Những ngôi chùa và đền nằm xung quanh Hồ Tây

Thảo luận trong 'Di tích và Danh thắng' bắt đầu bởi sen việt, 2/10/12.

Lượt xem: 3,712

Tags:
  1. sen việt

    sen việt Super Moderator

    1. Chùa Kim Liên

    Kiến trúc chùa Kim Liên được xem là "độc nhất vô nhị" ở Hà Nội, ngoài ra chùa còn được đánh giá là một trong những ngôi chùa đẹp nhất ở vùng đất kinh kỳ, ngàn năm văn hiến này.

    Chùa Kim Liên nằm trên một doi đất rộng ăn ra Hồ Tây. Đây là địa phận làng Nghi Tàm, Quảng An, quận Tây Hồ hiện nay. Tương truyền, đây chính là khu vực nền cũ của cung Từ Hoa, có từ đời nhà Lý. Chuyện xưa kể rằng, công chúa Từ Hoa, con vua Lý Thần Tông (1128 - 1138), đã đem cung nữ đến khu vực này trồng dâu nuôi tằm, mở mang một trang ấp đặt tên là trại Tàm Tang. Vua Lý Thần Tông cho dựng cung Từ Hoa ở ngay trang ấp Tàm Tang để công chúa sống. Dần dần, vùng đất này được gọi là Nghi Tàm.

    Trong chùa hiện nay có tấm bia đá do học giả Bùi Huy Cận soạn năm 1868. Nội dung tấm bia cho biết: Chùa có tên là Đại Bi, được xây dựng vào năm 1861 và do gia đình ông Nguyên Thế Hựu bỏ tiền ra xây dựng. Đến thời chúa Trịnh Sâm, chùa có sự thay đổi khá nhiều. Do quá say mê thứ phi Đặng Thị Huệ, năm 1771, chúa Trịnh Sâm đã cho quan quân tháo dỡ một số ngôi chùa khác trong kinh thành để tu bổ lại chùa Đại Bi vì đây là nơi bà thường đến lễ bái. Ông cũng cho đổi tên chùa thành Kim Liên. Sau đó, vua Quang Trung đã cho trùng tu lại chùa Kim Liên. Diện mạo ngôi chùa được giữ nguyên từ đó đến nay. Độc đáo và hài hòa Trong hệ thống chùa chiền ở toàn miền Bắc hiện nay, chỉ còn một ngôi chùa có lối kiến trúc tương tự chùa Kim Liên. Đó là chùa Tây Phương ở Thạch Thất, Hà Tây với những pho tượng La Hán nổi tiếng. Bố cục của chùa có lối chữ Tam, gồm ba nếp nhà chạy song song với nhau, tòa giữa ngắn hơn và mỗi nếp đều có cấu trúc độc lập, gần giống nhau, gắn kết lại, tạo thành một thể thống nhất. Các nếp nhà đều có hai tầng mái, lớp ngói vảy cũ với các đầu đao được làm bằng gỗ, chạm khắc cầu kỳ, nhưng trông rất mềm mại. Tất cả các cột, xà đều được làm bằng gỗ, tường xây gạch không trát phía ngoài.
    [​IMG]

    Công trình Phật giáo này có ba ngôi nhà chồng diêm xếp nối tiếp nhau thành hình chữ “tam”, vừa trang nghiêm, vừa lộng lẫy, lại hòa nhập vào cây xanh và nước biếc xung quanh. Mỗi ngôi nhà đều có hai tầng, mỗi tầng bốn mái (kiểu thức mà dân gian gọi là tám mái). Kiểu thức chồng diêm này đã có từ thời Mạc, nhưng chủ yếu được dùng để xây các gác chuông. Hầu như không có ngôi chùa nào dùng kiểu kiến trúc này để xây các nhà chính như ở chùa Kim Liên. Thêm vào đó, cả bốn mặt tường chùa đều xây gạch trần mà màu sắc của gạch kết hợp với việc trổ các cửa sổ tròn hình “sắc sắc – không không” theo quan niệm Phật giáo như ở chùa Tây Phương tạo ra vẻ đẹp mộc mạc, trang nhã.
    [​IMG]

    Nét độc đáo của chùa Kim Liên còn thể hiện ở tam quan mà nhìn từ xa như một cánh diều no gió đang bay khỏi lũy tre làng lên trời cao. Trong khi phần lớn tam quan các chùa đều được xây dựng kiểu kẻ chuyền ba cột (hàng cột giữa vừa chịu lực của bộ mái, vừa làm điểm tựa cho bộ khung cửa khi đóng mở) thì ở chùa Kim Liên, tam quan chỉ có một, vì nhà với một cột giữa và từ cây cột đó các con rường xòe ra hai phía đỡ các tàu mái. Khẩu độ của các con rường thu nhỏ dần tới nóc, tạo độ dốc cần thiết cho mái chảy. Các vì được nối với nhau bằng các xà trên và xà dưới, tạo nên ba gian, hay ba lối vào theo quy định của cửa thiền.
    [​IMG]

    Đề tài chủ yếu trang trí trên kiến trúc chùa là loại lá ba chẽ, có gân nổi mà có nhà mỹ thuật gọi là lá “đu đủ” hoặc lá “thầu dầu”. Tuyệt nhiên không thấy đề tài rồng ổ, rồng đàn hoặc rồng hòa chung nô dỡn với các loài muông thú như ở nhiều chùa khác. Tại chùa Kim Liên còn giữ được nhiều pho tượng đẹp. Vẻ đẹp khỏe khoắn của phong cách tạo tác thể hiện rõ nhất ở tượng Tôn Ngộ Không. Nhìn từ bất cứ góc độ nào, người xem đều thấy Tôn Ngộ Không như sắp hành động. Chỉ với động tác bấm ngón tay cũng đủ làm cho Tôn Ngộ Không có vẻ bình tĩnh, nhẫn nại. Tượng Văn Thù ở tư thế đứng, hai bàn tay chắp lại, hai ống tay áo ép sát ngực, vẻ đăm chiêu như đang niệm Phật. Nhưng vẻ bình thản trên nét mặt lại không hòa hợp với sự rung động trên nếp áp cà sa. Nét tương phản này làm lộ ra sự mâu thuẫn giữa cái bình lặng vừa có với cái náo động đang vương vấn, khiến cho pho tượng toát lên vẻ lo âu. Rồi tượng Xá Lợi cao 1,5 mét…

    Toàn bộ cổng chùa cũng được làm bằng gỗ, khá đồ sộ và chạm khắc công phu. Các hoa văn được khắc trên vì kèo, đầu cột, đầu mái chùa, chủ yếu là hình hổ phù, lá và hoa sen, hình rồng cách điệu,vờn mây... Đây là lối kiến trúc có từ thế kỷ 17 trở về trước và chỉ phổ biến ở Đàng Trong. Người ta cho rằng, chính vua Quang Trung đã hạ lệnh trùng tu lại chùa, có thể là do một tốp thợ Đàng Trong tiến hành, nên chùa mới có được lối kiến trúc này, khác hẳn so với những ngôi chùa khác ở đất Thăng Long- Hà Nội. Đặc biệt, trong chùa có một pho tượng gỗ được xác định là tạc cách đây hơn 200 năm. Tượng cao khoảng 1,7m, hình một người trung niên, râu ba chỏm, tay cầm hốt, đầu đội mũ niệm, nhưng lại mặc áo cà sa. Có thuyết cho rằng đó là tượng chúa Trịnh Giang hoặc chúa Trịnh Sâm nhưng cũng có thuyết cho đó là tượng vị hòa thượng trông coi chùa, mà vị này nguyên là nội thị trong phủ chúa Trịnh. Tiếc là trong những năm qua, xung quanh khu vực chùa, rất nhiều khu biệt thự kiểu Tây, rồi những khách sạn lớn mọc lên làm mất đi không gian thoáng đãng, thanh tịnh rất đẹp của chùa Kim Liên.

    Nguồn tham khảo:
    - Ktdt.com
    - tsttourist.com

     

    Bình Luận Bằng Facebook

  2. sen việt

    sen việt Super Moderator

    Phủ Tây Hồ

    [​IMG]


    Phủ nằm trên bán đảo lớn giữa hồ Tây, thuộc thôn Tây Hồ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Phủ thờ Liễu Hạnh, một nhân vật trong truyền thuyết, tương truyền bà sống vào khoảng thế kỉ XVII nhưng được nhân dân thần thánh hoá tôn làm Thánh Mẫu, đứng đầu thần điện trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam...


    Thánh Mẫu Liễu Hạnh được cho là Công chúa của Ngọc Hoàng, do lỡ tay làm vỡ chén ngọc mà bị đày xuống trần gian vào thời Lê Trung Hưng, cậy thế con nhà giời, Công chúa Liễu Hạnh một mình khuấy đảo thiên hạ, Ngọc Hoàng lại cho gọi về trời.

    Năm Đinh Tỵ (1557) vào ngày 13-8, người giáng trần lần thứ hai, đầu thai làm con một ông quan tên là Lê Thái Công ở thôn Văn Cát, xã An Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định. Lần này bà có cuộc sống ngắn ngủi, lấy chồng và sinh con năm 18 tuổi, mất năm 21 tuổi vào ngày 03-03 giờ Dần. Người dân đã lấy ngày này là ngày giỗ Mẫu.

    Do yêu cuộc sống nơi trần thế, Mẫu Liễu Hạnh lại xin Ngọc Hoàng cho tái sinh lần thứ 3, lần này bà được phép "tiêu giao tuỳ thích". Trong kiếp mới, bà đã du ngoạn khắp đất nước, thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên, gặp gỡ nhiều người. Bà đã giúp nhân dân chống quân xâm lược và trở thành một lãnh tụ của nhân dân. Do đức hạnh của bà, nhân dân đã lập đền thờ tại Thanh Hóa (nay là Đền Sòng). Mẫu Liễu Hạnh đã được thánh hóa và trở thành một hình ảnh mẫu mực cho phụ nữ Việt Nam. Cũng theo truyền thuyết, phủ Tây Hồ là nơi hội ngộ lần thứ 3 của Mẫu Liễu Hạnh và trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.


    [​IMG]


    Chính điện Phủ Tây Hồ

    Theo truyền thuyết, phủ được xây dựng vào khoảng thế kỉ XVII nhưng thực ra phủ có muộn hơn nhiều. Các sách nói về di tích của Thăng Long - Hà Nội cổ như Thăng Long cổ tích khảo, Long Biên bách nhị vịnh, Tây Hồ chí, ngay cả Hà Thành linh tích cổ lục là tác phẩm ra đời đầu thế kỉ XX đều không ghi chép về di tích này. Nếu vào thời gian đó, phủ Tây Hồ đã nổi tiếng như ngày nay thì tất đã có trong các sách nói trên.

    Các tư liệu chữ Hán hiện có ở phủ như bia, chuông, sắc phong, hoành phi, câu đối cũng chỉ thấy xuất hiện vào cuối đời Nguyễn. Điều đáng chú ý là trên các bia chỉ thấy nói đến đền Bảo Khánh. Quả chuông đúc năm Duy Tân thứ 6 (1912) cũng có tên Bảo Khánh từ chung (chuông đền Bảo Khánh). Như vậy, vì nơi tận cùng của đất Tây Hồ này nguyên là xóm Cung, còn gọi là xóm Quảng Khánh, mà Quảng Khánh là tên mới có gần đây, trước kia là Bảo Khánh. Từ đó có thể thấy phủ Tây Hồ ngày nay chính là đền Bảo Khánh xưa. Việc thay đổi tên gọi có lẽ chỉ xảy ra từ những thập kỉ đầu của thế kỉ XX.

    Ngày nay, tên phủ Tây Hồ được phổ biến rất rộng rãi. Phủ có hai tòa nhà riêng là phủ chính và động Sơn Trang. Cũng nên nói thêm rằng phủ này cũng như đền kim Ngưu đã từng bị Pháp phá hủy trong những năm đầu của cuộc kháng chiến. Ngôi phủ chính được dân làng làm lại vào năm 1949 - 1950, còn động Sơn Trang thì mới xây khoảng hơn 10 năm trở lại đây. Đây là tòa nhà xây bằng chất liệu mới nhưng cũng khá đẹp. Tầng trên thờ Phật, giữa là Tam tòa thánh mẫu, dưới là thờ Mẫu Thượng Ngàn và 24 cô Sơn Trang. Ở các tầng đều có đắp hình núi non sông suối, rừng thẳm, cây ngàn. Điện Sơn Trang thực sự là hình ảnh thu nhỏ của đất nước.

    Phủ được xây dựng ở một bãi đất trên gò Chúng Long quay về hướng Tây Nam, có tổng diện tích hơn 1.000m2, 3 phía là mặt nước hồ Tây. Từ cổng hướng Đông Bắc là đường vào sân, phía trước phủ chính, hai bên sân là nơi tọa lạc của "điện cô", "điện cậu" và một cây si sum suê. Phủ chính gồm tòa tiền tế, trung tế và hậu tế. Bên cạnh đó là tòa sơn trang gồm hai tầng. Nghi môn của phủ được xây dựng bằng nguyên liệu bền vững, trên nóc mái có đắp nổi hình mặt nguyệt có đao lửa, góc đao mái tạo hình vân xoắn, mái làm giả ngói ống, dưới diềm mái có khắc bốn chữ Hán "Phong đài nguyệt các". Hai bên có xây trụ kiểu lồng đèn, thân trụ có mặt cắt hình vuông tạo gờ nổi, trên đắp nổi đôi câu đối bằng chữ Hán cổ nói về sự tích Phùng Khắc Khoan gặp Liễu Hạnh và bốn chữ Hán "Tây Hồ hiển tích" (Tích cũ hiện lại ở hồ Tây).
    [​IMG]


    Hậu cung

    Kiến trúc bên trong phủ chính được bố trí theo chiều sâu, tạo sự thuận tiện trong quá trình sử dụng, mặt trước phủ chính có kết cấu kiểu nghi môn, 2 tầng mái, trụ gạch, trang trí hoa lá, mái làm giả ngói ống. Qua Nghi môn là Phương đình 2 tầng 8 mái, 2 đầu đốc mái thượng đắp hình hai con kìm đuôi xoắn, 4 góc đao mái thượng trang trí hoa văn hình hạc, mái lợp ngói lật, 4 góc đao mái hạ tạo 4 hình rồng. Bộ khung nhà mái thượng theo kiểu kèo cầu, phần dưới là kẻ chuyền, nền nhà lát gạch.

    Nhà tiền tế sát sau Phương đình. Nhà xây kiểu tường hồi bít đốc. Lòng nhà chia ba gian không đều nhau. Các bộ vì đỡ mái được làm theo kiểu thượng rường hạ kẻ, mái phân "thượng tam hạ tứ" đặt trên bốn cột gỗ tròn thao tác theo kiểu "thượng thu hạ thách", các đầu kẻ gác trực tiếp lên hai tường hồi.

    Hậu cung là một nếp nhà 3 gian chạy dọc về phía sau kiểu hai tầng bốn mái, lợp ngói mũi hài cổ. Xung quanh tường gạch, các bộ vì đỡ mái làm theo kiểu kèo cầu quá giang, cột trốn, mái phân "thượng tam, hạ tam". Phần thờ tự được bố trí ở gian giữa theo thứ tự lần lượt từ ngoài vào: tam phủ công đồng, tứ phủ vạn linh, hội đồng các quan, Hoàng Bẩy áo xanh, Hoàng Mười áo vàng. Tiếp đó là các bệ thờ Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu. Lớp thứ ba là thờ thánh mẫu Liễu Hạnh. Trên nóc mái giáp cửa hậu treo đại tự Mẫu nghi thiên hạ, hai bên có câu đối bằng gỗ. Lớp trên cùng hậu cung là nơi đặt tượng của bà Liễu Hạnh và tượng chầu Quỳnh, chầu Quế. Trên cao là bức đại tự Thiên tiên trắc giáng và Mẫu nghi thiên hạ.

    Nguồn: trip2vietnam.com


     
  3. nguoinamdinh

    nguoinamdinh New Member

    cho em hoi chua kim lien co gan phu tay ho ko ak. cach day may nam em di xe buyt ra phu tay ho nhung di nham vao 1 chua nao day the la ko ra toi dc phu mau hihi den lan thu 2 moi tim dc dg vao phu mau
     

Chia sẻ trang này