Tham luận Chầu văn - Nhạc sĩ Thao Giang [ TT.ANVN ]

Thảo luận trong 'Chầu văn âm nhạc tín ngưỡng trong cuộc sống đương ' bắt đầu bởi mantico, 9/10/13.

Lượt xem: 2,463

  1. mantico

    mantico Quản Trị Website

    1-6CD9BaoAnh1620121625618.jpg

    [​IMG]Nghệ Thuật Hát Chầu Văn

    Bài viết : Nhạc sỹ Thao Giang

    1 – Vài nét về Lịch sử Nghệ thuật Hát Chầu Văn


    Theo nhiều tài liệu, trong đó đặc biệt là cuốn “Vũ trung tuỳ bút” của danh nhân Phạm Đình Hổ có đề cập tới các Cung văn hát trong nghi lễ thờ Thánh Mẫu tại các ngôi đền có từ thời Lê trung Hưng – TK XVI. Ngay trong bản Văn công đồng, bản văn thờ cổ nhất còn lưu truyền đến ngày nay (Cung văn hát trước khi vào hầu), câu mở đầu trong bản văn này đã ghi rõ: “Đời Lê Thái tổ Trung hưng…”Có nhiều giả thiết về sự ra đời của Hát Văn, có ý kiến cho rằng Hát Văn bắt nguồn từ việc các con nhang đệ tử, thủ nhang đồng đền và đặc biệt là các thầy cúng chuyên nghiệp trong nghi lễ tứ phủ đã chuyển những bản văn cúng sang thể thơ lục bát và sau này trở thành những ca từ trong các làn điệu chầu văn thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Việc tìm ra một xuất xứ có tính thuyết phục hơn chắc chắn cần thời gian và sự dày công nghiên cứu. Song với những nhận biết qua số tài liệu vô cùng ít ỏi, chúng tôi tạm thời đưa ra một nhận định ngắn gọn sau:

    “Hát Chầu văn là loại hình Âm nhạc dân gian gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ, có nguồn gốc từ Nam Định và Hà Nội.”

    Từ bao đời nay, Hát Văn vẫn tồn tại nguyên vẹn chức năng thực hành xã hội khởi thủy của nó.
    Với sức hấp dẫn và lan tỏa khá mạnh, những lò đào tạo cung văn dần hình thành cả một tầng lớp nghệ nhân nhà nghề. Ngày nay, một số nghệ sĩ trẻ chuyên nghiệp và không chuyên đã tiếp nối thực hành sự nghiệp Hát Văn của các bậc nghệ nhân xưa. Trên nẻo đường hành nghiệp họ đã tạo ra một mối quan hệ giao lưu khăng khít và gắn bó giữa tính chuyên nghiệp và ngẫu hứng dân gian trên khắp các vùng miền có tín ngưỡng Tứ phủ.

    Nghệ thuật âm nhạc dường như là một thứ phương tiện không thể thiếu khi con người muốn giao tiếp với thánh thần. Muốn tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Mẫu thì tìm hiểu về Hát văn là điều hết sức cần thiết. Ngược lại, khi tìm hiểu Hát văn chúng ta cũng nên tìm hiểu về thần tích, thần phả các vị thánh. Nghe những bản văn, ta rất dễ nhận biết sự tích của các vị thánh cũng như những phong cảnh nơi các ngài giá ngự và hiển thánh. Vì thế không thể không có Hát Văn trong nghi lễ hầu thánh.
    Hát văn đã tiếp nhận một hệ thống làn điệu, bài bản phong phú của dòng dân ca đồng bằng Bắc bộ và các vùng miền khác trên khắp lãnh thổ nước ta như ca trù, quan họ, hò lao động Nghệ An, hò trên sông nước Thừa Thiên Huế và kể cả những điệu hát của các dân tộc thiểu số Tây Bắc Việt Bắc, Tây Nguyên, Chăm, Kh’me.... Ngoài hệ thống làn điệu chính Phú - Dọc - Cờn - Xá, xen kẽ còn có những đoạn ngâm vịnh và nhạc lễ (chủ yếu là bài Lưu Thủy) và các đoạn lưu không. Ngoài ra còn có những làn điệu mang tính chuyên dùng thể hiện những tính cách và giới tính riêng biệt của từng vị Thánh trong tín ngưỡng tứ phủ, biểu hiện mối quan hệ hữu cơ giữa âm nhạc và tín ngưỡng.

    Nếu như tôn giáo thường lấy hệ thống giáo lý, kinh kệ làm phương tiện chủ đạo để xoa dịu nỗi đau của con người thì tín ngưỡng Tứ phủ lại sử dụng nghệ thuật Hát Văn làm công cụ đắc lực. Điều này lý giải tại sao âm nhạc Hát Văn lại đạt tới tầm cao về sự phát triển, tính thẩm mỹ của một thể loại nghệ thuật biểu diễn đặc trưng. Từ đó, có thể hiểu được tại sao Hát Văn lại dễ dàng được mọi tầng lớp quần chúng chấp nhận khi loại hình nghệ thuật âm nhạc này được sân khấu hóa trong nửa cuối thế kỷ XX


    2 – Hát Văn, hình thức nhạc lễ trong nghi thức Hầu đồng

    (Phần này không đọc)
    Hát Chầu văn truyền thống có ba loại: Hát Văn thờ, Hát Văn thi và Hát Văn Hầu đồng.

    Những thập kỷ gần đây còn có “Hát Văn trên sân khấu Ca nhạc”.

    2 – 1: HÁT VĂN THỜ


    Hát văn thờ có lẽ ra đời sớm hơn so với các thể loại hát Văn khác. Khởi đầu của nó chính là những bản Văn sự tích của những ngôi Đền thờ tứ phủ được nhân dân trong khu vực địa phương lập nên. Những bản văn ấy được các cung văn hát trước ngày tiệc Mẫu khắp nơi trong nước. Cung văn của bản đền căn cứ theo bản văn đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ để hát. Thông qua nội dung bản văn do Cung văn hát, người dân vừa có điều kiện thưởng thức âm nhạc, đồng thời có dịp ôn lại lịch sử ngôi đền của địa phương mình để truyền dạy cho con cháu đời đời ghi nhớ công ơn người anh hùng dân tộc đã hiển Thánh. Ngôi đền còn là nơi bày tỏ những ước nguyện tài lộc, sự chở che, cứu tinh cho trăm họ, với cộng đồng dân cư nơi mình sinh sống.

    Sau này, vào cả những ngày sóc ngày vọng (rằm mồng một mỗi tháng), ngày tất niên, ngày Tết cũng được nhân dân yêu cầu sử dụng những bản văn đó.

    2 – 2: HÁT VĂN THI


    Hát Văn thi ngoài mục đích thống nhất bài bản cho từng thời kỳ phát triển của nghệ thuật Hát Văn, còn là dịp để các cung văn đua tài. Nội dung thi bắt buộc gồm: “Văn Công đồng”, khi hát tuyệt đối không phạm “Húy” và phải liên tục thay đổi các biến thể của điệu phú (Phú Nói – Phú Bình – Phú Chênh – Phú Rầu – Phú ràng – Phú Dựng....). Ngoài ra các Cung Văn còn phải hát một bản Văn với nhiều làn điệu khác nhau (như Ngâm vịnh – Phú – Dọc – Cờn – Xá - Nhịp một – Bỏ bộ – Chèo đò... để Hội đồng đánh giá về giọng hát và tay Đàn của Cung Văn.

    2 – 3: HÁT VĂN HẦU ĐỒNG

    Đây là công việc quan trọng nhất của Cung văn phục vụ cho quá trình nhập hồn của các vị Thánh trong các hàng Tứ Phủ vào thân xác người Hầu Đồng.

    Hát Văn hầu đòi hỏi người cung văn phải có phản xạ nhanh, linh hoạt để kịp thời chuyển văn, lối hát hoặc nhạc cho ăn khớp với diễn biến của người hầu đồng thể hiện trong thời gian chuyển tiếp giữa các giá hầu. Khi hát, cung văn phải thể hiện tính cách, tâm lý tình cảm của các Thánh nhân nên phong cách của giọng hát phải chuyển đổi luôn luôn. Vì vậy trong một lối hát phát sinh những biến thể để diễn tả tâm trạng sao cho phù hợp. Lối hát và diễn tấu ngẫu hứng cũng là cách người cung văn thể hiện tài năng riêng của mình, người ngồi đồng vào vai vị Thánh nào, Cung văn phải chuyển bản văn theo ngôi của vị thánh đó.

    Lời văn trong các bản hát văn cũng có xuất xứ từ thơ ca dân gian, đôi khi vay mượn cả trong các tác phẩm văn thơ bác học và thường là thể lục bát, lục bát biến thể, thất ngôn, bốn chữ. Các bản văn thường được xắp xếp như một câu chuyện kể về xuất xứ của thánh và những thánh tích như một bản Anh hùng ca và linh thiêng như một bản Thánh Ca. Câu văn được chuyển vần và giai điệu hóa, niêm luật thơ bị phá bỏ không còn như một bài thơ thường đọc, song khi được lồng vào các điệu hát, người nghe vẫn cảm nhận được chất thơ chất nhạc của bản văn được nâng lên cao tuyệt đỉnh nhờ sự dẫn dắt của các cấu trúc Âm nhạc. Những tình tiết kịch tính diễn ra và các điệu múa thiêng thể hiện qua người hầu đồng là một sự gắn kết kỳ diệu, một hình thức diễn xướng dân gian vô cùng h

    3- Hát Văn trong những năm gần đây tại HN và một số địa phương khác

    Có hai phong cách hát chính trong nghệ thuật Hát Văn là Hà Nội và Nam Định. Hát văn Nam Định thiên về chất giọng thô mộc, giản dị, đậm đặc của lối hát dân dã. Hát văn Hà Nội sử dụng nhiều kỹ thuật bay bướm và tinh tế trong ca từ, câu chữ được giới trí thức, khán giả sành điệu hâm mộ. Ngay cả cách chơi đàn và phách của cung văn hai địa phương cũng có sự khác biệt, nếu các Cung Văn Nam Định có lối biểu hiện rộn ràng mê say, lối chạy ngón hóc hiểm bao nhiêu thì Cung Văn Hà Nội lại đi vào tỉa tót, nhấn nhá tinh tế, ngọt ngào, sâu lắng bấy nhiêu...Qua các băng từ còn lưu giữ của các cố Đại Nghệ nhân như các cụ Sinh Con, Cả Mã (Hà Nội), Vĩnh sáu ngón (Sài Gòn), Cả Nghệ (Nam Định), rồi thế hệ sau này có cụ Cả Khiêm(đã mất), ông Lê Bá Cao (mới mất), ông Kha, Ông Tuất, ông Đạt (đã mất), Ông Đan (đã mất), Ông Duyệt là những Nghệ nhân lừng lẫy của đất Hà Thành, ông Thế Tuyền (đã mất), ông Quyền, bà Kim Liên lừng lấy đất Thành Nam. Tiếp nối các cụ có Bác Châu hôm nay cũng có mặt tại đây là bậc đàn anh của Văn Ty, Văn Vinh, Hạnh Nhân, Lê Cường, Khắc Tư, Ngọc Quỳnh, Văn Chương (HN), Trần Niệm (Thái Bình), Trọng Hiền (Hà Nam) và đặc biệt gần đây Hà Nội nổi lên các Cung Văn đàn em của họ và là đàn cháu chắt của các bậc Đai Nghệ Nhân là Văn Chung, Thanh Long (Hà Nội), Đình Cương (Thái Bình), Lê Thi (Xứ Đoài)....cũng lừng danh và họ đã không làm hổ thẹn với di sản của các cụ đã truyền dạy.

    Bên cạnh những tên tuổi đáng kể ấy, chúng ta cũng nên điểm qua một số hiện tượng còn sai sót trong làng Hát Văn trẻ mà nhân Hội thảo này cũng rất cần làm rõ. Đó là việc đua đòi trong việc hành nghề của một số cung văn trẻ, do một số chạy theo lợi nhuận, số do yêu thích nghệ thuật Hát Văn mà các em đã học tập một cách vội vã, chộp giựt, bắt chước mỗi nơi, mỗi người một tý rồi cũng mua đàn, mua phách, mua Văn nghêu ngao bừa bãi tập hợp nhau lợi dụng số Đồng nghèo Lính khó hoặc số Đồng Đua Đồng Đú để xin lộc. Các em có biết rằng để hát được như Văn Ty, Văn Vinh, Khắc Tư, Ngọc Quỳnh, Văn Chung, Thanh Long, Đình Cương....các anh ấy đã khổ sai dày công luyện tập như thế nào không, xin hãy hỏi họ.Việc này đã gây ra hai tác hại: một là ảnh hưởng xấu đến Nghệ thuật Hát Văn, đến thể loại Thánh ca vốn rất linh thiêng của truyền thống dân tộc, hai là để các cơ quan quản lý Nhà nước nhìn nhận một cách băn khoăn, đặt ra nhiều dấu hỏi nghi vấn khiến cho việc tư vấn giúp chính phủ sớm công nhận Hát Chầu Văn và nghi lễ Hầu đồng là di sản Quốc gia có phần chậm lại. Nhân đây chúng tôi cũng muốn nói thêm một vấn đề nữa, đo là việc các Nhà Hát, các Đoàn Nghệ thuật dàn dựng các giá đồng để phục vụ công chúng. Chúng tôi cho rằng việc này rất có lợi vì nếu chúng ta đặt quyền lợi hưởng thụ nghệ thuật của quần chúng lên trên hết thì việc quảng bá hình thức diễn xướng Hầu đồng và Hát văn tại sao không thể, vì Nhân dân là chủ thể sáng tạo, nhân dân còn là chủ nhân của di sản nghệ thuật nữa cho dù loại hình ấy phục vụ cho bất kỳ một đối tượng nào. Song xin chớ xem nhẹ việc giới thiệu loại hình này. Không phải có giọng hát, có vốn hát các thể loại dân ca nhạc cổ khác mà tự cho phép mình chuyển sang Hát Văn một cách dễ dàng như một số Nghệ sỹ của các đơn vị Nghệ thuật chuyên nghiệp hiện đang lầm tưởng. Rồi việc mô phỏng diễn xướng chạy theo lối khoe mẽ trang phục. ánh sáng sân khấu loè loẹt, hú hét ỷ eo, động tác pha tạp nghèo nàn, kịch cỡm đến mức giả tạo....Như vậy phải chăng là một cách bảo tồn tiêu cực (Trích lời phát biểu của GSTS – NGND Phạm Minh Khang đã nói trong một Hội thảo gần đây).

    4- Ý kiến của chúng tôi

    Thứ nhất:
    Việc sưu tầm và nghiên cứu các thể loại âm nhạc cổ truyền của người Việt là một đóng góp khoa học quan trọng vào công việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể của dân tộc Việt Nam nói riêng và của thế giới nói chung. Còn nhiều vấn đề về mặt âm nhạc của loại hình Hát văn chưa được chú ý tới. Đặc biệt, hệ thống bài bản và nguyên tắc kỹ thuật nhạc hát, nhạc đàn kèm theo khối lượng tư liệu ghi chép (sánh ký âm, thiết bị lưu trữ tiếng, hình) của Hát văn vẫn chưa được khai thác triệt để. Sau một thời gian dài bị kiểm tỏa vì nhiều lý do khác nhau, hiện nay, môi trường diễn xướng của loại hình này đã được khôi phục trở lại. Tuy nhiên, theo thời gian, các bậc nghệ nhân (cung văn) mẫu mực còn lại rất ít. Phần lớn trong số họ đã qua thế giới bên kia mà chưa kịp truyền lại hết những vốn liếng vô giá cho thế hệ tiếp nối nên phần lớn các cung văn lớp kế cận hiện nay đều chỉ nắm giữ được một phần những giá trị của truyền thống. Sự thẩm định với những chuẩn mực nhà nghề dường như chỉ có ở một số nghệ nhân lão thành cuối cùng.

    Thứ hai: Qua đợt liên hoan này, chúng tôi muốn bày tỏ nhận thức sâu sắc về sự quan tâm của Nhà nước, của Thành Phố về các di sản Văn hoá Nghệ thuật truyền thống của Thủ đô. Việc này đã khẳng định đường lối Văn hoá Văn Nghệ của Đảng, là niềm khích lệ lớn đối với các Nhà nghiên cứu, các thế hệ Nghệ nhân cùng nhau tím đến giá trị đích thực những gì của tiền nhân để lại và giữ gìn cho đời sau.

    Thứ ba: Trong vòng hai năm trở lại đây, nhiều tỉnh thành khu vực miền Bắc nước ta đã tổ chức nhiều Hội thảo về Hát Văn và Diễn xướng Hầu đồng. Nay tại Thủ đô Hà Nội chúng tôi vô cùng tự hào vì đã hội tụ được rất nhiều điều bổ ích để bổ xung kiến thức, sự hiểu biết cho mình xung quanh việc thực hành nghi lễ thờ Mẫu. Chúng tôi mong các Nhà quản lý Thành Phố hãy cùng với các Nghệ nhân Hát Văn Hầu Đồng Lão thành, các nhà nghiên cứu, các nhà Khoa học như GSTS Ngô Đức Thịnh GSTS – NGND Phạm Minh Khang, Nhà sử học Dương Trung Quốc, GS Lê Văn Lan...sớm có sắc phong cho các Thủ nhang Đồng Đền, các Pháp sư, Cung Văn xứng đáng để cùng nhân dân bảo vệ và phát huy nghi lễ Hát Văn và Diễn xướng Hầu đồng mãi mãi rạng rỡ, trường tồn.

    TT.PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT ÂM NHẠC VN

    Nhạc sỹ Thao Giang

    (HN tháng 10/2013)



     
    Chỉnh sửa cuối: 24/10/17

    Bình Luận Bằng Facebook

Chia sẻ trang này