Cô Tám Đồi Chè

    Có một số ý kiến thống nhất rằng: Cô giáng sinh dưới thời Lê Thái Tổ dấy binh khởi nghĩa, cô là người thiếu nữ trồng hái búp chè tại vùng Phong Mục, Hà Trung, Thanh Hoá. Cô cũng có công giúp vua trong công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm nên khi thác hoá về trời, cô được phong công lập đền thờ, trấn giữ một bên bến song Đò Lèn, Phong Mục. Cô sinh thời là người con gái đảm đang nết na tần tảo, hái búp chè xanh trên đồi thường dung làm thuốc chữa bệnh nên mọi người thường tôn hiệu là Cô Tám Đồi Chè. Khi thanh nhàn, cô thường đủng đỉnh dạo chơi khắp vùng Hà Trung, Thanh Hoá, cũng có khi cô hiện hình bẻ lái con thuyền độc mộc trên dòng sông Mã.
    Trong hàng Tứ Phủ Thánh Cô, Cô Tám Đồi Chè hiếm khi về ngự đồng, chỉ có người nào sát về Cô Tám hoặc khi hầu đón tiệc tháng 6 tại các đền ở vùng Thanh Hoá. Cô Tám Đồi Chè ngự đồng thường mặc áo xanh quầy đen ( có nơi là áo tím hoa cà ) . Cô Tám cũng khai quang sau đó múa mồi, sau đó thường là múa tay tiên các điệu như người đi hái chè trên non. Hiện nay đền thờ Cô Tám Đồi Chè được thờ riêng tại đền cô thuộc đất Phong Mục, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, nếu đi từ đền Cô Bơ sang thì qua đò Lèn, đền cô rất khang trang nhưng ít người biết tới.

    9. Cô Chín Sòng Sơn, Cô Chín Thượng Ngàn

    Cô Chín Sòng Sơn :Còn gọi là cô Chín Giếng , một tiên cô tài phép , theo hầu Mẫu Sòng , lại có tài xem bói,1000 quẻ cô bói ra thì ko sai một quẻ nào,Cô có phép thần thông quảng đại , ai mà phạm tội cô về tâu với Thiên Đình cho thu giam hồn phách , rồi cô hành cho dở điên dở dại , sau Vua truyền dân lập đền cô ở xứ Thanh , ngay trước đền là chín chiếc giếng tự nhiên do cô cai quản .

    Còn có truyền thuyết về cô : Cô là Tiên Nữ hầu Mẫu trong đền Sòng , quản cai chín giếng , cô dạo chơi bốn phương khắp ngả trời Nam , sau về đến đất Thanh Hóa cảnh lạ vô biên , cô hài lòng liền hội họp thần nữ năm ba bạn cát , lấy gỗ cây sung làm nhà ,còn cây si thì cô mắc võng , nhân dân cầu đảo linh ứng liền lập đền thờ là Đền Cô Chín ở Thanh Hóa , cách đền Sòng Sơn khoảng 01km về phía đông. Khi ngự đồng cô mặc áo hồng phơn phớt màu đào phai , có khi cô máu quạt tiến Mẫu , múa cờ tiến Vua , cũng có khi cô thêu hoa dệt lụa , rồi lại múa cánh tiên .Ai cầu đảo cô đều sắm sửa lễ vật : Nón đỏ hài hoa vòng hồng để dâng cô đều được cô chứng minh .Ở một số địa phương đều thờ cô và tôn với các danh khác như Cô Chín Rồng , Cô Chín Suối nhưng chính đều là Cô Chín Sòng được thờ phụng

    Văn dâng Cô Chín Sòng Sơn:


    Thoảng ngát hương lan gió đưa thoảng ngát hương lan
    Trăng soi chín giếng nước vàng ờ long lanh


    Thanh Hoa đất lạ mạch án thủy huyền
    Mạch án thủy huyền
    Đền Sòng Sơn đất tốt tự nhiên
    Cảnh thiên tạo danh truyền Nam Việt

    Địa linh nhân kiệt thiên lý lai long
    Thiên lý a ới a lai long
    Giếng âm dương leo lẻo nước trong
    Thượng lưu để lưu hoa lịch thái

    Bốn phương đem lại gió mát trăng trong
    Gió mát a ới a trăng trong
    Thấy cảnh vui Cô Chín hài lòng
    Hợp Thần Nữ dăm ba bạn cát

    Cung cấm Quảng ngàn, Hằng Nga Cung cấm Quảng ngàn
    Mẫu sai Cô xuống dương gian ngự Đồng
    Vốn xưa hầu Mẫu Sòng Sơn

    Hầu Mẫu Sòng Sơn, vốn xưa hầu Mẫu Sòng Sơn
    Hài hoa hoán ngọc hầu trong lâu đài
    Tuổi vừa mười tám đôi mươi

    ba mươi sáu nan xương
    Đôi quạt tàu ba mươi sáu nan xương
    Cô cầm đến quạt
    Cô Chín lại thương các Thanh Đồng
    Tình tinh tình tính tang tình
    A tang tính tình tang

    Sóng lặng biển an, Cô Chín quạt cho sóng lặng biển an
    Cho trăng sáng tỏ xua tan đám mây mờ
    Tình tinh tình tính tang tình
    A tang tính tình tang

    Quạt gió quạt mây, Cô Chín lên giời quạt gió quạt mây
    Xuống sông quạt nước, Cô Chín về đây quạt cho các Thanh Đồng
    Tình tinh tình tính tang tình
    A tang tính tình tang

    Gió thu thoảng ngát hương lan trăng soi
    Chín giếng nước vàng long lanh thanh hoa
    Thanh hoa sơn thủy hữu tình có Cô
    Chín giếng anh linh khác thường sinh thời
    Sinh thời hầu cận Mẫu Vương

    Sinh thời hầu cận Mẫu Vương dọn hàng
    Quán mát âm dương núi Sòng cầm đàn
    Cầm đàn luyện khúc năm cung gọi hồn
    Non nước dục lòng thế nhân cung thương
    Cung thương gió chuyển mây vần

    Cung thương gió chuyển mây vần hồ cầm
    Vọng nguyệt hoa xuân mỉm cười sự lòng
    Sự lòng cố Quốc đầy vơi sông thu
    Nước chảy thuyền xuôi ngược dòng xế chiều
    Xế chiều sương tỏa tuyết đông

    Xế chiều sương tỏa tuyết đông công hồ
    Tạm biệt tạ lòng Quân Vương líu lô
    Líu lô tiếng vượn gọi bầy u ơ
    Tiếng dế nỉ non canh trường sáng trời
    Sáng trời gà gáy tan i sương


    Sáng trời gà gáy tan sương còn vang
    Khúc nhạc canh trường đầy vơi tuy rằng
    Tuy rằng theo Mẫu về giời anh linh
    Cô xuất kiệt núi đồi thanh hoa cây sung
    Cây sung Cô lấy làm nhà


    Cây sung Cô lấy làm nhà cây lan
    Cổ thụ lắm hoa nhiều cành, Đền thờ Cô
    Đền Cô phong cảnh hữu tình đôi bên
    Long Hổ đua tranh chầu vào
    Minh Đường tụ thủy hợp giao.


    10. Cô Mười Mỏ Ba

    Cô theo hầu Chầu Mười Mỏ Ba , giúp vua đánh giặc Ngô ,khi ngự về cô mặc áo vàng cầm cung kiếm cưỡi trên mình ngựa theo chầu bà xông pha trận mạc , sau này cô cũng được thờ tại đền Chầu Mười

    11. Cô Bé Thượng Ngàn

    Cô Bé Thượng Ngàn là Tiên Cô mà tên gọi thường được đặt theo tên các địa danh, các đền thờ. Các vị cô bé đều là những bộ nàng trên Tòa Sơn Trang, hầu Mẫu Thượng Ngàn, có rất nhiều cô bé trên khắp các cửa rừng lớn nhỏ. Các cô về mặc quần áo thổ cẩm, chân quấn xà cạp, đeo kiềng bạc, tay cầm ô, vai đeo gùi. Các cô bé gồm:
    Cô Bé Thượng Ngàn (Thị Xã Lạng Sơn)
    Cô Bé Suối Ngang (Hữu Lũng)
    Cô Bé Đèo Kẻng (Thất Khê).
    Cô Bé Đông Cuông (Yên Bái)
    Cô Bé Tân An (Lào Cai)
    Từ rất xa xưa, bên bờ sông Hồng tại thôn Tân An 2 thuộc xã Tân An, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, đã có một ngôi Đền gọi là Đền Cô Tân An (còn gọi là Đền Cô Bé Thượng Ngàn), là nơi thờ tự một nữ chúa có tên húy là Hoàng Bà Xa, tương truyền đã cùng cha là đức quan ngài Hoàng Bảy, có công chinh phạt giặc ác, giữ yên bờ cõi, được cư dân vùng Bảo Hà và Khau Ban (địa danh Văn Bàn cổ xưa) suy tôn là vị Thánh Mẫu. Đối diện bên kia sông là đền Bảo Hà (huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai)- thờ Đức quan ngài Hoàng Bảy.
    Cô Bé Cây Xanh (Bắc Giang)
    Cô Bé Nguyệt Hồ (Bắc Giang)
    Cô Bé Minh Lương (Tuyên Quang)
    Truyền thuyết kể rằng, vào thời nhà Trần (thế kỷ XV), ở tổng Minh Lương, thuộc xã Lang Quán ngày nay có hai vợ chồng, ông chồng là người Dao, bà vợ là người Mường tuổi đã cao mà chưa có con. Ngày ngày ông bà ra ngòi Lịch xúc tôm tép sống lần hồi. Một hôm, ông ở nhà, bà đi xúc tép như mọi ngày, nhưng xúc mãi không được con gì mà chỉ được hai quả trứng lạ. Bực mình, bà xuống hạ nguồn rồi lên tận thượng nguồn ngòi Lịch xúc vẫn chỉ được hai quả trứng ấy. Bà đành mang về thả vào chum nước dưới cầu thang. Ít lâu sau, bà mang thai và sinh ra một cô bé bụ bẫm, đặt tên là Minh Lương. Cùng lúc đó, hai quả trứng thả trong chum nước dưới cầu thang nở ra hai con rắn. Hai con rắn và cô bé Minh Lương cùng lớn lên, quấn quýt làm bạn với nhau.
    Một buổi chiều, ông bà đi làm về và nhìn thấy hai con rắn quấn chết cô bé. Sẵn con dao rựa đeo bên người, ông tức giận rút dao vừa chém, vừa nói “Mày hại tao à”. Hai con rắn sợ quá chạy trốn, nhưng một con chậm hơn đã bị chém đứt đuôi. Ông đuổi hai con rắn và nói: “Cụt đi hang Mang, Khoang đi hang Đồng”.
    Ông bà xót thương cô bé, không nỡ chôn, nên đặt cô nằm ở trên sàn. Đến sáng đã thấy mối đùn lên đắp mộ cho cô bé. Dân làng thấy vậy đều cho là cô đã linh hoá nên lập miếu thờ. Thời kỳ giặc Cờ đen, cô bé Minh Lương đã hiển linh giúp quan quân triều đình thoát khỏi rừng rậm, sau đó dũng mãnh dẹp sạch giặc Cờ đen. Sau đó Cô còn hiển linh bốc thuốc, giúp dân chữa bệnh thoát cơn hiểm nghèo.
    Cô Bé Thác Bờ (Hòa Bình)
    Cô Bé Sóc (Miền Nam)
    Còn gọi là Cô Bé Đen, mặc khăn áo đen và hồng. Về đồng múa mồi, dùng nhang chữa bệnh. Cô đánh phấn màu đen, phấn đỏ cô để ban khen cho thanh đông cô. Hay về đồng tại Miền Nam.
    Cô Bé Mỏ Than( Tuyên Quang)
    Truyện chuyền miệng kể rằng : thần Kim Quy thấy mỏ quý của vua cha mẫu mẹ tại đền Mỏ Than. Đã rủ cá Kình ở biển Đông về cùng nhau mang hết mỏ quý ra vùng Nam Hải khi đất ở đây chỉ còn là giữa núi và biển, cá Kình đứng gác bên ngoài, thần Kim Quy xuống hang và khi lên tới gần miệng hang thì ông Cóc (ở gần miếu Sơn Thần) đã nghiến răng báo lên thiên đình cho Ngọc Hoàng Thượng Đế, Ngọc Hoàng củ cô Mười xuống. Cô bé cưỡi trên lưng hai con rồng bay xuống thấy khoảng trời u ám có khí lạnh bay lên. Cô nhảy vội xuống với hai vết chân chẹn lên thần Kim Quy, vết chân phải trượt gót mờ, bàn chân trái đè oằn cổ rùa. Bắt rùa hoá đá (Bách gia trăm họ gọi là quy trị bản đền) thần Kim Quy hoá đá thì cà Kình ở biển Đông cũng hoá đá. (Tất cả các cảnh quan của đền quay về nơi phật ngự phương tây riêng có cá Kình quay về phía Đông Bắc). Nhờ Cô Bé Mỏ mà bách gia trăm họ vẫn còn “mỏ tụ đồng” xưa. Đến Pháp tìm ra mỏ than hay còn gọi là vàng đen của đất nước. Hiện nay còn nuôi dưỡng mỏ kim cương non. Cho nên ở chính nơi đây còn tồn tại truyền thuyết Cô Bé Mỏ Than (hay Cô Bé Mỏ Cây Xanh). Cô bắt ông Ba Mươi phủ phục bên mình, cô xin vua cha mẫu mẹ cho cây xanh bao bọc lấy mỏ và bốn mùa toả bóng mát cho cô hoàn thành việc cha việc mẹ. Ngoài ra cô còn chữa bệnh cho bách gia trăm họ. Nhất là những người dở dại dở điên. Những lúc thư nhàn cô gọi đàn chim ngũ sắc về vây quanh ca hát, lúc đi lúc về cổ thường mang sắc thái màu vàng với âm thanh của tiếng chim vàng anh báo biến, báo hiện. Khi cô đi xa cô thường để lại đôi dải thắt lưng màu đen ở lại (đôi long xà có mào) để giữ đền giữ phủ. Người ta truyền rằng ai nhìn thấy ông rắn có mào là người đó được lên danh lên giá. Nhưng người đó phải là người thực tâm không có tâm tà. Xưa những người đàn bà bụng mang dạ chửa phải đi vòng qua cửa cô cách nữa dặm. bất kể ai qua nơi cô ngự đều phải bỏ nón mũ xin cô thực tâm cô phù hộ. Tà tâm cô cho náo loạn gia trung.

    12. Cô Bé Thoải Cung

    Cô ngự trong tòa Thoải Cung, Lầu vàng điện ngọc. Hình dung yểu điệu mặn mà. Môi son mắt phượng da ngà. Đoan trang thùy mị. Tài cao tứ phủ được Vua yêu mẫu chuộng nhân gian phụng thờ. Cô có tài cầm kỳ thi họa, hô mưa hoán vũ, hái thuốc trị bệnh cứu người. Ban tài tiếp lộc cho chúng sinh trăm họ

    ---------- Post added at 01:07 PM ---------- Previous post was at 01:06 PM ----------

    E.CÁC NGHI LỄ TRONG TÍN NGƯỠNG TAM, TỨ PHỦ:
    1- Hành hương , đi lễ cầu an tại các đền phủ.
    2- Lập đàn cúng lễ các nghi lễ như Tụng kinh , dâng sao giải hạn, di cung hoán số, trả nợ tào quan, thí thực..
    3- Đội bát nhang (tôn nhang bản mệnh)
    4- Dâng văn thờ
    5- Hầu bóng
    6- Các nghi lễ khác…..

    F.CÁC NGÀY TIỆC
    Đại Tiệc Tứ Phủ Trong Năm :

    -Tháng Giêng:

    Ngày 6/1: Tiệc Cô Đôi Thượng Ngàn
    Ngày 9/1: Tiệc Đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế và Cửu Thiên Huyền Nữ Công Chúa
    Ngày 10/1: Tiệc Quan Hoàng Bát Nùng
    Ngày 12/1: Tiệc Trần Triều Đệ Nhất Vương Cô Quyên Thanh Công Chúa
    Ngày 15/1: Đại Lễ Thượng Nguyên
    Ngày 17/1: Tiệc Cô Tân An
    Ngày 20/1: Ngày Nhà Trần Ra Quân


    - Tháng hai:
    Ngày Mão đầu: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn Đông Cuông
    Ngày 3/2: Tiệc Trần Triều Đức Ông Đệ Tam Đông Hải Đại Vương Cửa Đông Cửa Suốt Trần Quốc Tảng
    Ngày 6/2: Tiệc Tứ Vị Vua Bà Đền Cờn Môn
    Ngày 12/2: Tiệc Mẫu Tuyên Quang
    Ngày 14/2: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh
    Ngày 15-16/2: Tiệc Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ
    Ngày 24/2: Tiệc Sòng Sơn Quốc Mẫu
    Ngày 28/2: Tiệc Quan Hoàng Lục An Biên Đại Tướng Quân


    - Tháng ba:
    Ngày 2/3: Tiệc Trần Triều Cô Bé Cửa Suốt Tĩnh Huệ Công Chúa Cặp Tiên Linh Từ
    Ngày 3/3: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên Phủ Dày
    Ngày 7/3: Tiệc Cậu Bé Quận Đồi Ngang
    Ngày 14/3: Tiệc Chầu Đệ Tứ Khâm Sai
    Ngày 17/3: Tiệc Chầu Bát Nàn Đông Nhung Đại Tướng Quân


    - Tháng tư:
    Các ngày trong tháng: Đại Lễ Nhập Hạ
    Ngày 12/4 : Tiệc Chúa Thác Bờ
    Ngày 19/4: Tiệc Quan Hoàng Lục Thanh Hà
    Ngày 24/4: Tiệc Trần Triều Vương Tử Đệ Nhất Hưng Vũ Đại Vương

    - Tháng năm:
    Ngày 5/5: Tiệc Trần Triều Đệ Nhị Vương Cô Đại Hoàng Công Chúa
    Ngày 7/5: Tiệc Trần Triều Vwong Tử Đệ Tứ Hưng Trí Đại Vương
    Ngày 10/5: Tiệc Đản Nhật Chầu Lục Cung Nương Chín Tư Hữu Lũng
    Tiệc Chúa Bà Đệ Nhất Tây Thiên
    Ngày 20/5: Tiệc Chầu Năm Suối Lân
    Ngày 25/5: Tiệc Quan Lớn Tuần Tranh Ninh Giang Kì Cùng


    - Tháng sáu:
    Ngày 1/6: Tiệc Trần Triều Vương Phụ An Sinh
    Ngày 10/6: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Tam Thoải Cung Thác Hàn
    Ngày 12/6: Tiệc Mẫu Thác Đền Hàn và Đản Nhật Cô Bơ Bông
    Ngày 16/6: Tiệc Chúa Bà Năm Phương Bản Cảnh Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa Cấm Giang
    Ngày 24/6: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Tam Thuỷ Quốc Bơ Phủ Vương Quan Lảnh Giang Xích Đằng
    Ngày 26/6: Tiệc Quan Hoàng Bơ Thoải

    - Tháng bảy:
    Các ngày trong tháng: Đại Lễ Tán Hạ - Đại Tiệc Tinh Tuyên Quang
    Ngày 7/7: Tiệc Đản Nhật Ông Hoàng Bảy Bảo Hà
    Ngày 12/7: Tiệc Mẫu Tuyên Quang
    Ngày 13/7: Tiệc Quan Triệu Tường Tống Sơn Thanh Hoá
    Ngày 17/7: Tiệc Ông Hoàng Bảy Bảo Hà
    Ngày 20/7:Tiệc Bà Chúa Kho Bắc Ninh

    - Tháng tám:
    Ngày 3/8: Tiệc Trần Triều Vương Tử Đệ Nhị Hưng Hiến Đại Vương
    Ngày 6/8: Tiệc Mẫu Đền Ghênh Nguyên Phi Ỷ Lan
    Ngày 10/8: Tiệc Quan Hoàng Lục An Biên
    Ngày 20/8: Tiệc Trần Triều Quốc Công Tiết Chế Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Kiếp Bạc Linh Từ
    Ngày 22/8: Tiệc Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình Thoải Phủ Đồng Bằng Linh Từ

    - Tháng chín:
    Ngày 2/9: Tiệc Cô Bé Suối Ngang Phố Vị Lạng Sơn
    Ngày 4/9: Tiệc Quốc Mẫu Âu Cơ
    Ngày 9/9: Tiệc Cửu Trùng Thiên Cung Vương Mẫu
    Ngày 13/9: Tiệc Cô Đôi Cam Đường
    Ngày 19/9: Tiệc Cô Chín Đền Sòng
    Ngày 20/9: Tiệc Công Đồng Bắc Lệ và Tiệc Chầu Lục Cung Nương
    Ngày 28/9: Tiệc Trền Triều Quốc Mẫu Nguyên Từ Phu Nhân

    -Tháng mười:
    Ngày 10/10: Tiệc Đản Nhật Ông Hoàng Mười Nghệ An

    -Tháng mười một:
    Ngày 1/11: Tiệc Trần Triều Đức Ông Điện Suý Phù Ủng Đại Vương Phò Mã Phạm Ngũ Lão
    Ngày 10/11: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn Thanh Tra Giám Sát

    -Tháng mười hai:
    Các ngày trong tháng (trước ngày 23 tháng chạp): Đại Lễ Tất Niên
    Ngày 10/12: Tiệc Đản Nhật Đức Ông Trần Triều Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
    Ngày 25/12: Tiệc Chúa Đệ Tam Lâm Thao (Chúa Ót, Chú


    VĂN KHẤN TỨ PHỦ


    Con niệm nam mô a di đà phật(3lần)
    -Con lạy chín phương trời, con lạy mười phương đất, con lạy chư phật mười phương, mười phương chư phật, ngũ phương ngũ phật, thập phương thập phật, hằng hà sa số đức phật công đức vô lượng vô biên.
    -Đức thế tôn bản sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
    -Đức đông phương giáo chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
    -Đức tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.
    -Đức đương lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật.
    -Đức đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
    -Đức đại hạnh Phổ Hiển Bồ Tát.
    -Đức đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
    -Đức đại lực Đại Thế Chí Bồ Tát.
    -Đức đại nguyện Địa Tặng Vương Bồ Tát.
    -Đức đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát
    -Đức Chuẩn Đề Minh Vương Bồ Tát.
    -Chư vị bồ tát, chư hiền thánh tăng vạn linh vạn phép hộ pháp chư thiên, thiện thần bồ tát, thập bát long thần, Già Lam Chân Tể.

    -Con cung thỉnh mời đức Thiên phủ chí tôn vô sắc giới tứ không, tứ thiên Huyền Khung Kim Quyết Ngọc Hoàng Đại Đế Ngọc Điện Hạ.
    Củng thỉnh mời đức Tây Vương Mẫu Nương Nương Diêu Trì Kim Mẫu.
    Cung thỉnh mời đại thánh Nam Tào Lục Ti Duyên Thọ Tinh Quân.
    Cung thỉnh mời đại thánh Bắc Đẩu Cửu Hoàn Giải Ách Tinh Quân.
    Cung thỉnh Bắc Cực Thiên Trung, Tam Nguyên, Tam Phẩm, Tam Quan.
    Cung thỉnh Cửu Tinh Thiên Chúa, Thập Nhị Bát Tú.
    Cung thỉnh đức Khuông Quốc Đại Vương Tản Viên Sơn Thánh.
    -Con cung thỉnh mời đức Địa phủ chí tôn Bắc Âm Phong Đô Nguyên Thiên Đại Đế Địa Cung Hạ.
    Cung thỉnh mời Địa phủ Thập Diện Minh Vương.
    -Con cung thỉnh mời đức Thuỷ phủ chí tôn Phù Tang Cam Lâm Đại Đế Thủy Cung Hạ.
    Cung thỉnh mời Thuỷ phủ Bát Đại Long Vương.
    -Con cung thỉnh mời Ngũ Nhạc Thần Vương Dương Phủ Thánh Đế Quân Ngọc Động Hạ.

    -Con cung thình mời Lục Cung Thần Nữ Tứ Vị Thánh Mẫu:
    Cung thỉnh mời Mẫu đệ nhất Thiên Tiên Cửu Trùng Thanh Vân Lục Cung Bán Thiên Công Chúa Thiên Cung Hạ.
    Cung thỉnh mời Mẫu đệ nhị Địa Tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công Chúa Sắc Phong Chế Thắng Hoà Diệu Đại Vương Địa Cung Hạ.
    Cung thỉnh mời Mẫu đệ tam Thoải Tiên Thuỷ Tinh Công Chúa Xích Lân Long Nữ Tinh Cung Hạ.
    Cung thỉnh mời Mẫu đệ tứ Nhạc Tiên Diệu Tín Diệu Nghĩa Thiền Sư Tuần Quán Đông Cuông Thượng Đẳng Cao Sơn Triều Mường Sơn Tinh Công Chúa Lê Mại Đại Vương Lâm Cung Hạ.
    Cung thỉnh mời nhị vị trưởng quản Sơn Lâm Bạch Anh Mị Nương La Bình Công Chúa:

    -Con cung thỉnh mời hội đồng văn võ Trần Triều Hiển Thánh:
    Cung thỉnh mời đức ông Trần Triều Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương.
    Cung thỉnh mời Trần Triều Vương Phụ, Trần Triều Vương Mẫu, Trần Triều Vương Phu Nhân, Trần Triều Vương Huynh, Trần Triều Vương Đệ.
    Cung thỉnh mời tứ vị Vương Tử Đại Vương, thỉnh mời Trần Triều Phò Mã đức ông Phạm Ngũ Lão Diện Suý Tôn Thần.
    Cung thỉnh mời nhị vị Vương Cô Hoàn Thánh.
    Cung thỉnh mời Cô Bé Cửa Suốt, Cậu Bé Cửa Đông.
    Cung thỉnh mời tả quan Nam Tào, hữu quan Bắc Đẩu, văn võ bá quan quân thần trần triều, binh hùng tướng mạnh dẹp giặc Nguyên Mông.

    -Con cung thỉnh mời hội đồng chúa Mán, Mường, Nùng, Dao, Sơn Trại, Chúa Sơn Lâm, Chúa Sơn Trang 18 cửa ngàn 12 cửa bể, Bát Bộ Sơn Trang, Tám Tướng Hùng Binh, Thập Nhị Tiên Nàng
    Cung thỉnh mời tam thập lục chúa bà: 12 bà chúa bói, 12 bà chúa chữa, 12 bà chúa tài lộc.

    -Con cung thỉnh mời Ngũ Vị Vương Quan, Lục Phủ Tôn Quan.
    -Con cung thỉnh mời Tứ Phủ Chầu Bà, 3 bà chầu Thiên, 3 bà chầu Nhạc, 3 bà chầu Thoải, 3 bà chầu Địa.
    -Con cung thỉnh mời Tứ Phủ Thánh Hoàng, thập vị Hoàng Tử Thoải Cung.
    -Con cung thỉnh mời Tứ Phủ Thánh Cô, các cô trên ngàn, các cô dưới thoải, các cô bồng đảo bồng lai,các cô trấn thủ cửa rừng, cung thỉnh mời cô bé bản đền tối linh.
    -Con cung thỉnh mời Tứ Phủ Thánh Cậu, cung thỉnh mời cậu bé bản đền.
    -Con cung thỉnh mời Ngũ Dinh Thiên Tướng, Ngũ Hổ Thần Quan, Thanh Xà Thần Tướng, Bạch Xà Thần Quan, tả Thiên Nhiên, hữu Lực Sĩ.
    -Con cung thỉnh mời hội đồng các bóng các giá 18 cửa ngàn 12 cửa bể.
    -Con cung thỉnh mời Chầu, Chúa thủ đền, Quan thủ điện, thân kì, thần linh, sơn thần, thổ địa bản xứ.

    -Đệ tử con tên là:............. tuổi:..........
    Ngụ tại:.................................
    Kim niên kim nguyệt cát nhật lương thời.
    Hôm nay ngày:... Tháng:... Năm:...
    Đệ tử con nhất tâm 1 lòng, nhất tòng 1 đạo, nhất tâm trí thiết, nhất dạ chí thành, đêm tưởng ngày mong, tu thiết hương, hoa, đăng, trà, quả, thực mang miệng về tâu, mang đầu về bái, trên con tấu thượng thiên, dưới con đệ trình long cung thuỷ phủ cùng đồng gia quyến đăng bái yết cửa đình thần tam tứ phủ ...............(tên đền) linh từ.
    Mong trên cha độ, dưới mẫu thương, đèn trời đuốc biển soi đường dẫn lối, phù hộ độ trì cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hoà cung như vuốt ve che trở cho gia chung chúng con trong 3 tháng hè, trong 9 tháng đông, đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được bình an vô sự, vạn sự như ý, có bệnh thì tan, có nạn thì qua, tai quan nạn khỏi ...... Dãi tấm lòng thành cúi xin Phật Thánh Chúa Tiên anh linh chứng giám!!!

    -Cung thỉnh công đồng Lục Cung Tiên Tổ dòng họ..... nguyên quán.....,Tổ Cô Mãnh Tướng,cậu bé cô bé tại gia, chư vị vong linh trong dòng họ đang hầu hạ phật thánh, làm đầy tôi kẻ tớ tại các bản đền bản phủ tấu đối phụng đình cho con cháu nhất tâm một lòng nhất tòng một đạo cầu được ước thấy, cầu sao được vậy...
     
    Chỉnh sửa cuối: 24/4/14
  12. linkmiu

    linkmiu New Member

    có quan điểm hầu ông Chín không nên đi guốc đeo kính cầm batoong, mọi người cho ý kiến xem
     
  13. zum_zum

    zum_zum Member

    tiệc đức Quốc Mẫu Đệ Nhị Đông Cuông là vào ngày Mão đầu của tháng giêng chứ đâu phải của tháng 2 ạh
     
  14. lâu lắm rồi mới thấy bác Hùng Thắng update.
    đợi phát hành thành sách. đọc ,ngẫm cho kỹ.

    bạn chủ topic: quá lâu mới thấy 1 người xuất file kiểu này : file:///C:/DOCUME~1/LOCALS~1/Temp/msohtml1/07/clip_image001.jpg

    đến muôn thuở ko hiện. vì nó từ máy tính của bạn. trừ khi ổ C của bạn chứa data+server forum này :)
     
  15. mientrung

    mientrung New Member

    Mình nghĩ hầu ông chín cứ áo the đen là được rồi. guốc với kính với gậy vừa rườm rà vừa dễ mang lại cảm giác xem diễn chứ không phải xem hầu
     
  16. connuoiphatto

    connuoiphatto New Member

    Bài soạn trên pc, copy vào. Khi rảnh rỗi sẽ insert image vào sau, bạn thông cảm.
     
  17. mainhu1010

    mainhu1010 Member

    Bạn nên sửa:
    - Cô Chín Sòng Sơn không phải là Cô Chín Thượng Ngàn (Cô Chín ngàn là Cô Chín Mìu đền cô ở gần Đền Chúa Nguyệt Hồ)
    - Đền Cô Chín Sòng cách Đền mẫu Sòng Sơn khoảng 1 Km chứ không phải 30 Km
    - Ngày tiệc Cô Chín sòng sơn là 09/09
    - Ngày tiệc Quan Lớn Đệ Nhị là 20/10
     
    Chỉnh sửa cuối: 23/4/14
  18. connuoiphatto

    connuoiphatto New Member

    Cảm ơn bạn đã quan tâm. Ở mục 9 này ý mình muốn giới thiệu 2 Cô Chín Luôn.
     
  19. connuoiphatto

    connuoiphatto New Member

    Xin đính chính lại là cách Đền Sòng 01km, cách Tp. Thanh Hóa gần 30km.
     
  20. Lãng

    Lãng New Member

    toàn thông tin chấn động sơn hà
     

Chia sẻ trang này