Quan Triệu Tường

Thảo luận trong 'Giải đáp thắc mắc' bắt đầu bởi thanhlongvanhero, 30/7/13.

Lượt xem: 5,329

  1. thanhlongvanhero

    thanhlongvanhero New Member

    QUAN HOÀNG TRIỆU TƯỜNG

    LỜI NÓI ĐẦU

    Đền Quan Hoàng Triệu Tường, còn được gọi là đền Đức Ông, ở thôn Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa là một ngôi đền cổ linh thiêng.
    Trải qua những thăng trầm của thời cuộc, ngôi đền đã bị tàn phá vào những năm 1960. Toàn bộ kiến trúc và những giá trị lịch sử - văn hóa đi theo của ngôi đền đã bị phá hủy hoàn toàn.
    Ngôi đền được phục dựng lại vào những năm 1990 nhưng những giá trị văn hóa trong ngôi đền cũ đã mãi mãi mất đi khó có thể tìm lại được, một trong những giá trị đó là những thần phả, thần tích và sắc phong nói lên lịch sử ngôi đền và tiểu sử, công tích của Quan hoàng Triệu Tường.
    Năm 2010, nhân ngày kị của Quan hoàng Triệu Tường, Ban quản lý đền đặt ra vấn đề tìm hiểu về sự tích của Ngài để có thể công bố cho bà con trong làng xã và khách thập phương cùng hiểu rõ.
    Sau một thời gian sưu tầm, nghiên cứu các tư liệu, giải mã các lời văn, tiểu sử và công tích của Quan hoàng Triệu Tường đã dần hiện rõ và đã có thể công bố được. Tuy vậy nghiên cứu này chỉ mới ở mức độ ban đầu, chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu sự tích của Quan hoàng Triệu Tường, mà niên đại thì cũng đã quá lâu nên không thể nào tránh được thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý và bổ xung thêm tư liệu để chúng ta cùng nhau hiểu rõ, hiểu kỹ hơn về sự tích và công đức của Ngài.

    SỰ TÍCH QUAN HOÀNG TRIỆU TƯỜNG
    Theo tín ngưỡng Đạo Mẫu Việt Nam, các Quan Hoàng có thể là Thiên thần hoặc Nhân thần.
    Theo truyền thuyết thì Quan hoàng Triệu Tường là con của Vua cha Ngọc Hoàng được sai xuống trần đầu thai vào làm con trai nhà họ Nguyễn ở đất Thanh Hoa. Ngài là một vị tướng toàn tài, hay kinh sử, nhuần binh thư. Ngài là một vị trung thần thời Lê có nhiều công lao trong việc phù giúp nhà Lê đánh Mạc.
    Sau khi đánh đuổi nhà Mạc lên đất Cao Bằng, Ngài được vua Lê phong công và giao cho đem binh về đóng ở đất Triệu Tường là quê hương của Ngài. Khi mất, Ngài được vua Lê ban sách vàng và cho lập đền thờ Ngài ở đất Triệu Tường (và có lẽ vì vậy mà Ngài được tôn gọi là Quan hoàng Triệu Tường)
    Để xác định được Quan hoàng Triệu Tường là Thiên thần hay Nhân thần, Thân thế và Sự nghiệp của Ngài như thế nào, chúng tôi đã dựa vào các nguồn tư liệu sau:
    I- TỪ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN THỜ QUAN HOÀNG TRIỆU TƯỜNG
    Hiện nay Quan hoàng Triệu Tường được thờ ở hai nơi là Đền Hoàng ở Hà Nội và Đền Quan hoàng Triệu Tường ở Thanh Hóa. Ngoài ra khi hầu bóng ở nhiều phủ, đền người ta cũng hay thỉnh Quan hoàng Triệu Tường về trong các giá hầu các Quan hoàng thuộc hệ thống Tứ phủ trong Đạo Mẫu Việt Nam.
    Đây là bản văn tiêu biểu mà các cung văn thường hát khi hầu giá Quan hoàng Triệu Tường (bản văn này do Giáo sư Ngô Đức Thịnh sưu tầm):
    VĂN QUAN HOÀNG TRIỆU TƯỜNG
    1. Chí càn khôn nổi miền Nam Việt
    Xứ Thanh Hoa nhân kiệt địa linh
    Có ông Hoàng Triệu giáng sinh
    Vào nhà Nguyễn tộc nên danh tướng tài
    Ngài là con vua thứ hai
    Đời Lê Thái tổ quản cai triều đình
    Có nhà họ Mạc bất bình
    Vua sai quan Triệu để hành binh sang
    Khi đi tế độ nghiêm trang
    10. Khi về đóng đất Tống Sơn Triệu Tường
    Hay đâu sự lạ phi thường
    Hoàng về cho tới Triệu Tường xứ Thanh
    Bái Đô còn dấu anh linh
    Công người còn ghi để sử xanh muôn đời
    Việt sử chép đời vua Lê Thái tổ
    Đức Nguyễn Kim phò chúa an dân
    Sinh ông Hoàng Triệu trung thần
    Đã hay kinh sử lại nhuần binh thư
    Giận họ Mạc quyết trừ căn thảo
    20. Đấng trung thần giữ đạo Khương Duy
    Ra tay huấn luyện binh kỳ
    Làm cho họ Mạc khiếp uy nhường tài
    Đã nên đấng khôi đai đệ nhất
    Dải Hoành Sơn khởi vận hoàng đồ
    Sắc vàng choi chói ngàn thu
    Lầu son phủ tía đế đô muôn đời
    Đất Đại việt chia Trung Nam Bắc
    Khí anh linh đệ nhất thuộc kỳ trung
    Đất Thanh Hoa giời để một dòng
    30. Trời sinh đấng anh hùng cái thế
    Triều Lê kỷ có nhà Nguyễn thị
    Trời định sinh Đệ nhị vương quan
    Vẻ tốt tươi lá ngọc cành vàng
    Tài văn võ đôi đường kiêm vẹn cả
    Giận ngụy Mạc quy mô dân xã
    Lê quốc quân chỉ hạ cầu tài
    Quan Triệu người vâng lệnh bài sai
    Đề binh mã ra ngoài Bắc trấn
    Vận thần toán bầy binh bố trận
    40. Mạc thế cùng chiếu cuốn thu quân
    Nẻo Cao Bằng Mạc chúa ẩn thân
    Ra lệnh chỉ an dân định cảnh
    Ca khải tấu triều đình phụng mệnh
    Gió đưa lay phút lánh cõi thần tiên
    Sổ bìa vàng choi chói đề tên
    Sắc truy tặng ngũ môn chủ soái
    Lập đền thờ Triệu quan thành ngoại
    Biển vàng ban truyền đến hậu lai
    Thỉnh Quan giá ngự đền đài
    50. Khuông phù các chư đệ tử đời đời vinh hoa
    Giải mã lời văn trong bản văn mà các cung văn thường hát khi hầu giá Quan hoàng Triệu Tường trong hệ thống Tứ phủ, chúng ta thấy:

    1. Quan hoàng Triệu Tường là người Thanh Hóa:
    “ Chí càn khôn nổi miền Nam Việt
    Đất Thanh Hoa nhân kiệt địa linh
    Có ông Hoàng Triệu giáng sinh…”

    1. Ngài là con trai thứ hai Ngài Nguyễn Kim:
    “…Việt sử chép đời vua Lê Thái tổ
    Đức Nguyễn Kim phò chúa an dân
    Sinh ông Hoàng Triệu trung thần
    Đã hay kinh sử lại nhuần binh thư…
    …Triều Lê kỷ có nhà Nguyễn thị
    Trời định sinh Đệ nhị vương quan
    Vẻ tốt tươi lá ngọc cành vàng
    Tài văn võ đôi đường kiêm vẹn cả…”

    1. Ngài là Quan trấn thủ ở phương Nam, là trung thần phù Lê diệt Mạc:
    “…Giận họ Mạc quyết trừ căn thảo
    Đấng trung thần giữ đạo Khương Duy
    Ra tay huấn luyện binh kỳ
    Làm cho họ Mạc khiếp uy nhường tài…”
    “…Lê quốc quân chỉ hạ cầu tài
    Quan Triệu người vâng lệnh bài sai
    Đề binh mã ra ngoài Bắc trấn
    Vận thần toán bầy binh bố trận
    Mạc thế cùng chiếu cuốn thu quân
    Nẻo Cao Bằng Mạc chúa ẩn thân…”

    1. Ngài là người có công đầu tiên trong việc khai phá, xây dựng và mở mang bờ cõi tạo nên sự nghiệp lớn (khởi vận hoàng đồ), khởi đầu từ dải Hoành Sơn:
    “…Đã nên đấng khôi đai đệ nhất
    Dải Hoành Sơn khởi vận hoàng đồ
    Sắc vàng choi chói ngàn thu
    Lầu son phủ tía đế đô muôn đời…”

    1. Ngài được vua Lê phong công và cho đem binh về đóng ở đất Triệu Tường thuộc Tống Sơn. Khi Ngài mất, Ngài được ban tặng và cho lập đền thờ ở đất Triệu Tường để lưu truyền cho hậu thế:
    “…Khi đi tế độ nghiêm trang
    Khi về đóng đất Tống Sơn Triệu Tường
    Hay đâu sự lạ phi thường
    Hoàng về cho tới Triệu Tường xứ Thanh…
    …Ca khải tấu triều đình phụng mệnh
    Gió đưa lay phút lánh cõi tiên
    Sổ bìa vàng choi chói đề tên
    Sắc truy tặng ngũ môn chủ soái
    Lập đền thờ Triệu quan thành ngoại
    Biển vàng ban truyền đến hậu lai…”
    Với việc giải mã lời hát của bản văn hầu giá Quan hoàng Triệu Tường, đối chiếu với các tư liệu lịch sử có trong “Đại Việt sử ký toàn thư” và “Đại Nam thực lục”, chúng ta nhận thấy Quan hoàng Triệu Tường trong hệ thống Tứ Phủ của tín ngưỡng Đạo Mẫu Việt Nam chính là Ngài Nguyễn Hoàng.
    Có một vấn đề được đặt ra là Ngài Nguyễn Hoàng có kéo quân về đóng ở đất Triệu Tường, Tống Sơn như trong bản văn hầu giá Quan hoàng Triệu Tường nói đến hay không?
    Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ tục biên, quyển XVIII – Kỷ nhà Lê, trang 1b và 2b có viết:
    “…Bình An Vương (Trịnh Tùng) sai Thiêm đô ngự sử Gia Lộc tử Lê Nghĩa Trạch đem thư cho Thái úy Đoan quốc công Nguyễn Hoàng ở Quảng Nam…. Thư có đoạn “…Đến khi kinh thành đã lấy lại, thiên hạ đã yên Cậu mới ung dung theo về. Triều đình ưu đãi, cho coi một phủ Hà Trung và bẩy huyện miền trên trấn Sơn Nam, trao cho chức Hữu tướng…””
    Theo như nội dung thư, trong thời gian Ngài Nguyễn Hoàng ra Bắc để giúp vua Lê đánh nhà Mạc ( 1593 - 1600 ), do có công lao nên được vua Lê phong công và giao cho cai quản một phủ Hà Trung và bẩy huyện miền trên của trấn Sơn Nam. Khi đã nhận cai quản vùng đất này thì đương nhiên Ngài phải đưa quân về trấn giữ, trong đó có cả quân bản bộ của Ngài, và có lẽ khu vực mà Ngài chọn để đóng quân lúc này không đâu hơn vùng đất Triệu Tường, Tống Sơn. Vùng đất có ruộng vườn tươi tốt, có núi đồi rộng lớn và hiểm trở, tiến thì dễ theo đường bộ và đường thủy đi khắp nơi, lui thì dựa vào núi rừng để phòng ngự chờ thời, hơn nữa vùng đất này là quê hương bản quán của Ngài, Ngài về trong sự chở che và giúp sức của những người đồng hương và họ hàng ruột thịt.
    Do vậy, việc Ngài Nguyễn Hoàng đem quân về đóng ở đất Triệu Tường, Tống Sơn trong thời gian Ngài cai quản phủ Hà Trung và bẩy huyện miền trên trấn Sơn Nam là hoàn toàn có thể.
    II- TỪ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC NHÀ KHOA HỌC
    1- Cố Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng
    Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng là một nhà sử học uy tín. Trong tham luận của Giáo sư viết cho một hội thảo về vua Gia Long dự kiến tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996, do liên quan đến quan điểm chính trị lúc bấy giờ nên hội thảo này cuối cùng đã không thể tổ chức được, Cố Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng đã viết
    “…Từ thế kỷ XVII – XVIII trên đường hình thành Đạo Mẫu Việt Nam …, Nguyễn Hoàng đã được thờ ở khắp xứ Đàng Ngoài dưới tên gọi “Quan lớn Triệu Tường”….”
    (Giáo sư Trần Quốc Vượng – Mấy vấn đề về Vua Gia Long, phần 03.7, trang 8):
    2- Giáo sư Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh
    Giáo sư Tiến sí Ngô Đức Thịnh là nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, ông nguyên là Viện Trưởng Viện nghiên cứu văn hóa Việt Nam và hiện nay là Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia và Phó Chủ tịch Hội đồng Folklore châu Á.
    Trong quá trình nghiên cứu về Đạo Mẫu Việt Nam, ông đã sưu tầm và hoàn chỉnh các bản văn mà các cung văn thường hát khi hầu giá các Mẫu, các Quan, các ông Hoàng và các Cô các Cậu, trong đó có bản văn hát về Quan hoàng Triệu Tường trong hệ thống Tứ phủ như đã nêu ở trên, đồng thời ông cũng xác định Quan Hoàng Triệu Tường là người có công mở rộng bờ cõi đất đai.
    III- TỪ CÁC THÔNG TIN TRÊN MẠNG VỀ TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN VIỆT NAM
    Trên các trang tin điện tử về Tín ngưỡng dân gian Việt Nam như:

    • Đạo Mẫu Việt Nam
    • Đông A phủ
    • Mantico
    • Câu lạc bộ Hát văn
    • Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng VN
    • ……..
    Các trang tin điện tử này đều cơ bản thống nhất khi nói về Quan Hoàng Triệu tường như sau:

    • Ngài là người xứ Thanh Hóa;
    • Là con trai nhà họ Nguyễn, thân phụ Ngài là Ngài Nguyễn Kim, người cai quản triều đình dưới thời vua Lê;
    • Ngài là trung thần triều Lê, có công phù Lê diệt Mạc;
    • Ngài đem quân về đóng ở đất Triệu Tường;
    • Ngài khởi nghiệp lớn từ dải Hoành Sơn;
    • Khi mất, Ngài được Vua Lê ban sách vàng và cho lập đền thờ Ngài ở Triệu Tường xứ Thanh Hoa.
    IV- CÁC NƠI THỜ TỰ
    Hiện nay ở miền Bắc chỉ còn thấy 2 nơi có đền thờ Quan Hoàng Triệu Tường:
    1- Đền Hoàng ở xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Tương truyền đền được xây lên để thờ Ngài ngay trên đất Ngài đóng quân khi Ngài ở Đông Đô giúp vua Lê đánh nhà Mạc.
    2- Đền Quan Hoàng Triệu Tường ở đất Triệu Tường xưa (nay là làng Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa).
    3- Ngài thường hay được thỉnh về trong các giá hầu các quan Hoàng thuộc hệ thống Tứ phủ trong Đạo Mẫu Việt Nam.
    V- TIỂU SỬ VÀ CÔNG TÍCH NGÀI NGUYỄN HOÀNG
    Ngài Nguyễn Hoàng là người Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa. Ngài sinh ngày Bính Dần, tháng Tám, năm Ất Dậu [1525], là con trai thứ hai của Ngài Nguyễn Kim (Cam) - người có công tôn lập Trang tông Dụ hoàng đế húy là Ninh lên ngôi vào năm 1533 mở đầu thời kỳ Lê trung hưng, được vua Lê tôn là Thượng phụ Thái sư Hưng quốc công, chưởng nội ngoại sự, sau này được triều Nguyễn suy tôn là Triệu tổ Tĩnh Hoang đế.
    Khi anh trai bị hãm hại, nghe tiếng Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm là người giỏi về thuật số, từng làm tới chức vị Thái Bảo trong triều Mạc, Ngài Nguyễn Hoàng liền bí mật sai người tới hỏi về kế sách giữ mình thì được Trạng khuyên:
    “Hoành Sơn nhất đái
    Vạn đại dung thân”
    Nghĩa là một dải Hoành Sơn có thể dung thân muôn đời. Hiểu ý, Ngài nhờ chị gái là Ngọc Bảo nói với Trịnh Kiểm tâu lên vua Lê để xin vào trấn đất Thuận Hóa.
    Mùa Đông, tháng Mười, năm Mậu Ngọ [1558], Ngài vâng mệnh vua Lê, Ngài đem theo những người bộ khúc đồng hương ở Tống Sơn và những người nghĩa dũng xứ Thanh Hoa lên đường vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Ngài vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng, được dân mến phục, bấy giờ thường được gọi là chúa Tiên. Nghiệp đế dựng nên, thực là xây nền từ đấy.
    Tháng 5 năm Nhâm Thìn [1592], Ngài đem binh quyền ra Đông Đô yết kiến vua Lê, được phong làm Trung quân đô đốc phủ tả đô đốc chưởng phủ sự Thái úy Đoan quốc công. Ngài đã có nhiều công lao giúp nhà Lê trong việc tiễu trừ nhà Mạc. Tháng 5 năm Canh Tý [1600], Ngài đem cả tướng sĩ thuyền ghe bản bộ đi đường biển trở về Thuận hóa. Từ đấy Ngài và các thế hệ con cháu kế tiếp liên tục mở rộng bờ cõi về phía Nam, xây dựng nên một đất nước thống nhất dưới quyền của Vương triều Nguyễn. Tháng 6, ngày Canh Dần, năm Quý Sửu [ngày 03 tháng 6 ÂL năm 1613], Ngài yếu mệt, cho triệu hoàng tử thứ 6 và các thân thần đến trước giường căn dặn rằng:
    “Đất Thuận Quảng phía Bắc có núi Ngang [Hoành Sơn] và sông Gianh [Linh Giang] hiểm trở, phía Nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời …”.
    Ngày ấy Ngài băng, hưởng thọ 89 tuổi. Ban đầu thì an táng ở núi Thạch Hãn (xã thuộc huyện Hải Lăng, Quảng Trị), sau cải táng ở núi La Khê (xã thuộc huyện Hương Trà, Thừa Thiên-Huế; năm Minh Mệnh thứ 2, phong núi ấy làm núi Khải Vận).
    Trong suốt 55 năm cai trị Thuận-Quảng, nhẫn nhịn để chờ thời cơ, lập chí lớn, gây dựng cơ nghiệp lâu dài để lại cho con cháu mai sau, Ngài vừa là một vị tướng mưu lược, vừa là một vị Chúa khôn ngoan lại có lòng nhân đức, thu phục hào kiệt, vỗ về dân chúng và lo phát triển kinh tế, mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía nam, mở đầu cho việc hùng cứ phương nam của 9 chúa Nguyễn, tạo tiền đề cho việc thành lập Vương triều nhà Nguyễn bao gồm 13 vua;
    Ngài là người có tầm nhìn của một nhà chiến lược xuyên thế kỷ: Ngài hướng ra Bắc mong khôi phục nhà Lê, hướng vào Nam để mở mang bờ cõi; hướng ra các đảo trên biển Đông xác lập chủ quyền quốc gia; mở mang giao thương quốc tế, lập nên các khu thương mại tự do để làm cho Đàng Trong giầu mạnh; tin dùng người hiền tài, vỗ về khoan thư sức dân cho nên Ngài được dân chúng Thuận Quảng cảm mến, thường gọi Ngài là Chúa Tiên.
    Ngài được các vua triều Nguyễn sau này suy tôn là Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế, lăng gọi là Trường Cơ.
    LỜI KẾT
    Quan hoàng Triệu Tường – ngài Nguyễn Hoàng, vị Nhân thần có nhiều công lao trong sự nghiệp xây dựng và mở mang bờ cõi mở đầu cho việc hùng cứ phương nam của 9 chúa Nguyễn, tạo tiền đề cho việc thành lập Vương triều bao gồm 13 vua nhà Nguyễn.
    Nhà Nguyễn – bao gồm cả các chúa Nguyễn và các vua Nguyễn – đã để lại một di sản lớn lao nhất cho dân tộc là một giang sơn đất nước trải rộng trên lãnh thổ thống nhất từ Bắc chí Nam, bao gồm cả đất liền và các hải đảo trên biển Đông.
    Trên lãnh thổ đó là một di sản văn hóa đồ sộ bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Quần thể di tích Cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới từ 11/12/1993 và đến ngày 07/11/2003 Nhã nhạc cung đình Huế lại được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Hội An cũng là một cảng thị tiêu biểu và khu di tích phố cổ Hội An cũng đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào ngày 04/12/1999. Chưa có một thời kỳ lịch sử nào để lại cho dân tộc ba di sản văn hóa được thế giới công nhận và tôn vinh với những giá trị mang ý nghĩa toàn cầu như vậy.
    Khi sinh thời Ngài là một vị tướng lĩnh, một vị quan lớn, một vị Chúa tài năng, đức độ, trí dũng song toàn có nhiều công lao to lớn và căn bản với đất nước. Khi mất Ngài là một vị Nhân thần anh linh luôn phù hộ cho nhân dân và xã tắc, đó là Quan Hoàng Triệu Tường – ngài Nguyễn Hoàng, đức Thái tổ Gia dụ Hoàng đế, vị Chúa và là vị Nhân thần mãi trường tồn trong đời sống tâm linh của nhân dân và luôn được khắc ghi những công lao to lớn của Ngài trong lòng dân tộc Việt Nam./.
     
    Last edited by a moderator: 30/7/13

    Bình Luận Bằng Facebook

  2. ICB

    ICB New Member

    Bạn này rảnh rỗi nhỉ? update liên tục
     
  3. lavie

    lavie Member

    Bạn Thanhlongvan làm nhà nước mà, nên là tỉ phú thới gian.:>
    thanks
     
  4. ICB

    ICB New Member

    Tui cug lam NN ma chag ranh gi. Luc nao cug phai tiep cac con zoi ! Chep.
     
  5. thanhlongvanhero

    thanhlongvanhero New Member

    các bác lại chém... tôi bận theo mùa... có lúc bận tối tắm mặt mũi có khi rãnh rỗi ngồi đếm ruồi
     
  6. hungthang999

    hungthang999 Member

    Quan Triệu Tường không phải là Quan Hoàng Đôi

    Trong xứ Thanh Hóa đồng nhất Quan Triệu Tường với Quan Hoàng Đôi, ở Hà Nội thì Quan Triệu Tường ở ngôi vị quan lớn. Theo quan điểm của cá nhân tôi Quan Triệu Tường không phải là Quan Hoàng Đôi mà phải thuộc hàng Quan Lớn vì những lý do sau:


    - Thứ nhất: Quan Hoàng Đôi giáng trần cùng thời với quan Hoàng Bẩy bảo Hà, điều này được khẳng định trong bản văn ông Hoàng Bẩy như sau:

    “Quan Hoàng Bẩy Bảo Hà chính vị
    Cùng tướng công đệ nhị Hoàng Đôi
    Can qua dâu bể biến dời
    Anh hùng xưa đã ra người cung tiên”

    Mà theo truyền thuyết kể lại thì Quan Hoàng Bẩy giáng trần vào cuối đời Lê niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786). Thời đó khắp vùng Quy Hóa gồm Châu Thủy Vĩ và Châu Văn Bàn (thuộc Lào Cai bây giờ) luôn bị giặc vùng phương Bắc tràn sang cướp phá, giết hại dân lành. Trước cảnh đau thương tang tóc ấy, tướng Nguyễn Hoàng Bẩy được triều đình giao trọng trách khởi binh dẹp loạn vùng biên ải. Đội quân của ông tiến dọc sông Hồng đánh đuổi quân giặc, giải phóng Châu Văn Bàn và củng cố xây dựng Bảo Hà thành căn cứ lớn. Trong một trận chiến không cân sức với quân giặc, ông đã anh dũng hy sinh, thi thể ông trôi theo sông Hồng tới Bảo Hà thì dạt vào bờ. Nhân dân trong vùng đã vớt, an táng thi thể ông và lập đền thờ tại đây để ghi nhớ công đức to lớn của ông.


    - Thứ hai: Quan Triệu Tường không giáng trần cùng thời với ông Hoàng Bẩy Bảo Hà. Điều này được khẳng định trong bản văn Quan Triệu Tường:

    “Việt sử chép đời Lê Thái Tổ
    Đức Nguyễn Kim phò chúa an dân
    Sinh ông Hoàng Triệu trung thần
    Đã hay kinh sử lại nhuần binh thư”
    ...
    “Quan Triệu ngài vâng lệnh bài sai
    Đề binh mã ra ngoài Bắc trấn
    Vận thần toán bày binh bố trận
    Mạc thế cùng chiếu cuốn thu quân
    Nẻo Cao Bằng, Mạc chúa ẩn thân”

    Trước hết có thể thấy về sự tích thì ông Hoàng Triệu là con trai của Nguyễn Kim (1468 – 1545), ông tham gia vào công cuộc Phù Lê Dẹp Mạc ở những giai đoạn khi nhà Mạc rút lên Cao Bằng cát cứ, giai đoạn lịch sử này ứng với khoảng thời gian những năm 1620. Và cho đến khi nhà Mạc thực sự chấm dứt thì cũng chỉ vào năm 1677. Như vậy xét về mặt lịch sử Quan Hoàng Triệu phải giáng trần trước Quan Hoàng Bẩy Bảo Hà, không thể là anh em của Quan Hoàng Bẩy Bảo Hà được. Do vậy nếu coi Quan Hoàng Triệu là Quan Hoàng Đôi thì sẽ không phù hợp như trong bản văn ông Hoảng Bẩy:


    “Cùng tướng công đệ nhị Hoàng Đôi

    Can qua dâu bể biến dời”

    - Thứ ba: Dựa trên quan điểm về Tín ngưỡng Tứ Phủ thì vị trí thứ hai trong hệ thống thần linh sẽ thuộc về Nhạc Phủ, ví dụ như Quan đệ nhị, Chầu đệ nhị, Cô đôi, Cậu đôi. Vậy thì Quan hoàng đôi phải thuộc về Nhạc phủ, tuy nhiên lịch sử về Quan Triệu Trường cũng như đền thờ của ngài lại cho thấy ngài không thuộc về Nhạc phủ. Đây là một lý do nữa để khẳng định Quan Triệu Tương không phải là Quan Hoàng Đôi.


    Quan Triệu Tường đồng nhất với Quan Lớn Đệ Thập


    Ở Hà Nội hay thỉnh ông Triệu Tường về như một vị Quan Lớn gọi là Ông Lớn Triệu Tường, ngự sau giá Quan Điều Thất, với danh hiệu là con Vua Bát Hải Động Đình. Theo tôi quan điểm này là hợp lý hơn vì những lý lo sau:


    - Thứ nhất: Như đã nói ở trên thì Quan Triệu Tường ngài không phải là Quan Hoàng Đôi, như vậy việc đặt ngài ở vị trí thuộc hàng Quan Lớn sẽ là hợp lý.


    - Thứ hai: Quay trở lại với thần tích Đền Đồng Bằng thì sau khi chiến thắng oanh liệt giặc ngoại xâm, Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình đã giao cho Quan Đệ Thập chấn giữ vùng đất Cửu Chân. Mà theo "Dư địa chí" (
    輿地誌) của Nguyễn Trãi, "Đại Việt sử ký toàn thư" và "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" thì nước Văn Lang thời các Vua Hùng khi đó được phân thành 15 bộ là:
    1 - Giao Chỉ (交趾): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú là nay thuộc ba tỉnh Hà Nội (內), Nam Định (南定) và Hưng Yên (興安)
    2 - Chu Diên (朱鳶): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú là nay thuộc tỉnh Sơn Tây (山西)
    3 - Vũ Ninh (武寧): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú là nay thuộc tỉnh Bắc Ninh (北寧)
    4 - Phúc Lộc (福祿): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú là nay thuộc tỉnh Sơn Tây
    5 - Việt Thường (越裳): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú rằng nay là vùng đất từ phủ Hải Lăng (海陵) tỉnh Quảng Trị (廣治) đến phủ Điện Bàn (奠盤) tỉnh Quảng Nam (廣南). Đào Duy Anh căn cứ theo tên huyện Việt Thường quận Cửu Đức (九德) thời thuộc Ngô cho rằng đây là khu vực huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.
    6 - Ninh Hải (寧海): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú là thuộc tỉnh Quảng Yên.
    7 - Dương Tuyền (陽泉): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú là nay thuộc tỉnh Hải Dương (海陽), Đào Duy Anh căn cứ vào tên huyện Thang Tuyền (湯泉) của Thang châu (湯州) thì cho rằng là đất Thang châu thời thuộc Đường, tức vùng tây nam Quảng Tây, Trung Quốc hiện nay.
    8 - Lục Hải (陸海): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú là nay thuộc tỉnh Lạng Sơn (諒山), Đào Duy Anh xác định là ven biển Hải Phòng hiện nay.
    9 - Vũ Định (武定): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú là nay thuộc hai tỉnh Thái Nguyên (太原) và Cao Bằng (高平).
    10 - Hoài Hoan (懷驩): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú là nay thuộc tỉnh Nghệ An (乂安).
    11 - Cửu Chân (九真): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú là nay thuộc tỉnh Thanh Hóa (清化).
    12 - Bình Văn (平文): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" nghi ngờ không khẳng định ở đâu.
    13 - Tân Hưng (新興): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú là nay thuộc hai tỉnh Hưng Hóa (興化) và Tuyên Quang (宣光).
    14 - Cửu Đức (九德): "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" chú là nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh (河靜).
    15 - Văn Lang (文郎)

    Như vậy Bộ Cửu Chân khi đó chính là địa phận tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Chính vì Quan Đệ Thập đã được giao trấn giữ ở vùng đất Cửu Chân mà ngày nay ở quần thể di tích Đền Đồng Bằng không có Đền thờ Quan Đệ Thập là vì thế.

    Tuy Quan Triệu Tường giáng muộn (thế kỷ thứ XVI), nhưng ngài sinh ra ở Thanh Hóa, trấn giữ vùng Thanh Hóa và có đền thờ ở Thanh Hóa (vùng đất Cửu Chân thời Vua Hùng). Với những chiến công lớn, Quan Triệu Tường vừa là một vị tướng mưu lược, vừa là một vị chúa khôn ngoan lại có lòng nhân đức, thu phục hào kiệt, vỗ về dân chúng và lo phát triển kinh tế, cho nên dân chúng cảm mến, gọi ông là, dù đương thời ông chỉ có chức Đoan Quốc công. Ông được ví giống như Nỗ Nhĩ Cáp Xích, người sáng lập ra nhà Hậu Kim, tiền thân của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc sống cùng thời với ông. Ông có thể coi là người tiên phong trong việc mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía Nam, mở đầu cho việc hùng cứ phương nam của 9 chúa Nguyễn, tạo tiền đề cho việc thành lập vương triều nhà Nguyễn bao gồm 13 vua. Với những chiến công lớn và được giao trấn giữ trên vùng đất Thanh Hoa (đây cũng là vùng đất Cửu Chân thời vua Hùng), vì vậy mà Quan Triệu Tường được coi chính là sự hiển linh của Quan Lớn Đệ Thập, và được đồng nhất với hình ảnh của Quan Lớn Đệ Thập thời Hùng Vương để đưa vào Tín ngưỡng Tứ Phủ.
     
    Chỉnh sửa cuối: 1/8/13

Chia sẻ trang này