Nghệ thuật hát văn xưa...

Thảo luận trong 'Nghệ thuật – Nghệ nhân hát văn' bắt đầu bởi kuangtuan, 6/6/11.

Lượt xem: 3,293

  1. kuangtuan

    kuangtuan New Member

    Như đã biết, Hát Văn luôn được biết đến như một thành tố nghệ thuật gắn liền với tín ngưỡng Tứ phủ. Thế nhưng trong quá khứ, Hát Văn còn được sử dụng trong những lễ thức khác nữa. Đó là tục thờ cúng tổ tiên và tục thờ thành hoàng làng. Ở đây, tất sẽ có một nghi vấn là vậy Hát Văn có mặt trước nhất từ đâu, trong hay ngoài tín ngưỡng Tứ phủ? Sẽ tồn tại 2 giả thiết: -Giả thiết thứ nhất, Hát Văn sinh ra là để gắn bó với các lễ thức của tín ngưỡng Tứ phủ. Tính thực hành xã hội của thể loại là ngợi ca công đức của các bậc tiền nhân thông qua các bản Văn chầu. Về sau, dựa trên đặc thù này mà người ta đã mượn âm nhạc Hát Văn làm phương tiện để ca ngợi cụ tổ dòng họ hay đức thành hoàng làng.
    -Giả thiết thứ hai, ngược lại với giả thiết thứ nhất, Hát Văn sinh ra trước nhất từ tục thờ cúng tổ tiên dòng họ - một tín ngưỡng bản địa cổ xưa nhất của người Việt. Trải theo thời gian, do tính thực hành xã hội phù hợp (ngợi ca tiền nhân) nên Hát Văn dần được đưa vào hệ thống thần điện Tứ phủ.

    [​IMG]
    Dưới đây, chúng ta hãy xem xét các hình thức sinh hoạt Hát Văn thủa xưa theo lời kể của các bậc cung văn lão thành
    [*]
    .

    Hình thức thứ nhất - Những sinh hoạt nằm ngoài tín ngưỡng Tứ phủ.
    -Một là Hát Văn được dùng để ca ngợi cụ tổ của dòng họ. Hình thức sinh hoạt này không nằm trong nghi thức của tín ngưỡng Tứ phủ. Thông thường, khi một dòng họ nào đó trong cộng đồng có nhu cầu, họ mời cung văn đến để soạn một bản văn phù hợp với điển tích của cụ tổ. Sau đó, người cung văn sẽ phải nắn vần, sắp điệu sao cho phù hợp để có được một bản Văn hoàn chỉnh. Tiếp đó, trong ngày giỗ tổ họ, cung văn sẽ đến nhà thờ tổ họ dâng bản Văn đó dưới hình thức Hát thờ. Tất nhiên, hình thức sinh hoạt này thường chỉ diễn ra ở những dòng tộc mà con cháu có đời sống khá giả, đủ điều kiện vật chất để biện lễ. Bởi lẽ, mỗi bản văn đó trên thực tế đều là một tác phẩm mới, nằm ngoài hệ thống Văn chầu Tứ phủ. Nó thực sự là một "đơn đặt hàng" cho những sáng tạo riêng của người cung văn, luôn có sức hấp dẫn khác biệt.
    -Hai là Hát Văn được dùng để ca ngợi đức thành hoàng làng. Đây cũng là điểm đáng chú ý bởi nói chung, thành hoàng làng không thuộc đối tượng các vị thánh trong thần điện Tứ phủ. Trong dịp lễ cúng đình, thường thì người ta tổ chức lễ tế thành hoàng trước, sau đó mới dâng bản Văn chầu thờ ca ngợi đức ngài. Tất nhiên, đây cũng là dịp để người cung văn sáng tạo một tác phẩm riêng ngoài hệ thống Văn chầu Tứ phủ.

    [​IMG]
    Cũng cần phải nói thêm rằng Hát Văn không bao giờ dùng trong nghi thức Phật giáo. Các cụ bảo rằng “Phật không nghe Văn, chỉ nghe kinh, canh, kệ” - là những loại âm nhạc riêng của nhà chùa. Nếu có chăng thì Hát Văn chỉ được dùng ở chùa trong trường hợp khu biệt tại gian thờ Mẫu riêng. Đó là những ngôi chùa có cấu trúc bồi ghép thêm hệ thống thần điện Tứ phủ - kiểu dạng "tiền Phật, hậu Mẫu". Một sự lai ghép giữa tín ngưỡng ngoại nhập và tín ngưỡng bản địa thật thú vị!
    Hình thức thứ hai - Hát Văn được dùng để dâng Văn bản mệnh. Ở nông thôn xưa, những người tự cảm thấy mình "căn cao, số nặng" thường muốn lập bát hương bản mệnh để ở ngoài sân nhà. Thần bản mệnh ở đây được gọi là "Bà bán thiên". Khi đó, họ phải mời cung văn tới làm lễ dâng bản văn Bà bán thiên công chúa - một ngôi vị ứng với Thánh Mẫu Cửu Trùng trong hệ thống thần điện Tứ phủ.

    [​IMG]
    Hình thức thứ ba - Hát Văn hầu thánh Tứ phủ, chỉ sinh hoạt tại các đền phủ của cộng đồng - gọi là hát Chầu thờ. Đây là hình thức hát hầu thánh trực tiếp, dâng văn vọng bái thần điện mà không thông qua vai trò trung gian của người hầu đồng. Hình thức sinh hoạt này được cố định trong những ngày khánh tiết quan trọng của tín ngưỡng Tứ phủ. Tùy theo từng đền phủ, vào lễ giao thừa, lễ thượng nguyên hay ngày tiệc của thánh.., thủ nhang đồng đền và cung văn phải sắm sửa lễ vật để dâng văn Chầu thờ. Trong nghi lễ này, trước tiên, cung văn phải diễn tấu bản Văn Công Đồng - một bản văn có tính tổng hợp, mời gọi toàn thể chư vị phật thánh về chứng giám cho buổi lễ. Sau đó, tùy theo từng nơi mà cung văn sẽ hát tiếp bản văn có nội dung ứng với vị thánh bản đền. Kết thúc buổi hát Chầu thờ, cung văn thường phải dâng bản văn tạ ơn - gọi là văn Chầu thủ đền. Đây là một bản văn có nội dung chung nhất, như một sự bái tạ sau cùng, được dùng ở tất cả các đền phủ.

    [​IMG]
    Dâng văn Chầu thờ
    Theo quy định, hát chầu thờ là trách nhiệm của người trưởng cung văn các khu vực đền phủ. Điều đó cho thấy, chất lượng âm nhạc hát Chầu thờ luôn được coi trọng. Bởi trưởng cung văn bao giờ cũng là nghệ nhân có năng lực nghệ thuật cao nhất trong cộng đồng các cung văn hành nghề mỗi vùng.
    Hình thức thứ tư - Hát Văn dùng để hầu thánh thông quá vai trò trung gian của chân đồng - thường gọi là hát hầu đồng (hay hát hầu bóng). Đây là hình thức sinh hoạt phổ biến nhất của nghệ thuật Hát Văn. Tất nhiên nơi tổ chức phải là điện thần Tứ phủ trong các đền, phủ hay ngôi chùa “tiền Phật hậu Mẫu” của cộng đồng hoặc các điện thờ tại tư gia. So với những hình thức sinh hoạt khác, hát hầu đồng có một số điểm khác biệt quan trọng.

    [​IMG]
    -Thứ nhất, trong Hát Văn, mỗi bản văn được thể hiện bằng nhiều làn điệu âm nhạc khác nhau. Do vậy, mỗi bản văn đương nhiên là một liên khúc kết nối các làn điệu. Trong các hình thức sinh hoạt khác của Hát Văn, người ta chỉ dâng một bản văn. Riêng trong sinh hoạt hát hầu đồng, người ta phải lần lượt dâng nhiều bản văn khác nhau ứng với các vị thánh trong điện thần Tứ phủ theo thứ tự từ cao xuống thấp. Mỗi bản văn ứng với một vị thánh - gọi là giá đồng. Mỗi cuộc hầu đồng (gọi là vấn hầu) bao giờ cũng gồm nhiều giá đồng. Trong đó, một vấn hầu bao gồm những giá đồng nào hoàn toàn tùy thuộc vào "căn số" của từng chân đồng cụ thể. Giữa các giá đồng, âm nhạc luôn được kết nối liên tục không ngừng nghỉ. Giá trước kết thúc, chân đồng giơ tay ra hiệu, các phụ đồng lập tức tung tấm khăn thêu đỏ rực trùm lên đầu chân đồng (gọi là khăn phủ diện).

    [​IMG]
    Tung khăn phủ diện
    Thấy vậy, cung văn phải dừng ngay làn điệu đang hát giở để hát câu kết giá “Xe loan Thánh giá hồi cung”, rồi chuyển ngay lập tức sang giai điệu Kiều Bóng - tức gọi "bóng" của vị thánh tiếp theo. Nếu ngài không giáng, chân đồng xua tay ra hiệu, cung văn lại hát điệu Kiều Bóng vị thánh kế tiếp… Cứ thế, cho đến khi gặp giá nào "thánh giáng", chân đồng ra hiệu và tung khăn phủ diện, cung văn sẽ bắt đầu diễn tấu bản văn mới. Ở đây, các giá đồng kết thúc vào thời điểm nào hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định của ông đồng hay bà đồng. Các cụ cho biết, chân đồng biết nghe văn (có trình độ thưởng thức) thường sẽ phải đợi cung văn hát hết bản văn chầu rồi mới “hồi cung”. Nhưng thường thì “các ngài” hay “xuất kỳ bất ý” mà “thăng” ngay sau khi “làm xong việc trần” với đám đông xung quanh, như ban tài phát lộc hay phán truyền, dạy bảo…

    [​IMG]
    Để chuẩn bị cho vấn hầu, từ ngày hôm trước, ông Thống (thày cúng bản đền) phải làm lễ Phát tấu, tụng kinh thỉnh mời chư vị phật thánh về chứng giám cho người "bắc ghế" hầu. Mở đầu vấn hầu, ông Thống phải làm lễ Khao thỉnh mời công đồng, sơn trang về chứng lễ trước khi hầu. Tùy theo từng điều kiện, người ta có thể thay lễ Khao thỉnh bằng việc diễn tấu bản Văn Công Đồng. Thời xưa, kết thúc một cuộc hầu đồng, sau khi đã xong xuôi công việc, nếu chân đồng yêu cầu, cung văn còn phải dâng văn Chầu thủ đền để tạ lễ.
    Như thế, có thể nói, hát hầu đồng thực sự là một đại tác phẩm liên văn- liên khúc- một cuộc diễn xướng trường thiên của nghệ thuật Hát Văn. Và, do chuyển tải nhiều bản văn khác nhau nên đây là hình thức diễn xướng bao chứa số lượng làn điệu lớn nhất, có thời lượng dài hơi nhất. Bên cạnh đó, cũng có thể nói đây là hình thức diễn xướng mang tính tổng hợp nhất của nghệ thuật Hát Văn. Lúc này, bên cạnh âm nhạc, nghệ thuật múa, nghệ thuật sân khấu (hóa thân nhập đồng) trong sự giao đãi giữa cung văn với chân đồng, giữa chân đồng với đám đông xung quanh được bộc lộ toàn vẹn. Và, đây cũng là hình thức sinh hoạt thu hút lượng người tham gia lớn nhất, thực sự được coi là một ngày hội của từng ông đồng, bà đồng. Họ luôn kéo theo gia đình, bạn bè họ mạc của mình và những bạn đồng trong giới con nhang đệ tử... Nói vậy để thấy được tính quảng đại thực sự của một lễ hầu đồng.

    [​IMG]
    -Thứ hai, nếu như trong các hình thức diễn xướng khác, cung văn phải hát trọn vẹn một bản văn thì trong hát hầu đồng, họ thường không nhất thiết phải hát đầy đủ các bản văn của từng giá đồng. Ở đây, việc ứng diễn giữa cung văn và chân đồng được đề cao lên hàng đầu. Tùy theo sự hứng khởi tại chỗ của chân đồng, người cung văn sẽ co giãn bản văn theo tình huống diễn xướng, thậm chí việc bỏ hẳn một phần cũng được chấp nhận. Tính khuôn thước của bài bản và làn điệu thường bị phá vỡ hoặc cắt đứt. Chẳng hạn, cung văn có thể điệp câu, điệp từ kéo dài câu văn khi chân đồng hứng khởi nghe văn; Hay có trường hợp "thánh" nấn ná mãi chưa chịu "thăng" thì cung văn phải hát thêm văn (có thể hát lại một đoạn nào đó hoặc ứng tác tại chỗ)..; Hay như vừa nói ở trên, trường hợp chưa hát hết bản văn mà "ngài" đã "thăng" thì cung văn cũng phải tức thời hát câu kết thúc mỗi giá đồng: "Xe loan thánh giá hồi cung" và diễn tấu phân đoạn chuyển tiếp. Đây là trường hợp đa số của những ông đồng, bà đồng không biết nghe văn. Nhưng dù thế nào thì cung văn cũng phải theo họ. Đó là nguyên tắc của lễ hầu đồng.
    Về mặt âm nhạc, do việc những bản văn và làn điệu thường bị cắt xén tùy tiện, nên các nghệ nhân thường cho rằng trong Hát Văn, hát hầu đồng có tính nghệ thuật thấp hơn so với các hình thức diễn xướng khác. Thế nhưng, đây lại là dịp kiếm sống chủ yếu của những người hành nghề cung văn, bởi lễ hầu đồng là sinh hoạt chính yếu của giới con nhang đệ tử tín ngưỡng Tứ phủ.

    [​IMG]
    (còn tiếp ...)
     

    Bình Luận Bằng Facebook

  2. kuangtuan

    kuangtuan New Member

    Hình thức thứ năm - Hình thức hát thi. Đây được coi là điểm nhấn quan trọng biểu hiện tính tổ chức nghề nghiệp ở tầng bậc cao của nghệ thuật Hát Văn. Thông thường bất cứ một cuộc thi nghề nghiệp nào cũng không nằm ngoài mục đích kiểm tra, nâng cao trình độ tay nghề và khẳng định vị trí của các cá thể trong cộng đồng. Thi Hát Văn cũng vậy.
    Theo các bậc nghệ nhân lão thành kể lại, thi Hát Văn xưa chỉ được tổ chức ở Hà Nội và Hải Phòng. Đây được coi là hai trung tâm quy tụ nhiều bậc tài danh của giới cung văn nhà nghề. Chúng ta đều biết rằng đất Thành Nam là trung tâm lớn của tín ngưỡng Tứ phủ. Song, Hát Văn vốn là nghề kiếm sống của các cung văn. Do đó, đời sống thu nhập của họ phụ thuộc hoàn toàn vào giới con nhang đệ tử - tức các ông đồng, bà đồng. Đây là mối quan hệ hữu cơ, in đậm tính thị trường giữa cung văn và chân đồng - tức mối quan hệ giữa cung và cầu.
    Như chúng ta đều biết, từ bao đời nay, thành phần chủ yếu của giới các chân đồng thường là tầng lớp tiểu thương, tiểu chủ - là tầng lớp có đời sống kinh tế cao và khá ổn định trong xã hội. Theo đó, khả năng chi trả tiền công cũng như "ban tài phát lộc" của những ông đồng, bà đồng ở các đô thị lớn bao giờ cũng đạt mức cao nhất trong các trung tâm tín ngưỡng Tứ phủ.
    Trong xã hội Việt Nam từ nửa đầu thế kỷ XX trở về trước, khi mà môi trường văn hóa nghệ thuật cổ truyền dân tộc còn ổn định, Hà Nội và Hải Phòng đương nhiên là nơi thu hút, quy tụ các cung văn cao thủ tứ chiếng Bắc Hà. Theo đó, một cung văn khi đã đạt tới một trình độ nhất định thì thường tìm về những nơi chốn ấy để kiếm chỗ hành nghề. Lịch sử đã ghi nhận, đa số các bậc cung văn tài danh ở Hà Nội và Hải Phòng hầu hết đều là người gốc tứ chiếng. Trong đó, một lượng đáng kể những cung văn tài danh là người gốc Nam Định.

    [​IMG]
    Nghệ nhân lão thành Hoàng Trọng Kha- Cung văn đại thụ Hà Nội, quê Hải Hậu- Nam Định
    Mặt khác, cũng cần phải thấy rằng tại những chốn đô thị sầm uất như Hà Nội và Hải Phòng, trình độ thưởng thức nghệ thuật nói chung, Hát Văn nói riêng của khán giả bao giờ cũng ở tầng bậc cao. Đó cũng là lẽ thường trong một xã hội phát triển. Các nghệ nhân Hát Văn thường cho rằng, một ông đồng, bà đồng có đẳng cấp phải là người biết "nghe Văn" - tức biết thưởng thức âm nhạc và thơ phú một cách chuẩn mực - cái mà người đời thường gọi là "sành điệu". Trong xã hội Việt Nam thời phong kiến, tầng bậc thị hiếu đó chỉ có được ở những trung tâm văn hóa, kinh tế lớn như Hà Nội và Hải Phòng. Các cụ kể rằng trước ở Hà Nội, có nhiều bà đồng khi "bắc ghế hầu thánh", nghe thấy cung văn đàn sai điệu hay hát sai câu văn lập tức lật khăn chầu tạ lỗi với thánh và bỏ ngay buổi hầu(!).
    Câu chuyện đó cho ta thấy trong lịch sử, tính đồng điệu giữa chân đồng và cung văn đã từng đạt tới độ tinh tế nhất. Nói cách khác, đó là đỉnh cao của sự hòa quện giữa sự tinh thông nghệ thuật và trạng thái thông linh - chuẩn mực hoàn hảo của một chân đồng mẫu mực trong tín ngưỡng Tứ phủ. Nó khẳng định rằng, mối quan hệ hữu cơ giữa cung văn và chân đồng không chỉ thể hiện về mặt kinh tế mà còn biểu hiện ở mặt phân phối và thụ hưởng nghệ thuật. Rõ ràng trong nửa đầu thế kỷ XX trở về trước, ít nhất tại Hà Nội và Hải Phòng đã từng hình thành một tầng lớp những chân đồng sành điệu văn học nghệ thuật cổ truyền. Theo đó, giới cung văn nhà nghề những nơi ấy thường tổ chức thi hát lấy giải.

    [​IMG]
    Có một quy định bất thành văn trong nghề, cung văn nào tài giỏi thì được "giữ" nhiều đền. Các vị thủ nhang đồng đền luôn phải chiêu mộ những cung văn tài giỏi về làm ở bản đền, bởi lẽ "hát hay, đàn ngọt, phách giòn" luôn là một yếu tố quan trọng để thu hút các chân đồng. Thông thường, các ông đồng, bà đồng sẽ lựa chọn những đền phủ nào có cung văn nổi tiếng để “bắc ghế” hầu thánh. Mà cung văn muốn nổi tiếng thì phải cố chiếm lấy nhiều giải thi Hát Văn. Giải thi luôn được coi là "chứng chỉ" danh giá của các nghệ sĩ. Do vậy, ngày xưa các cuộc thi Hát Văn thường được tổ chức hàng năm tại nhiều đền phủ khác nhau. Các thí sinh có thể thi mỗi năm một lần tại một đền. Bên cạnh đó, có nhiều thí sinh đã được giải ở đền này rồi lại có thể sang đền khác để thi tiếp. Các cụ kể rằng xưa nếu cung văn không thi thì rất khó hành nghề, ít được mọi người mời vì ít được biết tới.
    Bên cạnh mục đính cấp "chứng chỉ" hành nghề, cuộc thi Hát Văn còn có tác dụng kích thích, thúc đẩy, nâng cao trình độ tay nghề các cung văn, là dịp để họ học hỏi và gia tăng sự hiểu biết vốn nghề của mình. Nó thể hiện sự cạnh tranh nghề nghiệp cao mang tính thị trường, quyết định vị thế, ảnh hưởng trực tiếp đến miếng cơm manh áo của các cung văn.
    Thi Hát Văn được tổ chức vào dịp tiệc thánh các bản đền hay những dịp có việc làng.., thường không theo định kỳ thống nhất. Trong đó, có những đền mỗi năm có thể tổ chức một vài cho đến dăm bảy cuộc thi. Đây thực sự là những cơ hội để khuyến khích các cung văn khẳng định tài năng của mình. Người thi hỏng sẽ có cơ hội thi lại, người đoạt giải sẽ có thể khẳng định tiếp vị trí của mình…
    Ban giám khảo một cuộc thi Hát Văn mẫu mực gồm có 3 vị. Thông thường, đền nào tổ chức thi thì người trưởng cung văn đền ấy phải đứng ra cầm trịch. Giám khảo phải là những người có sự am hiểu Nho học, tinh thông nghề nghiệp. Họ nhất thiết phải biết lề luật Hát Văn để soạn những bản văn thi. Bản văn thi được viết bằng chữ Hán Nôm trên giấy bản, đóng thành nhiều quyển cho các thí sinh bốc thăm. Phần làn điệu âm nhạc của bản văn được giám khảo tự sắp đặt, bố trí hợp lý. Có nghĩa, họ phải xếp sắp các làn điệu để sao cho thuận ngón đàn, câu hát và phù hợp với nội dung từng đoạn văn. Rồi mỗi quyển một kiểu, không trùng lặp. Tên làn điệu được ghi bằng mực son ở bên lề từng đoạn thơ. Có thể gọi đó là sơ đồ âm nhạc của bản văn thi.

    [​IMG]
    Trong ban giám khảo, thủ nhang đồng đền và trưởng cung văn bản đền là 2 vị giám khảo quan trọng nhất. Họ bao giờ cũng là những người có uy tín, đứng đầu một tổ chức phường hội trong tín ngưỡng Tứ phủ. Cần phải thấy rằng người thủ nhang đồng đền ở đây tuy không phải là cung văn nhưng lại là người rất am tường, sành sỏi nghệ thuật. Hai người chia nhau nhiệm vụ trong ban giám khảo. Một người chấp bút ghi điểm cho thí sinh, còn người kia theo dõi quyển văn thi, tay cầm dùi gõ vào cái kiểng đồng (thanh la) treo trên giá gỗ để sẵn sàng bắt lỗi.
    Vị giám khảo thứ ba thường là một cụ tiên thứ chỉ am hiểu Nho học tại địa phương. Với nhiệm vụ cầm trống chầu, vị giám khảo này tất phải là người sành điệu, biết nghe Chầu văn, Ca trù. Ông ta sẽ gõ "tùng" vào mặt trống để điểm câu kết trổ, còn gõ "cắc" vào tang trống để tính điểm thưởng cho thí sinh. Điểm cho thí sinh được tính bằng một hình khuyên (vòng tròn nhỏ) do vị giám khảo chấp bút vẽ bằng mực son vào tờ bảng điểm. Mỗi tiếng "cắc" sẽ được một khuyên thưởng.
    Nếu thí sinh phạm lỗi, vị giám khảo giữ cái kiểng sẽ gõ "boong" một tiếng bắt lỗi. Tùy theo quy định từng nơi mà mỗi tiếng "boong" bắt lỗi, vị giám khảo chấp bút sẽ trừ đi từ 3 tới 6 khuyên thưởng của thí sinh. Các nghệ nhân kể rằng "khi nghe tiếng kiểng bắt lỗi, nhiều anh thí sinh giật mình toát mồ hôi hột, phải một lúc mới lấy lại được bình tĩnh". Qua đó, chúng ta có thể thấy được cuộc thi Hát Văn xưa thật quy củ, chặt chẽ và nghiêm túc biết nhường nào.

    [​IMG]
    Trước các cuộc thi, ban giám khảo dán bảng thông báo, niêm yết danh mục các tên húy của thánh bản đền và thành hoàng làng sở tại. Theo đó, các thí sinh phải xem xét, chuẩn bị trước các từ ngữ cần phải đọc trại đi. Tiếng đọc trại phải lơ lớ gần với tên húy. Ví dụ: "Sòng Sơn" đọc thành "Sùng San", "Liễu Hạnh" đọc thành "Lão Hiện", "Hưng Đạo" thành "Hưng Điệu", "thủy cung" thành "thoải quan".v.v.. Cách đọc trại tên húy như thế nào hoàn toàn do từng bản đền quy định theo một kiểu thống nhất. Các thí sinh buộc phải tuân thủ, không được phép sáng tạo theo cách riêng. Trong các cuộc thi Hát Văn, phạm húy bị coi là một lỗi rất nặng. Khi đó, thí sinh dù có hát hay đàn giỏi đến mấy cũng sẽ bị đuổi ngay ra khỏi cuộc thi.
    Bên cạnh đó, trong Hát Văn thi, tính quy phạm nhà nghề của thể loại được xác lập với hệ thống các chuẩn mực đúng - sai, hay - dở, tốt - xấu.., một hệ chuẩn mực được cộng đồng giới cung văn đặt định và đã trở thành truyền thống. Điều đó khẳng định sự định hình của hệ thống các quy phạm - tức tính cổ điển của thể loại nghệ thuật này trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.
    Bên cạnh những chuẩn mực về âm nhạc như nhịp phách, ngón đàn, giọng hát, tất nhiên, thí sinh dự thi buộc phải biết chữ Hán Nôm bởi khi thi, họ phải nhìn vào quyển văn của bản đền. Nếu thuộc không hết mặt chữ mà phải ngâm nga nghĩ ngợi thì cũng bị bắt lỗi. Đề thi là một bản văn hoàn chỉnh về một vị thánh trong điện thần Tứ phủ. Thông thường, những bản văn hay thi là: Quốc sử ký (văn Đức Thánh Trần), Mẫu Sòng sơn (văn Mẫu Đệ nhất), Đệ Tam Công chúa (văn Mẫu Thoải)... Đề thi hàng kỳ ở mỗi đền thường thay đổi cho khác kỳ trước. Ngoài ra, bên cạnh các bản văn phổ biến, cũng có những đền ra đề thi với bản văn riêng, tạo sự độc đáo. Trong trường hợp đó, trước kỳ thi, các thí sinh thường đến đền cậy cục, cố gắng mượn bản văn để xem qua. Nhưng dù có xem trước, sơ đồ âm nhạc của bản văn thi vẫn được bản đền giữ kín. Các thí sinh chỉ có thể biết được sau khi bốc thăm.

    [​IMG]
    Nghệ nhân Hoàng Trọng Kha đang thị phạm bản văn thi bằng chữ Nho
    Trước ngày thi vài hôm, ban giám khảo mới đặt định sơ đồ âm nhạc cho từng quyển văn (tức điền tên các làn điệu vào bên lề từng đoạn thơ). Trong đó, như đã nói, sơ đồ mỗi quyển một khác. Khi thi, thí sinh bốc thăm phải quyển nào thì sẽ nhìn vào tên điệu của từng đoạn văn mà ứng tác tại chỗ. Cái khó ở đây là bên cạnh việc nắm vững lòng bản, luật vận hành giai điệu và quy luật trang điểm, thí sinh còn phải nắm vững luật vận câu thơ của từng làn điệu. Khi ứng tác, họ phải bẻ làn, nắn điệu sao cho ăn khớp với lời ca một cách nhuần nhuyễn. Nếu "gãy điệu" (tức diễn tấu lạc điệu), “chênh hơi” (sai cao độ), "gãy nhịp" (tức diễn tấu lỡ nhịp), hay vào không đủ khổ đàn, khổ phách thì sẽ bị bắt lỗi. Hơn thế nữa, diễn tấu đúng chưa đủ, mà phải hay thì mới được khuyên thưởng. Nhưng nếu diễn tấu sai là bị bắt lỗi ngay. Đó là cái khó của cuộc thi!
    Ở đây, điều đáng lưu ý nữa là quy chuẩn cuộc thi bắt buộc thí sinh phải vừa đàn nguyệt vừa hát. Nó được coi là một trong những chuẩn mực của một cung văn có đẳng cấp. Còn việc dóc phách giữ nhịp thì nhờ người ngoài đảm nhiệm. Các thí sinh có thể nhờ người thân trong nghề hoặc cũng có khi nhờ một người bạn thi cùng giúp đỡ. Theo các nghệ nhân lão thành, trong cuộc thi, vai trò người đánh phách thực ra cũng rất quan trọng. Bởi thường thì người đánh phách tỉnh táo hơn thí sinh dự thi nên khi cùng ngồi nhìn vào bản văn thi, đến chỗ nào sắp chuyển làn điệu, họ sẽ dằn tay phách to hơn, "dõng dạc" hơn nhằm nhắc nhở người hát rằng "sang lối đấy, sang lối đấy"! Người trong nghề gọi kỹ thuật đó là "kiệu" người đàn. Bên cạnh đó, người đánh phách giỏi còn có thể phụ trợ, kích hoạt, nâng đỡ tiếng đàn, câu hát một cách đồng điệu bằng nhịp độ và lối phách của mình. Nói chung, họ phải có được sự gắn kết với nhau như hình với bóng. Đặc biệt, theo quy định, người đánh nhịp cho Hát Văn thi chỉ dùng phách và cảnh mà không có trống ban. Bởi vai trò điểm câu, kết trổ lúc này do cụ tiên chỉ cầm trống chầu đảm nhiệm.

    [​IMG]
    Nghệ nhân lão thành Lê Chí Bưu -Hưng Yên, ngày xưa đã từng hành nghề trên Hà Nội và đoạt nhiều giải thi Hát Văn cổ truyền.
    Về mặt thời gian, các cuộc thi Hát Văn thường diễn ra vào buổi tối ở đền. Đây được coi là khoảng thời gian yên tĩnh trong ngày, tập trung được nhiều người đến xem hơn cả. Hơn nữa, thi hát buổi tối cốt để tạo điều kiện thuận lợi cho giọng hát của các thí sinh. Bởi đứng về mặt thời gian sinh học, tính từ chiều tối đến đêm là khoảng thời gian mà người ta có thể phát huy, phô diễn tối đa chất giọng của mình.

    [​IMG]
    Còn về thời gian trường quy, thường mỗi thí sinh chỉ được trình diễn bản văn thi trong một khoảng xác định. Ở đây, tùy theo độ dài của từng bản văn mà ban giám khảo sẽ đề ra quy định. Ví dụ: văn Mẫu Thoải là 1 tiếng 15 phút. Thường cứ hai thí sinh thi là hết một buổi. Còn lại, tối hôm sau thi tiếp. Do vậy, một cuộc thi sẽ có thể kéo dài vài ngày. Thời xưa, người ta thắp hương để tính thời gian, sau có đồng hồ thì họ để trước mặt thí sinh để anh ta còn biết ước lượng. Nếu thí sinh hát quá giờ chút ít thì sẽ bị bắt lỗi, còn nếu dôi quá nhiều thì bị đánh trượt luôn(!).
    Cũng cần phải thấy rằng ở đây, nếu thí sinh hát nhanh hơn quy định thì cũng chẳng sao. Tuy nhiên, các thí sinh thường luôn có xu hướng diễn tấu dãn nhịp, kéo dài thời gian tối đa nhằm khoe ngón đàn, giọng hát của mình. Bởi về mặt nguyên tắc, cứ hát một câu hay, được thưởng một khuyên, đàn một ngón hay, thêm một khuyên nữa. Khuyên thưởng được ban giám khảo tính chung cho cả ngón đàn và giọng hát. Cứ thế, ai được nhiều hơn sẽ là người chiến thắng. Các cụ kể rằng trong nhiều cuộc thi, việc hơn kém nhau một vài khuyên thưởng có khi mang tính quyết định, nhất là với các trường hợp ngang tài ngang sức. Trung bình mỗi cuộc thi, có thí sinh có thể đạt tới trên dưới 100 khuyên thưởng.
    Có 3 giải: nhất - nhì - ba. Giải thưởng thường là một đôi câu đối, một giải lụa điều hay một món quà tặng, hoặc đơn giản là một tờ giấy chứng nhận đóng dấu son của bản đền. Giá trị vật chất ở đây không đáng kể nhưng cái danh đạt được thì lại rất lớn, được coi như chứng chỉ hành nghề của các cung văn trong địa bàn. Mặt khác, như đã nói, cung văn nào đạt được nhiều giải thì càng được giữ nhiều đền. Điều đó đồng nghĩa với việc… "đắt khách"!

    [​IMG]
    Kết thúc mỗi cuộc thi, sau khi xong xuôi mọi việc, một vài ngày sau, trưởng cung văn và thủ nhang đồng đền phải làm lễ dâng văn chầu thủ đền để bái tạ thánh bản đền.
    Trên đây là những hình thức sinh của Hát Văn thuở xưa. Có thể nói, đó là một bức tranh toàn cảnh phản ánh sống động thời kỳ hoàng kim của một thể loại âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam. Tính nghệ thuật, tính phổ quát, tính kinh điển của Hát Văn là điều đã được khẳng định trong lịch sử./.
    ----------------
    Tài liệu tham khảo
    1.Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu ở Việt Nam, NXB Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, 1996.
    2.Bùi Đình Thảo, Hát Chầu văn, NXB Âm nhạc, Hà Nội, 1996.
    3.Ngô Đức Thịnh chủ biên, Hát văn, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1992.

    <hr>
    [*]
    Theo lời kể của các nghệ nhân Hoàng Trọng Kha (Hà Nội), Đào Thị Sại, Bùi Văn Đông, Nguyễn Thế Tuyền (Nam Định), Lê Chí Bưu (Hưng Yên). (Sưu tầm từ blog http://tranquanghai.multiply.com)
     
  3. toiyeuadmin

    toiyeuadmin New Member

    Rất hữu ít khi đọc những thông tin này..
    Cám ơn chủ thớt nhìu ;)
     
  4. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm

    Mình nhớ ko lầm thì bài viết này là của bác Bùi Trọng Hiền đúng không bạn? Mình nhớ bài này khi xưa tác giả viết và có chuyển cho mình đọc một lần, khoảng vào năm 2009 thì phải. Nhưng lúc đó bác ấy viết chưa đầy đủ như thế này. Về sau thì mình cũng có đọc lại bài này trên trang viettems.com. " Bác" Hiển viết bài này kèm với một bài tìm hiểu nữa về hát văn thời nay, để so sánh và thấy những sai biệt, hoặc dị bản cũng như những thay đổi trong lề lối hát. Từ hát cửa đình đến hát văn chầu, hát dâng hầu. Khi đó, cũng có ý định làm hẳn một đề tài nghiên cứu nhưng thời gian không cho phép nên chỉ đành viết hai bài viết đó thôi. Dù sao cũng rất cảm ơn bạn đã post lại bài viết. Thanks bạn. :)
     
    Chỉnh sửa cuối: 6/6/11
  5. o0oatmo0o

    o0oatmo0o Công thần

    rất cảm ơn chủ toppic. những thông tin rất hữu ích. Nhưng theo đúng ra cho mình hỏi, thầy cúng bản đền không được phát tấu phải không. chỉ có nhà sư mới được phép phát tấu chứ ??? có phải như vậy không mọi người
     
  6. Feng

    Feng Member

    thanks for your toppic
     

Chia sẻ trang này