Mai Hoa Dịch Số -Thiệu Khang Tiết

Thảo luận trong 'Chiêm tinh – tướng số - tử vi' bắt đầu bởi nam sơn đạo nhân, 7/9/11.

Lượt xem: 10,160

  1. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    BÁT QUÁI NỘI NGOẠI ĐỘNG TỊNH ĐỒ

    1- Càn: Huyền, vàng - Sắc đỏ thắm - Kim ngọc - Châu báu - Kính soi - Sư tử - Vật tròn - Cây - Trái Quý vật - Mũ - Voi - Ngựa - Ngỗng trời - Vật cứng.

    2- Khảm: Trái có nước - Vật có hột - Heo - Cá - Cái cung - Vòng bánh xe - Đồ đựng nước - Vật ở trong nước - Muối - Rượu - Sắc đen.

    3- Cấn: Đá, đất - Sắc vàng - Cọp - Chó - Vật ở trong đất - Quả dưa - Bách cầm - Chuột - Vật mỏ đen.

    4- Chấn: Tre (cây) - Sắc xanh, lục, biếc - Rồng - Rắn - Cỏ lau - Đồ nhạc khí bằng cây - Cỏ - Cỏ tươi tốt.

    5- Tốn: Cây - Rắn - Vật dài - Sắc xanh, biếc, lục - Loại cầm điểu ở núi, cây - Mùi thơm - Gà - Vật thẳng - Đồ dùng làm bằng cây, tre, nứa - Đồ xảo công.

    6- Ly: Lửa - Văn thơ - Cái mộc, cái mác (đồ binh khí) - Chim trĩ - Rùa - Cua - Cây khô héo - Áo giáp, mũ sắt - Ốc - Trai - Ba ba (con) - Vật sắc đỏ.

    7- Khôn: Đất - Vạn vật - Ngũ cốc - Vật mềm - Tơ , bông - Bách cầm - Con trâu - Vải lụa - Xe - Vàng - Đồ sành, đồ gốm - Sắc vàng.

    8- Đoài: Kim vàng - Đồ bằng vàng - Nhạc khí - Vật ở trong hồ, đầm - Sắc trắng - Con dê - Vật có miệng - Hư, hỏng, bể mẻ.
     
  2. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    BÁT QUÁI VẠN VẬT LOẠI CHIÊM

    CÀN QUÁI: 1 thuộc Kim, gồm có 8 quái là:

    Thuần Càn - Thiên Phong Cấu - Thiên
    Sơn Độn - Thiên Địa Bỉ - Phong Địa Quan - Sơn Địa Bác - Hỏa Địa Tấn - Hỏa
    Thiên Đại Hửu.

    Thiên Thời: Trời - Băng - Mưa đá - Tuyết.
    Địa lý: Phương Tây Bắc - Kinh đô - Đại quân - Hình thắng chi địa (chỗ đất có phong cảnh đẹp - Chỗ đất cao ráo.
    Nhân vật: Vua - Cha - Đại nhân - Lão nhân - Trưởng giả - Hoạn quan - Danh nhân - Người công môn (chức việc).
    Nhân sự: Cương kiện vũ dũng - Người quả quyết - Người động nhiều tịnh ít - Người chẳng chịu khuất phục ai (cứng đầu).
    Thân thể: Đầu - Xương - Phổi.
    Thời tự: Mùa thu - Cuối tháng 9 đầu tháng 10 - Năm, tháng, ngày, giờ Tuất và Hợi - Năm, tháng, ngày, giờ thuộc ngũ kim.
    Động vật: Con ngựa - Con ngỗng trời - Con sư tử - Con voi.
    Tịnh vật: Kim, ngọc - Châu báu - Vật tròn - Cây quả - Mũ - Kiếng soi - Vật cứng.
    Ốc xá: Đình, công sở - Lâu đài - Nhà cao - Cái nhà lớn - Quán trọ - Ở về hướng Tây Bắc.
    Gia trạch:

    - Mùa Thu chiêm thì gia trạch vượng.

    - Mùa Hạ chiêm thì sẽ có họa.

    - Mùa Đông chiêm thì suy bại.

    - Mùa Xuân chiêm có lợi tốt.

    Hôn nhân: Thân thuộc - Quý quan - Nhà có danh tiếng - Mùa Thu chiêm thì thành - Mùa Hạ, mùa Đông chiêm thì bất lợi.
    Ẩm thực: Thịt ngựa - Trân vị - Đồ ăn nhiều xương - Gan phổi - Thịt khô - Trái cây - Cái đầu của các vật - Vật hình tròn - Vật cay.
    Sinh sản: Dễ sinh - Mùa Thu sinh quý tử
    - Mùa Hạ chiêm thì hao tổn - Lâm sản nên hướng Tây Bắc.
    Cầu danh: Được danh - Nên tùy cấp trên bổ nhiệm - Hình quan - Võ chức - Chưởng quyền - Nhiệm thì nên hướng Tây Bắc - Thiên sứ - Dịch quan (người giữ chức dịch điếm hoặc công văn).
    Mưu vọng: Việc thành - Lợi công môn - Có tài trong sự hoạt động - Mùa Hạ chiêm không thành - Mùa Đông chiêm tuy nhiều mưu nhưng ít được vừa lòng.
    Giao dịch: Nêu hàng quý giá - Lợi về kim ngọc - Thành tựu - Mùa Hạ chiêm không lợi.
    Cầu lợi: Có tài - Lợi về kim ngọc - Có tài trong việc công môn - Mùa Thu chiêm có lợi nhiều - Mùa Hạ chiêm tổn tài - Mùa Đông chiêm không có tài.
    Xuất hành: Xuất hành có lợi - Nên vào chốn kinh đô - Lợi đi về hướng Tây Bắc - Mùa Hạ chiêm không lợi.
    Yết kiến: Lợi gặp đại nhân - Người có đức hạnh - Nên gặp quý quan - Khá gặp được.
    Tật bệnh: Đầu, mặt - Tật phổi - Tật gân cốt - Bịnh - Thượng tiêu - Mùa Hạ chiêm chẳng được yên.
    Quan tụng: Việc kiện cáo đứng về phía mình - Có quý nhân trợ giúp - Mùa Thu chiêm đắc thắng - Mùa Hạ chiêm thất lý.
    Phần mộ: Nên hướng Tây Bắc - Nên chỗ khí mạch chốn Càn sơn - Nên thiên huyệt - Nên chỗ cao - Mùa Thu chiêm xuất quý - Mùa Hạ chiêm xấu lấm.
    Phương đạo: Chốn Tây Bắc.
    Ngũ sắc: Sắc đỏ thắm - Sắc huyền.
    Tính tự (Họ, Tên): Có chữ Kim đứng một bên - Tiếng thương (ngũ âm) - Hàng vị: 1, 4, 9.
    Số mục: 1, 4, 9.
    Ngũ vị: Cay - Cay nhiều lắm
     
  3. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    KHÔN QUÁI: 8 thuộc Thổ, gồm có 8 quái là:

    Thuần Khôn - Địa Lôi Phục - Địa Trạch Lâm - Địa Thiên Thái - Lôi Thiên Đại Tráng - Trạch Thiên Quái - Thủy Thiên Nhu - Thủy Địa Tỷ.

    Thiên Thời: Mây âm u - Khí mù.
    Địa lý: Đồng nội - Làng mạc - Bình địa - Phương Tây Nam.
    Nhân vật: Bà lão - Mẫu hậu (mẹ vua) - Nông phu - Người đồng làng - Nhân chứng - Người bụng lớn (cái bụng to).
    Nhân sự: Hẹp hòi keo cú - Nhu thuận - Nhu nhược - Nhiều người.
    Thân thể: Bụng - Lá lách - Dạ dày - Thịt.
    Thời tự: Tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi - Năm, tháng, ngày giờ Mùi, Thân - Tháng, ngày 5, 8 10.
    Động vật: Con trâu - Bách thú - Con ngựa cái.
    Tịnh vật: Vật hình vuông - Vật mềm - Vải lụa - Tơ lụa - Ngũ cốc - Xe - Búa - Đồ sành, đồ gốm.
    Ốc xá: Hướng Tây Nam - Thôn dã - Ruộng cày - Nhà thấp bé - Nền đất - Kho tàng.
    Gia trạch: Yên ổn - Nhiều âm khí - Mùa Xuân chiêm không yên.
    Hôn nhân: Hôn nhân có lợi - Nên nhà người có thuế sản - Người cùng hương thôn - Hoặc người quả phụ - Mùa xuân chiêm bất lợi.
    Ẩm thực: Thịt bò, trâu - Vật ở trong đất - Vị ngọt - Món ăn ở nhà quê - Món ăn ngũ cốc - Khoai lang hoặc măng tre các loại - Vật thuộc bụng, ngũ tạng.
    Sinh sản: Dễ sanh - Mùa Xuân chiêm khó đẻ - Có tổn thất - Hoặc không lợi cho mẹ - Lâm sản nên hướng Tây Nam.
    Cầu danh: Đắc danh - Nên phương Tây Nam - Hoặc giáo quan, chức quan giữ điền thổ - Mùa xuân chiêm hư danh.
    Mưu vọng: Cầu mưu có lợi - Cầu mưu ở chỗ làng mạc - Im lặng mà cầu mưu - Mùa xuân chiêm ít được vừa lòng - Mưu nhờ đàn bà.
    Giao dịch: Giao dịch lợi - Nên giao dịch về điền thổ - Nên giao dịch về ngũ cốc - Hàng hóa tầm thường có lợi - Đồ nặng - Vải lụa - Im lặng hóa ra có tài - Mùa Xuân chiêm bất lợi.
    Cầu lợi: Có lợi - Lợi về đất đai - Hàng tầm thường, vật nặng có lợi - Im lặng hóa ra có lợi - Nùa xuân chiêm không tài - Số nhiều thì có lợi.
    Xuất hành: Nên đi - Nên đi phương Tây Nam - Nên đi chỗ làng mạc - Nên đi đường bộ - Mùa xuân chiêm không nên đi.
    Yết kiến: Gặp Thầy - Lợi gặp người làng - Nên gặp bạn thân - Hoặc đàn bà - Mùa xuân không nên gặp.
    Tật bệnh: Bệnh bụng - Bệnh tỳ vị - Ăn uống bế tắc - Ăn ngũ cốc không tiêu.
    Quan tụng: Lý thuận - Được cảm tình dân chúng - Tụng đảng giải tán.
    Phần mộ: Nên huyệt ở Tây Nam - Nên chỗ đất bằng phẳng - Gần đồng ruộng - Chôn chỗ thấp - Mùa xuân chôn không tốt.
    Tính tự (Họ, Tên): Tiếng cung (ngũ âm)
    - Họ Tên có chữ Thổ đứng bên - Hàng 5, 8 10.
    Số mục: 5, 8, 10
    Phương đạo: Tây Nam.
    Ngũ vị: Ngọt.
    Ngũ sắc: Vàng - Đen.
     
  4. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    CHẤN QUÁI: 4 thuộc Mộc, gồm có 8 quái là:

    Thuần Chấn - Lôi Địa Dự - Lôi Thủy Giải - Lôi Phong Hằng - Địa Phong Thăng - Thủy Phong Tĩnh - Trạch Phong Đại Quá - Trạch Lôi Tùy.

    Thiên Thời: Sấm.
    Địa lý: Phương Đông - Cây cối - Chỗ náo thị (chợ búa ồn ào) - Đường lớn - Chỗ cây tre, thảo mộc phồn thịnh.
    Nhân vật: Trưởng nam.
    Nhân sự: Dấy động - Giận - Kinh sợ hoang mang - Nóng nảy, xáo động - Động nhiều - Ít im lặng.
    Thân thể: Chân - Gan - Tóc - Thanh âm.
    Thời tự: Mùa Xuân, tháng 3 - Năm, tháng, ngày giờ Mẹo - Tháng, ngày 4, 3, 8.
    Động vật: Rồng - Rắn.
    Tịnh vật: Cây tre - Cỏ lau - Nhạc khí làm bằng cây hay tre - Vật hoa thảo tươi tốt.
    Ốc xá: Ở về hướng Đông - Xứ sơn lâm - Lầu gác
    Gia trạch: Trong nhà có sự kinh sợ hoang mang bất thần - Mùa Xuân chiêm thì tốt - Mùa Thu chiêm bất lợi.
    Hôn nhân: Khá thành - Nhà có thanh danh - Lợi kết hôn với trưởng nam - Mùa Thu chiêm không nên kết hôn.
    Ẩm thực: Móng chân thú - Thịt - Đố ăn thuộc chốn sơn lâm quê mùa - Thịt tươi - Trái vị chua - Rau.
    Sinh sản: Hư kinh (sợ khống) Thai động bất yên - Sanh con so ắt sinh nam - Mùa thu chiêm ắt có tổn - Lâm sản nên hướng Đông.
    Cầu danh: Đắc danh - Nhiệm sở nên hướng Đông - Chức truyền hiệu, phát lệnh - Quan chưởng hình ngục - Nhiệm sở về vụ trà, trúc, mộc, thuế khóa - Hoặc là làm chức Tư hòa náo thị.
    Mưu vọng: Khá được - Khá cầu - Trong mưu kế phải hoạt động mạnh - Mùa thu chiêm không vừa lòng.
    Giao dịch: Giao thành thì có lợi - Mùa Thu chiêm khó thành - Lợi về hàng hóa sơn lâm, cây, tre, trà.
    Cầu lợi: Có lợi về sơn lâm, tre, mộc - Nên cầu tài hướng Đông - Nên cầu tài chỗ đông đảo xao động - Có lợi về hàng hóa sơn lâm, cây, tre, trà.
    Xuất hành: Có lợi về hướng Đông - Có lợi người thuộc sơn lâm - Mùa Thu chiêm không nên đi - Chỉ sợ kinh hại khống.
    Yết kiến: Gặp thấy - Nên gặp người thuộc sơn lâm - Nên gặp người có thanh danh.
    Tật bệnh: Tật chân - Tật đau gan thường - Sợ hãi cuống quít chẳng yên.
    Quan tụng: Việc kiện cáo đứng về phía mạnh - Hư kinh (kinh sợ khống) - Sửa đổi để xét lại phản phúc.
    Phần mộ: Lợi về hướng Đông - Huyệt trong chốn sơn lâm - Mùa Thu chiêm không lời.
    Phương đạo: Đông.
    Ngũ sắc: Thanh - Lục - Biếc.
    Tính tự (Họ, Tên): Tiếng giác (ngũ âm)
    - Họ hay tên có đeo chữ Mộc - Hàng vị 4, 8, 3.
    Số mục: 4, 8, 3.
    Ngũ vị: Chua.
     
  5. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    TỐN QUÁI: 5 thuộc Mộc, gồm có 8 quái là:

    Thuần Tốn - Phong Thiên Tiểu Súc - Phong Hỏa Gia Nhân - Phong Lôi Ích - Thiên Lôi Vô Vọng - Hỏa Lôi Thệ Hạp - Sơn Lôi Di - Sơn Phong Cổ.
    Thiên Thời: Gió.
    Địa lý: Phương Đông Nam - Chỗ thảo mộc tươi tốt - Vườn hoa quả, rau...
    Nhân vật: Trưởng nữ - Tu sĩ - Quả phụ - Sơn lâm tiên đạo.
    Nhân sự: Nhu hòa - Bất định - Vui vẻ khuyên người ta làm - Tiến, thối không quả quyết - Lợi ở chốn thị trường.
    Thân thể: Bắp vế - Cánh tay - Hơi - Phong tật.
    Thời tự: Cuối mùa Xuân đầu mùa Hạ - Năm, tháng, ngày, giờ 3, 5, 8 - Tháng 3 - Năm, tháng, ngày giờ Thìn, Tỵ - Tháng 4.
    Động vật: Gà - Bách cầm - Loài cầm, loài trùng ở rừng núi.
    Tịnh vật: Mộc hương - Giày - Vật thẳng - Vật dài - Đồ làm bằng cây tre - Đồ công xảo.
    Ốc xá: Ở về hướng Đông Nam - Chỗ thầy tu ở, chỗ đạo sĩ ở, nhà lầu, vườn hoa - Ở chốn sơn lâm.
    Gia trạch: Yên ổn, mua bán có lợi - Mùa Xuân chiêm cát - Mùa Thu chiêm bất yên.
    Hôn nhân: Thành tựu - Nên kết hôn trưởng nữ - Mùa Thu chiêm bất lợi.
    Ẩm thực: Thịt gà - Thức ăn ở chốn sơn lâm - Rau, quả - Vị chua.
    Sinh sản: Dễ sinh - Sinh con so ắt con gái - Mùa Thu chiêm tổn thai - Lâm sản nên hướng Đông Nam.
    Cầu danh: Đắc danh - Nên nhậm chức, có phong hiến (phong hóa và pháp độ) - Nên nhập phong hiến - Nên giữ chức thuộc về thuế khóa, trà, trúc, hoa quả - Nên nhiệm chức về hướng Đông Nam.
    Mưu vọng: Mưu vọng khá được - Có tài - Khá thành - Mùa Thu chiêm tuy nhiều mưu nhưng ít được tùy ý.
    Xuất hành: Nên đi - Có lợi về chi thu - Nên đi hướng Đông Nam - Mùa Thu chiêm không có lợi.
    Yết kiến: Gặp được - Gặp được người sơn lâm, có lợi - Gặp được người văn nhân, tu sĩ có lợi.
    Tật bệnh: Có tật bắp vế, cánh tay - Tật phong - Tật ruột - Trúng phong - Hàn tà - Khí tật.
    Quan tụng: Nên hòa - Sợ phạm phải phong hiến.
    Phần mộ: Nên hướng Đông Nam - Huyệt ở chốn sơn lâm - Mùa Thu chiêm bất lợi.
    Phương đạo: Đông Nam.
    Ngũ sắc: Xanh, lục, biếc, trong trắng.
    Tính tự (Họ, Tên): Giác âm (ngũ âm) -
    Họ hay tên có đeo bộ Thảo hay bộ Mộc một bên - Hàng vị 3, 5, 8.
    Số mục: 3, 5, 8.
    Ngũ vị: Vị chua.
     
  6. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    KHẢM QUÁI: 6 thuộc Thủy, gồm có 8 quái là:

    Thuần Khảm - Thủy Trạch Tiết - Thủy Lôi Truân - Thủy Hỏa Ký Tế - Trạch Hỏa Cách - Lôi Hỏa Phong - Địa Hỏa Minh Di - Địa Thủy Sư.
    Thiên Thời: Mưa - Mặt trăng - Tuyết - Sương mù.
    Địa lý: Phương Bắc - Sông hồ - Khe rạch - Suối, giếng - Chỗ đất ẩm thấp (chỗ mương, rãnh, chỗ có nước lầy lội).
    Nhân vật: Trưởng nam - Người giang hồ - Người ở ghe thuyền - Trộm cướp.
    Nhân sự: Hiểm ác, thấp kém - Bề ngoài tỏ ra mềm mỏng - Bề trong dục lợi - Trôi dạt chẳng thành - Theo gió bẻ măng (hùa theo).
    Thân thể: Tai - Huyết - Thận.
    Thời tự: Mùa Đông, tháng 11 - Năm, tháng, ngày, giờ Tý - Tháng, ngày 1, 6.
    Động vật: Heo - Cá - Vật ở trong nước.
    Tịnh vật: Trái có nước - Vật có hơi - Vật uốn nắn như cái cung, niềng xe - Đồ đựng rượu, đựng nước.
    Ốc xá: Ở về hướng Bắc - Ở gần nước - Nhà có gác gần nước - Nhà lầu ở gần sông - Hãng rượu, trà - Nhà ở chỗ ẩm thấp.
    Gia trạch: Chẳng yên, ám muội - Phòng kẻ trộm.
    Hôn nhân: Lợi gá hôn nhân với trung nam - Nên nhà rể ở phương Bắc - Chẳng lợi thành hôn - Chẳng nên gá hôn tháng Thìn, Tuất, Sửu Mùi.
    Ẩm thực: Thịt heo - Rượu - Vị lạnh - Hải vị - Canh vị chua - Thức ăn cách đêm - Cá - Đồ ăn có huyết - Đồ ăn ngâm ướp - Vật ăn có hột - Vật ăn ở trong nước - Đồ ăn có nhiều xương.
    Sinh sản: Nạn sản có hiểm - Thai con thứ thì tốt - Con trai thứ - Tháng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi - Có tổn hại - Lâm sản nên hướng Bắc.
    Cầu danh: Gian nan - Sợ có tai hãm - Nên nhận chức về Bắc phương - Chức coi việc cá, muối, sông, hồ - Rượu gồm có giấm.
    Mưu vọng: Chẳng nên mưu vọng - Chẳng được thành tựu - Mùa Thu, Đông chiêm khá được, nên mưu.
    Giao dịch: Thành giao chẳng có lợi - Đề phòng thất hãm - Nên giao dịch tại bến nước, ven nước - Nên buôn bán hàng cá, muối, rượi - Hoặc giao dịch với người ở ven nước.
    Cầu lợi: Thất lợi - Tài nên thuộc về bến nước - Sợ có thất hãm - Nên cá muối có lợi - Lợi về hàng rượu - Phòng âm thất (phòng mất mát một cách mờ ám, hay đàn bà trộm của) - Phòng kẻ trộm.
    Xuất hành: Không nên đi xa - Nên đi bằng thuyền - Nên đi về hướng Bắc - Phòng trộm - Phòng sự hiểm trở hãm hại.
    Yết kiến: Khó gặp - Nên gặp người ở chốn giang hồ - Hoặc gặp được người có tên hay họ có bộ Thủy đứng bên.
    Tật bệnh: Đau tai - Tâm tật - Cảm hàn - Thận bệnh - Dạ dày lạnh, thủy tả - Bệnh lạnh đau lâu khó chữa - Huyết bịnh.
    Quan tụng: Bất lợi - Có âm hiểm - Có sự thất kiện khốn đốn - Thất hãm.
    Phần mộ: Huyệt hướng Bắc tốt - Mộ ở gần ven nước - Chỗ chôn bất lợi.
    Phương đạo: Phương Bắc.
    Ngũ sắc: Đen.
    Tính tự (Họ, Tên): Vũ âm (ngũ âm) - Người có tên họ có bọ Thủy đứng bên - Hàng vị 1, 6.
    Số mục: 1, 6.
    Ngũ vị: Mặn - Chua.
     
  7. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    LY QUÁI: 3 thuộc Hỏa, gồm có 8 quái là:

    Thuần Ly - Hỏa Sơn Lữ - Hỏa Phong Đỉnh - Hỏa Thủy Vị Tế - Sơn Thủy Mông - Phong Thủy Hoán - Thiên Thủy Tụng - Thiên Hỏa Đồng Nhân.

    Thiên Thời: Mặt trời - Chớp - Cầu vồng - Cái mống - Cái ráng.
    Địa lý: Phương Nam - Chỗ đất cao ráo - Lò bếp - Lò xưởng đúc - Chỗ đất khô khan cằn cỗi - Chỗ đất hướng mặt về Nam.
    Nhân vật: Trung nữ - Văn nhân - Người có cái bụng to - Người có tật mắt - Kẻ sĩ trong hàng áo mũ.
    Nhân sự: Chỗ hoạch định văn thơ văn hóa - Thông minh tài giỏi - Gặp nhau mà không đạt được gì hết - Về việc thư từ giấy má.
    Thân thể: Con mắt - Tâm - Thượng tiêu.
    Thời tự: Mùa Hạ, tháng 5 - Năm, tháng, ngày, giờ Ngọ hay thuộc Hỏa - Ngày 2, 3, 7.
    Động vật: Chim trĩ - Rùa - Con ba ba - Cua - Ốc - Trai.
    Tịnh vật: Lửa - Thơ - Văn - Áo giáp mũ sắt - Binh khí - Áo khô - Vật khô khan - Vật sắc đỏ.
    Ốc xá: Nhà ở về hướng Nam - Nhà ở chỗ sáng sủa khoảng khoát - Cửa sổ sáng sủa - Nhà trống hoặc hư hao.
    Gia trạch: Yên ổn - Vui vẻ - Mùa Đông chiêm không được yên - quẻ khắc Thể, chủ hóa tài.
    Hôn nhân: Bất thành - Lợi gá hôn với trung nữ - Mùa Hạ chiêm khá thành - Mùa Đông chiêm bất lợi.
    Ẩm thực: Thịt chim trĩ - Đố ăn nấu - xắc hay rang - Đồ ăn thiêu, nướng - Vật ăn đồ khô, thịt khô các loại - Thịt nóng.
    Sinh sản: Dễ sinh - Sinh con gái thứ - Mùa Đông chiêm có tổn - Lâm sản nên hướng Nam.
    Cầu danh: Đắc danh - Nên giữ chức về hướng Nam - Nhậm chức văn quan - Nên giữ chức về việc xưởng trường, lò đúc.
    Mưu vọng: Mưu vọng khá thành - Nên có văn thơ trong sự mưu vọng.
    Giao dịch: Khá được - Nên giao dịch có văn thơ.
    Cầu lợi: Có tài - Nên cầu về hướng Nam - Có tài về văn thơ - Mùa Đông chiêm thì thất bại.
    Xuất hành: Nên đi - Nên hoạt động hướng Nam - Đi về việc văn thơ thì thành tựu - Mùa Đông chiêm không nên đi - Chẳng nên đi bằng thuyền đò.
    Yết kiến: Gặp được người ở hướng Nam - Mùa Đông chiêm không được thuận lợi - Mùa Thu thấy văn thơ khảo sát tài sĩ.
    Tật bệnh: Tật mắt - Tật tâm - Thượng tiêu - Binh nóng sốt - Mùa Hạ chiêm bị trúng nắng - Bịnh truyền nhiễm lưu hành một thời.
    Quan tụng: Để tán - Động văn thơ - Minh biện án từ.
    Phần mộ: Mộ ở hướng Nam - Chỗ trống trải không có cây cối gì - Mùa Hạ chiêm xuất văn nhân - Mùa Đông chiêm không lợi.
    Phương đạo: Hướng Nam.
    Ngũ sắc: Đỏ - Tía - Hồng.
    Tính tự (Họ, Tên): Tiếng chủy (ngũ âm) - Người có tên hay họ có bộ Nhân đứng một bên - Hàng vị 3, 2, 7.
    Số mục: 3, 2, 7.
    Ngũ vị: Đắng.
     
  8. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    CẤN QUÁI: 7 thuộc Thổ, gồm có 8 quái là:

    Thuần Cấn - Sơn Hỏa Bí - Sơn Thiên Đại Súc - Sơn Trạch Tổn - Hỏa Trạch Khuê - Thiên Trạch Lý - Phong Trạch Trung Phu - Phong Sơn Tiệm.

    Thiên Thời: Mây - Mù - Khí núi bốc lên nghi ngút.
    Địa lý: Đường tắt trong núi - Gần sơn thành - Gò động - Phần mộ - Hướng Đông Bắc.
    Nhân vật: Thiếu nam - Kẻ nhàn rỗi - Người ở trong núi.
    Nhân sự: Trở ngại - Yên lặng - Tiến thối chẳng quyết - Phản bội - Còn ở đó - Chẳng thấy.
    Thân thể: Tay, ngón tay - Xương - Sống mũi - Lưng.
    Thời tự: Tháng thuộc Đông Xuân - Tháng Chạp - Năm, tháng, ngày giờ thuộc Thổ - Tháng ngày 7, 5, 10.
    Động vật: Con gấu - Con chuột - Bách cầm - Vật có mỏ đen.
    Tịnh vật: Đất đá - Dưa, quả - Vật sắc vàng - Vật ở trong đất.
    Ốc xá: Nhà ở hướng Đông Bắc - Ở gần núi dá - Nhà ở gần đường.
    Gia trạch: Yên ổn - Mọi việc trở ngại - Người nhà chẳng hòa thuận - Mùa Xuân chiêm bất yên.
    Hôn nhân: Cách trở khó thành - Hoặc chậm trễ - Lợi gá hôn với thiếu nam - Mùa Xuân chiêm bất lợi - Nên gá hôn với người đối hương thôn (khác xã).
    Ẩm thực: Vị vật ở trong đất - Thịt loài thú - Măng tre ở gần bờ ruộng hoặc mồ mả - Vị ăn ở đồng ruộng.
    Sinh sản: Khó sanh - Có ách nạn hiễm trở - Lâm sản nên hướng Đông Bắc - Mùa Xuân chiêm bị tổn hại.
    Cầu danh: Cách trở không thành danh - Nên nhậm chức về hướng Đông Bắc - Nên giữ chức ở chốn sơn thành.
    Mưu vọng: Trở ngại khó thành - Tiến thối chẳng quyết.
    Giao dịch: Khó thành - Giao dịch về sơn lâm điền thổ - Mùa Xuân chiêm bị tổn thất.
    Cầu lợi: Cầu tài trắc trở - Nên hướng tài về chốn sơn lâm - Mùa Xuân chiêm bất lợi - Có tổn thất.
    Xuất hành: Không nên đi xa - Có trở ngại - Nên đi gần bằng đường bộ.
    Yết kiến: Chẳng gặp - Có trở ngại - Nên gặp người ở chốn sơn lâm.
    Tật bệnh: Tật tay - Ngón tay - Tỳ vị.
    Quan tụng: Quý nhân trở trệ (trắc trở) - Thưa kiện chưa giải quyết - Dính líu chẳng quyết.
    Phần mộ: Huyệt hướng Dông Bắc - Mùa Xuân chiêm bất lợi - Gần ven lộ có đá.
    Phương đạo: Phương Đông Bắc.
    Ngũ sắc: Sắc vàng.
    Tính tự (Họ, Tên): Tiếng cung (ngũ âm) - Người có tên họ đeo chữ Thổ ở một bên - Hàng vị 5, 7, 10.
    Số mục: 5, 7, 10.
    Ngũ vị: Vị ngọt
     
  9. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    ĐOÀI QUÁI: 2 thuộc Kim, gồm có 8 quái là:

    Thuần Đoài - Trạch Thủy Khổn - Trạch Địa Tụy - Trạch Sơn Hàm - Thủy Sơn Kiển - Địa Sơn Khiêm - Lôi Sơn Tiểu Quá - Lôi Trạch Quy Muội.

    Thiên Thời: Mưa dầm - Trăng mới - Sao.
    Địa lý: Đầm ao - Chỗ ngập nước - Ao khuyết (dở hư) - Giếng bỏ hoang - Chỗ núi lỡ, gò sụt - Chỗ đất nước mặn không có cây cối.
    Nhân vật: Thiếu nữ - Vợ hầu - Con hát - Người tay sai - Dịch nhân (người diễn dịch) - Thầy đồng bóng (phù thủy).
    Nhân sự: Vui mừng - Khẩu thiệt - Dèm pha - Phỉ báng - Ăn uống.
    Thân thể: Lưỡi - Miệng - Phổi - Đờm - Nước dãi.
    Thời tự: Mùa Thu, tháng 8 - Năm, tháng, ngày, giờ Dậu - Năm, tháng, ngày, giờ thuộc Kim - Tháng, ngày số 2, 4, 9.
    Động vật: Dê - Vật ở trong ao, hồ, đầm.
    Tịnh vật: Kim, gai bằng vàng - Loài thuộc Kim - Nhạc khí - Đồ sứt mẻ - Vật vất bỏ, phế thải.
    Ốc xá: Ở về hướng Tây - Ở gần ao hồ - Nhà vách tường đổ nát. Cửa hư hỏng.
    Gia trạch: Chẳng yên - Phòng khẩu thiệt - Mùa Thu chiêm đẹp đẽ - Mùa hạ chiêm gia trạch hữu họa.
    Hôn nhân: Chẳng thành - Mùa Thu chiêm khá thành - Có việc mừng - Thành hôn cát - Lợi gá hôn với thiếu nữ - Mùa Hạ chiêm bất lợi.
    Ẩm thực: Thịt dê - Vật ở trong ao hồ - Thức ăn cách đêm - Vị cay nồng.
    Sinh sản: Bất lợi - Phòng có tổn hại - Hoặc sinh nữ - Mùa Hạ chiêm bất lợi - Lâm sản nên hướng Tây.
    Cầu danh: Nan thành - Vì có danh mà có hại - Lợi nhậm chức về hướng Tây - Nên quan về việc Hình - Võ chức - Chức quan coi về việc hát xướng - Quan phiên dịch.
    Mưu vọng: Nan thành - Mưu sự có tổn - Mùa Thu chiêm có sự vui - Mùa Hạ chiêm chẳng vừa lòng.
    Giao dịch: Bất lợi - Phòng khẩu thiệt - Có sự cạnh tranh - Mùa Hạ chiêm bất lợi - Mùa Thu chiêm có tài có lợi trong giao dịch.
    Cầu lợi: Đã không có lợi mà có tổn - Khẩu thiệt - Mùa Thu chiêm có tài lời - Mùa Hạ chiêm phá tài.
    Xuất hành: Chẳng nên đi xa - Phòng khẩu thiệt - Bị tổn thất - Nên đi về hướng Tây - Mùa Thu chiêm nên đi vì có lợi.
    Yết kiến: Đi hướng Tây thì gặp - Bị nguyền rủa rầm rĩ.
    Tật bệnh: Tật yết hầu, khẩu thiệt - Tật suyễn nghịch khí - Ăn uống chẳng đều.
    Quan tụng: Tranh tụng không ngớt - Khúc trực chưa quyết - Vì việc tụng mà tổn hại - Phòng hình sự - Mùa Thu chiêm mà được Đoài là thể thì ắt đắc thắng.
    Phần mộ: Nên hướng Tây - Phòng trong huyệt có nước - Mộ gần ao hồ - Mùa Hạ chiêm chẳng nên - Chôn vào chỗ huyệt cũ bỏ hoang.
    Phương đạo: Hướng Tây.
    Ngũ sắc: Trắng.
    Tính tự (Họ, Tên): Tiếng thương (ngũ âm) - Người có họ hay tên đeo chữ Kim hay chữ Khẩu ở một bên - Hàng vị 2, 4, 9.
    Số mục: 2, 4, 9.
    Ngũ vị:Cay nồng.

    Chương Bát Quái Vạn Vật kể trên, sự việc còn rất nhiều chẳng chỉ có như vậy mà thôi. Vậy phép chiêm, nên theo mọi sự việc mà suy từng loại vậy.
     
  10. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    PHẦN THỨ HAI
    Tân dịch Thiệu Khang Tiết Tiên sinh
    Mai Hoa Quan Chiết Tự Số.


    SỰ TRỌNG YẾU SÂU KÍNH CỦA TÂM DỊCH
    VỀ PHÉP CHIÊM BỐC


    Trong thiên hạ có sự dữ sự lành, nhờ chiêm bốc mà biết được sự trọng yếu.

    Sự lý trong thiên hạ không có hình tích, dùng giả tượng để hiểu rõ cái nghĩa. Cho nên quẻ Càn, có lý chắc chắn để tượng trưng cho loài ngựa (mã), vậy cho nên phép chiêm bốc ngụ cái lý của cát hung, chỉ nhờ vào quái tượng để biện minh. Vậy quái tượng nhất định chẳng khác gì cái lý mà nếu không biết đạo biến thông thì chẳng bao giờ hiểu được sự nhiệm mầu.Dịch số là chỉ có biến dịch mà thôi: chí như hôm nay toán quẻ Quan Mai (ngắm bông mai), mà được quẻ Cách (Trạch Hỏa Cách) biết rằng sẽ có thiếu nữ bẻ hoa. Ngày sau quả thật có thiêu nữ đến bẻ hoa, có thể như vậy sao?
    Hôm nay toán quẻ Mẫu Đơn, mà được quẻ Cấu (Thiên Phong Cấu) biết được vườn Mẫu đơn sẽ bị ngựa dẫm nát, ngày hôm sau quả thật có ngựa phá hủy vườn Mẫu đơn, thế sao?

    Vả chưng quẻ Đoài không phải chỉ sở thuộc thiếu nữ mà thôi, cũng như quẻ Càn, cũng không phải chỉ sở thuộc ngựa mà thôi, có thể kẻ khác bẻ bông, và cũng có thể là một loài nào đó phá hủy vườn Mẫu đơn. Cho nên sự suy xét phải thật tinh vi, mới có thể định được cái sở thuộc về vật gì. Than ôi! Đạo chiêm bốc rất cần yếu nhất là biến thông, hiểu được biến thông tất đạt được Tâm Dịch cao siêu vậy.
    CHIÊM BỐC TỔNG QUYẾT


    Đại để phép chiêm bốc, sau khi đã bố thành quẻ rồi, trước hết xem xét Hào từ của Chu Dịch để đoán cát hung. Thí dụ:

    Càn sơ cửu là rồng ở ẩn, nên mọi việc đều còn nấp kín (âm thầm, chưa hiện rõ)
    Cửu nhị là rồng xuất hiện tại điền(1) thì lợi gặp đại nhân, nên yết kiến quý nhân.

    Thứ đến, xem Thể Dụng của quẻ, để luận Ngũ Hành sinh khắc. Thể Dụng tức là cái thuyết Động và Tịnh:

    - Thể là chủ, Dụng là sự việc, ứng dụng sự thể.
    - Thể Dụng tỵ hòa (như nhau, hòa nhau) là tốt.
    - Thể sinh Dụng hay Dụng khắc Thể là xấu.

    Lại xem đến khắc ứng, như đương thời chiêm bốc:

    - Nghe nói vui tươi, hay thấy triệu chứng tốt lành là tốt.
    - Nghe nói hung dữ hoặc thấy triệu chứng xấu là xấu.
    - Thấy vật tròn nguyên vẹn biểu hiệu sự thành công.
    - Thấy vật sứt mẻ hư hao biểu lộ sự thất bại.

    Lại xét cái động tịnh của bản thân ta như:

    - Ngồi: ứng sự chậm trễ,
    - Đi: ứng sự mau,
    - Chạy: ứng sự mau hơn nữa,
    - Nằm: ứng sự chậm hơn.

    Muốn thông suốt sự chiêm bốc, cần nhất lấy
    Dịch quái làm chủ, thứ đến khắc ứng:
    - Cả hai nếu tốt thì thật là tốt,
    - Cả hai đều xấu lại càng xấu hơn.

    Nếu một xấu, một tốt nên xét rõ quái từ với Thể Dụng, khắc ứng các loại mà đoán. Vậy nên phải xét suy cho đầy đủ, chứ không nên vịn vào một chi tiết nhỏ nhặt mà đoán được.
     
  11. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    LUẬN LÝ VỀ CHIÊM BỐC


    Phép chiêm bốc cần phải luận lý mới được đầy đủ, nếu cứ luận về số mà không luận đến lý, và nếu căn cứ một chi tiết nhỏ thì không thể linh nghiệm được.

    - Tỷ như toán về sự ăn uống mà được quẻ Chấn, vì Chấn tượng trưng cho Long (con rồng), nếu lấy lý mà luận thì không thể nói rồng được, ta phải lấy lý ngư (cá gáy) mà thay vào.
    - Còn như toán về thiên thời mà được quẻ Chấn tượng trưng cho sấm, nếu đương thời ta ở về mùa Đông, theo lý thì không thể có sấm được, nên ta phải kể là gió bão làm chấn động vậy.

    Cho nên theo mấy thí dụ kể trên, cần phải xét lý cho tường, ấy mới phải đạo chiêm bốc thật sâu xa vậy.
    TIÊN THIÊN VÀ HẬU THIÊN LUẬN


    Đoán quẻ về Hậu Thiên, tốt hay xấu chỉ luận về quái (quẻ) mà thôi, không cần dùng đến Hào từ của Dịch; còn Hậu Thiên lại dùng Hào từ gồm luôn cả Quái từ mà đoán, tại sao thế?

    Vì Tiên Thiên trước được số chưa được quái (quẻ), như vậy là chưa có Dịch Thư(2) mà đã có dịch lý trước rồi, cho nên không cần dùng đến Dịch thư nữa, mà chỉ chuyên lấy quái (quẻ) mà đoán thôi.
    Còn Hậu Thiên trước tiên được quái (quẻ) rồi dùng quái mà vạch ra Từ sau Dịch vậy, cho nên dùng Hào từ gồm luôn cả Quái từ mà đoán.

    Và cách bố quái (khí quái hay dàn quái) Tiên thiên không giống Hậu Thiên, như cách bố quái của Hậu Thiên mà số cũng bất đồng nhất (khác nhau), Nay nhiều người tính: Khảm 1, Khôn 2, Chấn 3, Tốn 4, Trung cung 5, Càn 6, Đoài 7, Cấn 8, Ly 9; lấy những số ấy dùng để tính quẻ.

    Vì Thánh nhân làm Dịch vạch ra quái (quẻ) đầu tiên lấy Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái thêm vào một bội số thì tự thành ra Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8; vậy chiêm bốc, bố quái hợp với những số ấy mà dùng.

    Vả nay nhiều người bố quái Hậu Thiên phần nhiều không gia thời, lập được một quẻ chỉ lấy một Hào động, mà lại không dùng đến đạo biến thông. Vậy lập quẻ Hậu Thiên tất phải gia thời mới được. Lại như quái Tiên Thiên định thời ứng kỳ, thì lấy Quái khí:
    - Như Càn Đoài ứng vào Canh Tân và năm, ngày thuộc Kim, hoặc Càn tức ngày, giờ Tuất Hợi; Đoài tức ngày, giờ Dậu.
    - Như Chấn, Tốn phải ứng vào Giáp Ất và năm, ngày thuộc Mộc, hoặc Chấn tức Mẹo, Tốn tức Thìn.

    Hậu Thiên: Lấy số quẻ gia thêm số giờ (thời) tổng cộng để phân định ứng kỳ của sự việc, và phân ra bằng đi, ngồi, đứng, làm mau, chậm. Số quẻ gia thời đó, ứng được việc gần, mà chẳng có thể xét định việc xa hơn, nên phải hợp số cả Tiên Thiên và Hậu Thiên lại quyết đoán ứng kỳ vậy.

    Vả lại phàm toán quẻ để đoán cát hung, mà thấy rõ sự lý, thì chỉ thấy được toàn quái, Thể dụng sinh khắc, với tham khảo luôn cả Dịch từ, vậy mới linh thông.

    Ngày này theo quái Hậu Thiên không dùng tới Lục Thập Hoa Giáp, mà chỉ dùng giờ, phương, tốt xấu, bại, vong để trợ đoán mà thôi, và Lịch tượng tuyển thời (coi chọn ngày giờ) thì Chu Dịch lại càng không thích ứng, nên không dùng đến nữa.
     
  12. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    TRUYỀN LẠI LỜI ĐOÁN CÁC QUẺ


    Phàm toán quẻ phải lấy Thể làm chủ, song lẽ đôi khi không luận đến Thể. Thí dụ:
    - Toán bức hoành phi của chùa Tây Lâm Tự, được quẻ Sơn Địa Bác, Thể Dụng, Hổ Biến đều thầy tỵ hòa thời biết là tốt rồi, nhưng lại cho là quẻ không tốt, là sao vậy?
    Xét theo lý: chỗ chùa chiền là chỗ riêng biệt của phái dương (nam phái) ở, nay quẻ Hổ Biến ra lại thấy thuần âm (toàn âm hay toàn nữ); như vậy thấy rõ quần âm bác dương (phái âm chia rẽ phái dương, lộn xộn), đó là lý tự nhiên. Vậy nên không cần xét đến Tể Dụng thì ta đã biết rồi.
    - Lại toán quẻ có người hỏi: "Kim nhật động tịnh như hà?" (Hôm nay động tịnh ra sau?)
    Toán được quẻ Địa Phong Thăng, sơ hào động, Dụng khắc Thể quái, nên không có sự ăn uống thịnh soạn mà cũng sẽ có người đến mời, dầu sự ăn uống sơ sài, mà cũng có mời, vì sao vậy?
    Vì người ấy (người hỏi) đang lúc ấy, nó ứng với triệu ngày, vả chăng xét đến hai chữ: "như hà" 如 何, có hai chữ Khẩu (口) là miệng nó trùng với chữ Đoài (兌) cũng có chữ Khẩu (口).
    - Lại có quẻ Dụng không sinh quẻ Thể, nhưng Hổ và Biến quái lại sinh Thể nên tốt.
    Ví như quẻ "Chàng thiếu niên có vẻ mặt vui được quẻ Bí vậy.
    - Lại nữa quẻ Dụng không sinh quẻ Thể, mà Hổ và Biến quái lại khắc quẻ Thể ấy là xấu.
    Ví như quẻ "Con bò rống tiếng bi thảm" toán được quẻ Địa Thủy Sư.
    Người thiếu niên kia đã sẳn có vẻ mặt vui vẻ mà quẻ Dịch lại bảo: "Thúc bạch tiển tiển chi triệu" (Cái triệu bó lụa hoa).
    Như vậy đã thấy hai triệu chứng tốt rồi, quẻ Hổ biến ra lại thấy tướng sinh lại càng tốt thêm lên nữa. Tuy là Dụng không sinh Thể nhưng cũng vô hại.

    Còn như toán "Con bò rống kêu thê thảm" kia đã biết trước triệu xấu rồi, mà quẻ Dịch lại bảo rằng: "Dư thi chi hung" (tức là xe chở thây) là xấu.
    Hổ Biến quẻ ra lại thấy tương khắc lại càng thêm xấu hơn lên. Tuy hào Dụng không khắc Thể cũng chẳng yểm được sự xấu. Như thế mới biết đoán quẻ Dịch, tức phải dùng đến lý mới xét được linh nghiệm, không nên chấp một vài sự nhỏ nhặt mà đoán.
    Ghi chú: (1) Điền: ruộng, đất đai.
    (2) Dịch Thư: Chu Dịch.
     
  13. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    BÁT QUÁI TÂM DỊCH THỂ DỤNG LỆ LUẬT


    Pháp thuật của Tâm dịch là do nơi Thể và Dụng rất thiết yếu.
    Ta lúc trẻ đọc sách Chu Dịch thường tham khảo Số học để hiểu được Tâm dịch là quái số, trước tiên học khởi quái để biết được cát hung, cũng như dùng gáo để đong lường mước biển, không biết đến chỗ cùng. Sau được Trí nhân truyền trao cho lệ luật Thể Dụng Tâm dịch mới đoán được linh thông. Nhờ sự công hiệu có thể chứng được. Như người Do Cơ
    bắn tên trăm phát trăm trúng. Được vậy, nên căn cứ vào Thể Dụng xét lý về Ngũ hành sinh khắc, tỵ hòa để giải bày sự cát hung, cùng biến, nguy nan, ấy là pháp thuật kỳ diệu của Dịch số. Đời mà có người có chí kiên thành nắm được cái thâm bí đó ít có lắm vậy.
    THỂ DỤNG TỔNG QUYẾT


    Như Dịch quái là phơi bày đạo chiêm bốc, thì lấy Dịch quái làm thể, lấy sự chiêm bốc làm Dụng để ngụ ý cho Động và Tịnh quái để phân chia chủ và khách ấy là cái chuẩn tắc của sự chiêm bốc.
    Đại để cái thuyết Thể và Dụng là:
    Thể quái làm chủ, Dụng quái làm sự việc, Hổ quái là trung gian của Sự và Thể, khắc ứng và Biến quái là kết quả
    của sự việc. Quái khí của Ứng thể thì phải khí thịnh, chớ không được khí suy.

    Khí thịnh như:

    - Xuân thì Chấn, Tốn.

    - Hạ thì Ly.

    - Thu thì Càn, Đoài.

    - Đông thì Khảm.

    - Bốn tháng tứ quý (tháng 5, 6, 9 và 12) thì Khôn, Cấn.
    Khí suy như:

    - Xuân thì Khôn, Cấn.

    - Hạ thì Càn, Đoài.

    - Thu thì Chấn, Tốn.

    - Đông thì Ly.

    - Bốn tháng tứ quý thì Khảm đều gọi là khí suy.
    THA QUÁI


    Thể quái chịu nhận Tha quái sinh, không nên Tha quái khắc Thể.
    Tha quái là Dụng quái, Hổ Quái và Biến quái.
    - Sinh như: Càn, Đoài thuộc Kim là Thể, gặp Khôn, Cấn thuộc Thổ là sinh.
    Khôn, Cấn thuộc Thổ là Thể gặp Ly thuộc Hỏa là sinh.
    Ly thuộc Hỏa là Thể mà gặp Chấn, Tốn thuộc Mộc là sinh.
    - Khắc như: Thể Kim gặp Hỏa là khắc, Thể Hỏa gặp Thủy là khắc v.v...
    Cái thuyết Thể và Dụng tức là Động với Tịnh làm chủ và khách trong Bát Quái Ngũ Hành sinh khắc.
    Thể tức là chính mình. Dụng là ứng vào nguyên nhân sự việc.
    Vậy nên, Dụng phải sinh ra Thể và Thể phải khắc Dụng mới tốt. Thể mà thịnh thì tốt, Thể suy thì xấu.
    Dụng khắc Thể không nên, Thể sinh Dụng cũng bất lợi. Thể có nhiều đảng là Thể thịnh, còn dụng có nhiều đảng tất
    Thể phải suy.
    Tỷ như Thể là Kim, mà Hổ Biến ra đều là quẻ thuộc Kim tức là Thể có nhiều đảng hơn.
    Còn như Dụng là Kim, mà Hổ Biến ra đều là quẻ thuộc Kim, tức là Dụng có nhiều đảng hơn.
    Thể mà sinh Dụng gọi là Tiết khí (khí lộ ra ngoài như mùa Hạ là Hỏa mà gặp quẻ Thổ nghĩa là Thể là Hỏa mà sinh
    Dụng là Thổ).
    Giữa Thể và Dụng mà tỵ hòa là tốt. Hổ quái là trung gian của biến ứng và thuộc về thời kỳ sau cuối cho nên Dụng trước tốt mà biến ra thấy xấu ấy là triệu trước tốt sau xấu. Còn Dụng trước xấu khi biến ra thấy tốt, ấy là triệu trước xấu sau tốt.
    Thể khắc Dụng trăm việc đều hay;
    Dụng khắc Thể mọi việc đều hỏng;
    Thể sinh Dụng tất phải hao tài;
    Dụng sinh Thể tăng phần tươi sáng,
    Thể và Dụng tỵ hòa trăm việc đều thuận lợi.
     
  14. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    XEM TRONG TOÀN QUÁI MÀ CÓ QUẺ SINH THỂ
    (thì tốt xấu thế nào?)

    Quẻ Càn: Sinh Thể thì các việc công môn có sự vui mừng; hoặc công danh hiển đạt, hoặc làm quan có tài, hoặc việc thưa kiện thắng lý. Hoặc có lợi về kim báu, hoặc có người già tuổi tiến tiền của, hoặc có quý nhân tôn trưởng gia ân, hoặc có việc mừng về quan sự.
    Quẻ Khôn: Sinh Thể chủ sự vui mừng về ruộng đất, hoặc do điền thổ mà có tài, hoặc có người ở cùng làng đem
    đến sự lợi ích, hoặc có đàn bà làm lợi cho mình, hoặc có lợi về hoa quả mùa màng, hoặc có lợi về vải lụa.
    Quẻ Chấn: Sinh Thể chủ lợi về sơn lâm sản, hoặc do sơn lâm mà phát tài, hoặc có sự vui mừng trong sư hoạt động, hoặc có tài về hướng Đông, hoặc buôn bán về loại mộc có lợi, hoặc có người họ, tên mang bộ thảo mộc làm lợi cho mình.
    Quẻ Tốn: Sinh Thể chủ lợi về sơn lâm sản, hoặc do sơn lâm mà có tài, hoặc có tài lợi về hướng Đông Nam, hoặc nhân có người có họ, tên mang bộ thảo mộc làm lợi cho mình, hoặc lợi về quả, trà, hoặc có người biếu tặng trà, quả, rau ráng. Nói tóm lại là tất cả có lợi về loài Thảo Mộc.
    Quẻ Khảm: Sinh Thể có sự vui mừng về phương Bắc đem tới, hợac có tài về hướng Bắc, hoặc có người ở gần sông
    nước đem tới, hoặc buôn bán về nghề cá, muối, rượu, văn thơ giao dịch mà có lợi, hoặc có người cho rượu, cá, muối. Nói tóm lại là tất cả có lợi về loài bộ Thủy.
    Quẻ Ly: Sinh thể chủ có tài về hướng Nam, hoặc có người ở hướng Nam làm tài lợi cho mình, hoặc có sự vui
    mừng về văn thơ, hoặc có lợi về các xưởng đúc, các lò đúc đồ sắt, hoặc có người mang tên bộ Hỏa làm lợi cho mình. Nói tóm lại tất cả có lợi về loại thuộc Hỏa.
    Quẻ Cấn: Sinh Thể chủ có tài về hướng Đông Bắc, hoặc có người ở hướng Đông Bắc đem tài lợi, hoặc có tài
    về sơn lâm điền thổ, hoặc có người có họ tên mang bộ Thổ hay người mang tiếng cung(1) (tức là tiếng cung trong ngũ âm) đem tài lời cho mình, mọi sự đều yên ổn, mọi sự đều có thủy có chung.
    Quẻ Đoài: Sinh Thể chủ có tài lợi về hướng Tây, hoặc do người ở hướng Tây đem tài lợi đến, hoặc có sự vui
    tươi, hoặc được ăn uống, hoặc được lợi về buôn bán vàng ngọc, hoặc có người tên họ mang bộ Khẩu làm lợi cho mình, hoặc chủ khách có việc vui mừng, bè bạn kết tập mua vui, hoặc có người có tiếng thương(2) (tức là tiếng thương trong ngũ âm) làm lợi cho mình.
    Ghi chú:

    (1) Tiếng Cung, như ta nói người nói giọng Thổ.

    (2) Tiếng Thương, như ta nói người nói giọng Kim.
     
  15. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    NHỮNG QUẺ KHẮC THỂ

    (thì tốt xấu thế nào?)

    Quẻ Càn: Khắc Thể, là triệu có sự lo lắng về công môn, hoặc có sự lo buồn trong gia trạch, hoặc mất của, hoặc hao tổn về ngũ cốc, hoặc oán giận cùng tôn trưởng hoặc bị tội với cấp trên.
    Quẻ Khôn: Khắc Thể, chủ có sự lo lắng về điền thổ, hoặc vì điền thổ mà tổn hại, hoặc bị tiểu nhân làm hại, hoặc bị đàn bà lấn hiếp, hoặc bị mất của về vải sợi, hoặc thất chí lổ lả về ngũ cốc.
    Quẻ Chấn: Khắc Thể, chủ bị sợ hãi rối loạn thường thường nơm nớp hoặc trong lòng chẳng được yên, hoặc trong gia trạch có tai biến, hoặc có người họ tên mang bộ Thảo mộc xâm lăng, hoặc bị thất thoát về sơn lâm.
    Quẻ Tốn: Khắc Thể, chủ sự lo lắng, hoặc mưu sự gì về sơn lâm, mưu sự thất bại, hoặc có người tên họ mang bộ Thảo mộc làm hại, hoặc người ở Đông Nam mưu sự, kỵ giao tranh, sinh sự với đàn bà.
    Quẻ Khảm: Khắc Thể, chủ có sự hiểm họa, hoặc bị cướp bóc hoặc có oán thù với người ở ven nước, hoặc bị tai
    nạn sau khi rượu chè, hoặc bị hãm hại trong lúc ăn uống, hoặc cùng với người phương Bắc gây họa.
    Quẻ Ly: Khắc Thể, chủ bị văn thư quấy rối, hoặc kinh sợ về hỏa hoạn, hoặc có nhiều âu lo từ phương Nam tới, hoặc có người mang tên họ bộ Hỏa gây rối loạn.
    Quẻ Cấn: Khắc Thể, mọi việc liên lụy, trăm việc trở ngại, hoặc bị hao tổn về sơn lâm, hoặc có người tên
    họ mang bộ Thổ gây loạn, đề phòng họa do phương Đông Bắc tới, hoặc ưu lo về mộ phần bất yên.
    Quẻ Đoài: Khắc Thể, chẳng lợi về hướng Tây, chủ khẩu thiệt nhiều sự rối ren, hoặc có người mang tên họ bộ
    Khẩu gây rối loạn, hoặc bị thương què gãy, hoặc do ăn uống mà sinh ưu sầu.

    * Nếu không có quẻ sinh Thể hay khắc Thể thì tùy theo bản quẻ mà đoán.
     
  16. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    I.- CHIÊM VỀ THỜI TIẾT


    Phàm chiêm về thời tiết chẳng cần phân Thể Dụng, chỉ xem toàn quái lấy ngũ hành hợp lại mà suy như: nhiều Ly thì trời tạnh; nhiều Khảm thì trời mưa; nhiều Khôn thì trời âm u. Càn chủ tạnh ráo; nhiều Chấn ở vào mùa Xuân, Hạ thì có tiếng vang; nhiều Tốn thì gió dữ; nhiều Cấn thì mưa lâu rồi sẽ tạnh; nhiều Đoài trời chẳng âm u cũng thì có mưa.

    Mùa Hạ mà chiêm được nhiều quẻ Ly mà không có Khảm thì trời nắng hạn chang chang; mùa Đông mà thấy nhiều Khảm mà không có Ly thì trời vần vũ tuyết ủ ê.

    Xem toàn quái nên gồm cả Hổ quái, Biến quái, còn ngũ hành là: Ly thuộc Hỏa chủ trời tạnh; Khảm thuộc Thủy chủ trời mưa; Khôn thuộc Thổ là khí đất chủ u ám; Càn là trời chủ tạnh ráo; Chấn là sấm; Tốn là gió.
    Mùa thu và mùa Đông có nhiều Chấn tuy không phải thời tiết, nhưng cũng có sấm lạ thường; nếu có Tốn giúp thêm thì gió lớn làm chấn động kinh hồn. Cấn là khí của sơn vân, nên mưa lâu mà gặp Cấn thì trời tạnh. Cấn là thôi (dứt) lại có nghĩa là Thổ khắc Thủy vậy. Đoài tượng trưng cho cái hồ, cái đầm, nên nếu không mưa thì trời cũng u ám.

    Ôi! Biệt luật của Tạo hóa rất khó giải; Lý số cũng phải dựa vào cái lý cho thật kỳ diệu; Càn tượng trưng cho Trời,
    bốn mùa tạnh ráo; Khôn tượng trưng cho đất, là một khí tiết bi đát. Càn Khôn lưỡng đồng, tạnh mưa biến đổi; Khôn Cấn gồm đôi, nhâm tối bất thường.

    Quái số có âm có dương, Tượng số(1) có chẳn có lẽ. Âm thời mưa, Dương thời tạnh, chẳn lẽ chồng chất bí ẩn (kín ngầm) huyền vi. Khôn là ngôi lão mẫu, tạnh lâu ắt phải mưa, âm khí nặng nề, mưa lâu ắt phải tạnh. Nếu gặp Trùng Khảm (hai quẻ Khảm), Trung Ly (hai quẻ Ly) khi mưa khi tạnh.

    Khảm là Thủy thì phải mưa; Ly là Hỏa thì phải tạnh. Càn Đoài là Kim, về mùa Thu thì tạnh ráo; mùa Đông tuyết sa lạnh buốt; Khôn cấn thuộc Thổ, về mùa Xuân thì mưa thấm nhuần, mùa Hạ lại nắng gắt.
    Dịch viết:
    Vân tòng long, Phong tòng Hổ và,

    Cấn vi vân, Tốn vi Phong.

    Cấn Tốn trùng phùng thì gió mây giao hiệp, cát bay đá dậy khuất che mặt trời, tối tăm rừng núi, bất chấp thời tiết cả hai chẳng nài.
    Khảm trên Cấn dưới (quẻ Khảm nằm trên quẻ Cấn) bủa giăng mây mù; nếu Khảm nằm trên Đoài, sương động thành tuyết; Càn Đoài là tuyết sa, mưa đá; Ly là Hỏa biểu hiệu chớp, cầu vồng; Ly là điện, Tốn là Lôi cả hai giao hợp thì sấm chớp vang rền.
    Khảm là vũ, Tốn là phong bỗng nhiên tương ngộ, thì gió mưa nổi trận lôi đình; Quẻ Chần mà trùng phùng thì sấm vang
    ngàn dậm; hai Khảm chồng nhau thì mưa nhuận thấm muôn trùng.
    Ấy là cái nguyên nhân của quái thể trùng phùng, nay lại suy tường Hậu tượng mà quyết đoán.
    Thiên Địa Thái, Thủy Thiên Nhu là tượng mưa dây dưa, hôn ám.
    Thiên Địa Bỉ, Thủy Địa Tỷ là hình dáng tối tăm mịt mù. Nếu Thuần Ly (hai quẻ Ly), về mùa Hạ thì hạn hán; tứ quý đến
    tạnh ráo
    Thuần Khảm (hai quẻ Khảm), về mùa Đông thì rét lạnh, mưa dầm dề, khó bề tạnh ráo; gặp Cấn thì mưa dứt ngay, nắng luôn luôn trương nhựt, cơ ấy là như vậy.
    Lại như Thủy Hỏa Ký Tế, Thủy Hỏa Vị tế, thì phong vân biến cố bất thần; Phong Trạch Trung Phu, Trạch Phong Đại quá,
    ba tháng mùa Đông mưa sa tuyết rụng; Thủy Sơn Kiển, Sơn Thủy Mông, đi đâu phải lo sấm lấy dù; Địa phong Thăng, Phong Địa Quan, không nên đi thuyền đề phòng tai biến.
    Ly nằm trên Cấn: sáng mưa chiều tạnh;
    Ly Hổ thành Cấn: sáng tạnh chiều mưa. Tốn Khảm Hổ Ly tất thấy ráng, cầu vồng;
    Tốn Ly Hổ Khảm cũng chung một cuộc.
    Cần nên dò xét kỹ càng, không chấp nê một lý. Chấn Ly có chớp, sấm, ứng vào mùa Hạ. Càn Đoài có sương tuyết, thiết
    nghiệm với mùa Đông.
    Tạo Hóa chi lý, rộng vậy thay, Số Lý chi diệu, rất sâu, rất kín, hiểu thấu đạo thánh hiền xưa truyền để lại, ta đáng cung, đáng kính mà thọ báu truyền.
    Ghi chú:
    (1) Tượng số là hình vẽ Bát quái, có hào 2 vạch là chẳn, có hào 1 vạch là lẽ.
    II.- CHIÊM NHÂN SỰ


    Chiêm nhân sự cần xét Thể, Dụng. Thể quái là chủ, Dụng quái là khách.
    Dụng khắc Thể chẳng nên, Thể khắc Dụng lại tốt.
    Dụng sinh Thể có sự vui mừng. Thể sinh Dụng thường xảy ra tổn thất.
    Thể Dụng hòa đồng (tỵ hòa) mưu sự có lợi.
    Cần xét thêm Hổ quái và Biến quái để đoán cát hung, nghiên cứu thịnh suy để tường tai hại.
    Chiêm về nhân sự thì dùng toàn chương Thể Dụng Tổng Quyết, để định cát hung.
    Nếu có quái sinh Thể quái, nên xem chương Bát Quái ở trước Quái sinh Thể có những gì tốt, khắc Thể có những gì xấu.
    Nếu không thấy có sinh Thể, khắc Thể thì lấy bổn quái mà suy.

    III.- CHIÊM GIA TRẠCH


    Phàm chiêm gia trạch lấy Thể làm chủ Dụng làm gia trạch.
    Thể khắc Dụng thì gia trạch vững vàng.
    Dụng khắc Thể thì gia trạch bất an.
    Thể sinh Dụng: nhiều việc tổn hao, ly tán phòng đạo tặc.
    Dụng sinh Thể được nhiều lợi ích, hoặc được của người dâng biếu.
    Thể Dụng tỵ hòa: gia trạch yên ninh.
    Nếu có Quái sinh Thể thì xem lại chương chiêm Nhân sự mà đoán.

    IV.- CHIÊM ỐC XÁ

    Chiêm vụ này phải dùng thời gian sáng tạo. Phàm chiêm ốc xá, lấy thể làm chủ, Dụng làm ốc xá.
    Thể khắc Dụng: chỗ ở vừa ý.
    Dụng khắc Thể: thì gia trạch bất ân.
    Thể sinh Dụng: chủ tư tài suy thối.
    Dụng sinh Thể: gia môn hưng thịnh.
    Thể Dụng tỵ hòa: tự nhiên yên ổn.
    V.- CHIÊM HÔN NHÂN


    Xem hôn nhân lấy Thể làm chủ, Dụng làm sự hôn nhân.
    Dụng sinh Thể: việc hôn nhân thành, hoặc nhân sự hôn nhân có lợi.
    Thế sinh Dụng: việc hôn nhân không thành, hoặc vì hôn nhân mà có hại.
    Thể khắc Dụng: hôn nhân thành nhưng phải chậm trễ.
    Dụng khắc Thể: bất thành, nếu thành cũng có hại.
    Thể Dụng tỵ hòa rất tốt.
    Phàm xem hôn nhân lấy Thể làm mình, làm chủ, mà Dụng tượng trưng cho nhà thông
    gia.
    Thể quái mà vượng thì nhà mình được gia môn ưu thắng.
    Dụng quái mà vượng nhà thông gia có địa vị thuận lợi.
    Dụng sinh Thể có tài lợi về sự hôn nhân, hoặc nhà thông gia chiều chuộng
    theo ý ta.
    Thể sinh Dụng thì không hộp bỏ quả hoặc mình phải thối sự cầu hôn.
    Nếu Thể Dụng tỵ hòa: hai bên tương tụ, lương phối nhàn du.
    Càn thì đoan chính mà giỏi, mạnh bạo.
    Khảm là dâm, háo sắc, hay ghen quá độ.
    Cấn sắc hoàng, đa xảo (khéo giỏi).
    Chấn dáng mặt đẹp mà rắn rỏi.
    Tốn tóc ít mà thưa hình xấu, tâm tham.
    Ly đoản, xích sắc, tính khí bất thường, thấp lùn.
    Khôn thì xấu bụng to mà vàng.
    Đoài cao và giỏi, nói năng vui vẻ, sắc trắng.

    VI.- CHIÊM SINH SẢN


    Chiêm sinh sản lấy Thể là mẹ, Dụng là sự sinh.
    Thể Dụng cả hai nên thừa vượng, chẳng nên thừa suy, nên tương sinh, không nên tương khắc.
    Thể khắc Dụng không lợi cho con.
    Dụng khắc Thể chẳng lợi cho mẹ.
    Thể khắc Dụng mà Dụng quái lại suy, chắc con chẳng toàn.
    Dụng khắc Thể mà Thể quái lại suy, ắt nguy cho mẹ.
    Dụng sinh Thể thì lợi cho mẹ. Thể sinh Dụng thì mẹ dễ sinh.
    Thể Dụng tỵ hòa thì mẹ tròn con vuông.
    Nếu muốn biết sinh nam hay nữ, nên dùng Bát quái trước đây mà suy. Dương quái mà dương hào nhiều hơn: sinh nam; Âm
    quái mà âm hào nhiều hơn: sinh nữ.
    Âm Dương quái hào tương đồng thì xem số người có mặt lúc chiêm, số chẳn lẽ, đó là lý ngẫu nhiên chứng nghiệm.

    Như muốn biết ứng kỳ ngày giờ, thì lấy Khí quái số của quẻ Dụng là quẻ gì, rồi tra nơi mục Thời tự của Bát Quái Vạn Vật trước đây mà đoán.
    VII.- CHIÊM ẨM THỰC

    Phàm chiêm ăn uống lấy Thể làm chủ, Dụng làm sự ăn uống.
    Dụng sinh Thể, ăn uống no say.
    Thể sinh Dụng bụng không, trống rỗng.
    Thể khắc Dụng tuy có ăn mà gặp sự đình trệ.
    Dụng khắc Thể thì thật toàn vô.
    Thể Dụng tỳ hòa, ăn uống phong túc.

    Trong quái có Khảm thì nhiều rượu, có Đoài thì nhiều mỹ vị; không Khảm không Đoài cả hai đều không.
    Đoài Khảm sinh Thể, rượu thịt ê hề, say sưa lướt thướt.
    Muốn biết ăn uống thức gì, dùng mục ẩm thực mà suy.
    Muốn biết ai là thực khách, dùng Hổ quái mục nhân sự mà luận. Cả hai đều có mục riêng ở Bát quái Vạn vật thuộc loại
    ở phần I.
    VIII.- CHIÊM CẦU MƯU

    Cầu mưu lấy Thể làm chủ. Dụng làm mưu sự.

    Thể khắc Dụng, mưu tất thành nhưng chậm.
    Dụng khắc Thể, mưu bất thành nếu thành cũng có hại.
    Dụng sinh Thể, mưu sự thành đạt mà có lợi.
    Thể sinh Dụng, mưu sự khó thành chẳng được vừa ý.
    Thể Dụng tỵ hòa, mưu sự xứng tâm.

    IX.- CHIÊM CẦU DANH

    Cầu danh lấy Thể làm chủ, Dụng làm danh.

    Thể khắc Dụng, danh khả thành nhưng phải chậm.
    Dụng khắc Thể danh bất khả thành.
    Thể sinh Dụng, danh bất khả tựu, hoặc nhân danh mà thất chí.
    Dụng sinh Thể, công danh thành toại hoặc nhân danh mà có lợi.
    Thể Dụng tỵ hòa, công danh xứng ý.

    Muốn biết ngày nào thành danh dùng Khí quái của quẻ sinh Thể mà suy.
    Muốn biết chức nhiệm phương sở dùng Biến-quái mà quyết đoán.
    Nếu không có quẻ khắc Thể, thì danh dễ thành, muốn biết nhạt kỳ, thì xem nơi mục Thời tự mà định ngày giờ.
    Bằng như kẻ chiêm quẻ còn tại chức,tối kỵ nhất thấy quẻ khắc Thể, thấy nó tức là thấy họa, nhẹ thì bị khiển trách, nặng thì phải cách chức thôi quan, mà nhật kỳ cũng ứng vào Khí quái khắc Thể, ở mục Bát quái Vạn Vật ở phần I, mục Thời tự mà suy.
    X.- CHIÊM CẦU TÀI

    Xem cầu tài lấy Thể làm chủ, Dụng làm tài.

    Thể khắc Dụng có tài, Dụng khắc Thể vô tài.
    Thể sinh Dụng ắt tài hao tổn,
    Dụng sinh Thể, tài càng phát đạt.
    Thể Dụng tỵ hòa, tài lợi khoái tâm.

    Muốn biết ngày có tài, dùng khí quái của quẻ sinh Thể mà suy.
    Muốn biết ngày phá tài, lấy khí quái của quẻ khắc Thể mà đoán.
    Nếu trong chánh quái, thấy có quẻ Thể khắc Dụng, hoặc có quẻ Dụng sinh Thể, tất là có tài, xem khí quái của chánh quái, thì biết ngay nhật kỳ.
    Trái lại, nếu thấy Dụng khắc Thể, hay Thể sinh Dụng, ấy là quẻ phá tài, xem khí quái, biết ngay thời kỳ phá sản.
    XI.- CHIÊM GIAO DỊCH


    Xem giao dịch lấy Thể làm chủ, Dụng làm sự giao dịch
    Thể khắc Dụng, giao dịch thành mà chậm.
    Dụng khắc Thể bất thành.
    Thể sinh Dụng nan thành, hoặc nhân sự giao dịch mà hóa ra có hại.
    Dụng sinh Thể tất thành, thành mà có lợi lớn.
    Thể Dụng tỵ hòa giao dịch thành toại.
     
  17. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    XII.- CHIÊM XUẤT HÀNH

    Xem quẻ xuất hành, lấy Thể làm chủ, Dụng làm sự xuất hành.

    Thể khắc Dụng, xuất hành tốt được nhiều lợi lớn.
    Dụng khắc Thể, đi ắt có họa.
    Thể sinh Dụng ra đi ắt phá tài.
    Dụng sinh Thể, ngoại tài vô lượng.
    Thể Dụng tỵ hòa xuất hành tiện lợi.

    Phàm xuất hành Thể nên thừa vượng và chư quái cần phải sinh Thể mới tốt.
    Quái Thể mà Chấn Càn thì chủ đa động,
    Khôn Cấn chủ bất động.
    Tốn nên đi bằng thuyền,
    Ly nên đi bộ hành,
    Khảm phòng thất thoát,
    Đoài chủ phân tranh (lộn xộn, khẩu thiệt)

    XIII.- CHIÊM HÀNH NHÂN

    Chiêm hành nhân lấy Thể làm chủ, Dụng làm hành nhân.

    Thể khắc Dụng, hành nhân về mà trễ.
    Dụng khắc Thể, hành nhân không về.
    Thể sinh Dụng, hành nhân chưa về.
    Dụng sinh Thể, hành nhân sẽ tới.
    Thể Dụng tỵ hòa, ngày về sắp tới.

    Lại xem quẻ Dụng mà vượng lại phùng sinh thì hành nhân ở ngoài rất phong túc. Nếu phùng suy mà lại gặp khắc, ắt tại ngoại thọ tai.
    Quẻ Chấn phần nhiều chẳng được an ninh,
    Cấn thì bị trở ngại,
    Khảm gặp nhiều hiểm họa,
    Đoài thì càng lộn xộn phân tranh.
    XVI.- CHIÊM YẾT KIẾN

    Chiêm yết kiến lấy Thể làm chủ chính mình, Dụng làm người mình muốn gặp.

    Thể khắc Dụng hì gặp;
    Dụng khắc Thể không gặp.
    Thể sinh Dụng, có gặp cũng khó khăn lắm mà có gặp chăng thì cũng chẳng có lợi gì.
    Dụng sinh Thể đối diện tương phùng, hòa đàm tương đắc.
    Thể Dụng tỵ hòa, hoan nhiên tương kiến.

    XV.- CHIÊM THẤT VẬT

    Xem thất vật lấy Thể làm chủ, Dụng làm thất vật.

    Thể khắc Dụng, tìm được nhưng phải chậm.
    Dụng khắc Thể, tìm không được.
    Thể sinh Dụng, rất khó tìm.
    Dụng sinh Thể, tìm ngay được thấy.
    Thể Dụng tỵ hòa, của không mất.

    Lại xem Biến quái cho biết phương hướng nào:
    - Biến quái là Càn thì tìm ngay phương Tây Bắc, hoặc trên lầu gác các công sở hoặc dấu ở bên kim thạch, hoặc dấu trong vật hình tròn, hoặc chỗ trên cao khỏi mặt đất.
    - Biến quái là Khôn tìm hướng Đông Nam, gần ruộng vườn hoặc ở kho vựa hoặc chỗ gặt hái, hoặc chôn trong hang dưới đất hoặc trong đống gạch ngói hoặc trong đồ hình vuông.
    - Biến quái là Chấn tìm về hướng Đông, gần chỗ sơn lâm, hoặc dấu trong bụi gai góc, hoặc gần chỗ trống chiêng, hoặc ở trong chiêng trống, hoặc ở chỗ ồn ào hoặc gần đường cái.
    - Biến quái là Tốn tìm phương Đông Nam, hoặc gần chỗ sơn lâm, hoặc gần chùa chiền, hoặc tại vườn rau hoặc trong xe thuyền, hoặc dấu trong đồ bằng mộc.
    - Biến quái là Khảm tìm phương Bắc, dấu gần ven nước hoặc gần kinh ngòi, mương rảnh, giếng ao hoặc gần chỗ để rượu, dấm hoặc ở chỗ có cá muối.
    - Biến quái là Ly tìm phương Nam, gần lò bếp, hoặc ở gần cửa sổ, hoặc dấu ở nhà trống, hoặc gần chỗ văn thư hoặc ở chỗ có khói lửa.
    - Biến quái là Cấn tìm phương Đông Bắc, gần chỗ sơn lâm, hoặc gần mé đường, hoặc chỗ đá sỏi hoặc dấu trong hang đá.
    - Biến quái là Đoài tìm phương Tây, hoặc gần bờ ao giếng, hoặc trong đống vách tường đổ vở, hoặc trong nền hoang đổ nát, hoặc trong ao giếng bỏ hoang.
    VIII.- CHIÊM TẬT BỆNH

    Chiêm bệnh thì lấy Thể làm bệnh nhân, Dụng làm bệnh chứng.

    Thể quái nên vượng chẳng nên suy, Thể nên phùng sinh không nên thấy khắc.

    Dụng sinh Thể chớ nên khắc Thể,
    Thể sinh Dụng bệnh dễ lành.
    Dụng sinh Thể bệnh khó khỏi.
    Thể khắc Dụng không thuốc cũng lành.
    Dụng khắc Thể tốn thuốc vô công.
    Nếu Thể phùng khắc nhưng được vượng khí thì cũng còn hy vọng.
    Thể ngộ khắc mà lại gặp suy, đoán chẳng được bao nhiêu ngày nữa.

    Muốn biết có thể cứu được trong cơn hung thì xem có quẻ nào sinh Thể chăng.

    Thể sinh Dụng, bịnh dây dưa liên sàng,
    Dụng sinh Thể bịnh càng chóng khỏi.
    Thể Dụng tỵ hòa ắt bịnh chẳng phải lo.


    Muốn xem bịnh ngày nào khỏi hẳn, xét ở quẻ sinh Thể mà suy, muốn rõ thời kỳ lâm nguy, xét quẻ khắc Thể mà định.
    Muốn biết bịnh cho uống thuốc gì, xét quẻ sinh Thể mà xử dụng như:

    - Ly quái sinh Thể nên uống thuốc sắc chín.
    - Khảm quái sinh Thể nên uống thuốc lạnh.
    - Cấn thì ôn bổ, Càn Đoài thì dùng lương dược (thuốc mát).

    Nếu có thuyết tin quỷ thần tuy không phải là đạo của Dịch, nhưng cũng không nói rằng Dịch đạo chẳng lưu tâm, hãy lấy lý mà suy, như có quái khắc Thể, tức biết được bịnh phạn quỷ thần.
    - Càn quái khắc Thể, chủ Tây Bắc phương chi thần, hoặc binh đao chi quỷ, hoặc thiên thời hành khí, hoặc xung
    chính chi tà thần.
    - Khôn thuộc Tây Nam chi thần, hoặc khóang dạ (ruộng đồng) chi quỷ, hoặc liên thân chi quỷ (quỷ ở cạnh nhà),
    hoặc phạm Thổ Thủy thần trong làng, hoặc phạm quỷ đạo lộ, hoặc phạm vô chủ chi quỷ.
    - Chấn thuộc Đông phương hoặc Mộc hạ chi thần, hoặc yêu quái, hoặc bị ảnh hưởng chi thời.
    - Tốn là quỷ Đông Nam, hoặc quỷ tự ải tự sát hoặc quỷ già tỏa trí mạng (bị xiềng xích mà chết, thắt cổ treo cây v.v...)
    - Khảm là quỷ phương Bắc, hoặc Thủy thần, hoặc trầm mịch chi vong, hoặc quyết bịnh chi quỷ.
    - Ly thì quỷ Nam phương, hoặc Dũng mạnh chi thần, hoặc phạm Táo tự, hoặc đắc tội Tổ tiên, hoặc bị Phần thiêu
    chi quỷ, hoặc bị quỷ đau sót mạng vong.
    - Cấn là bị thần phương Đông Bắc, hoặc bị sơn lâm chi thần, hoặc bị sơn tiêu (yêu quái hiện người), mộc khách hoặc Thổ quái thạch tinh.
    - Đoài thì phạm Tây Nam hoặc Trận vong chi quỷ hoặc Phế tật chi quỷ hoặc Vẩn kỉnh tường sinh (thắt cổ tự sát, xiềng xích mà chết) chi quỷ.
    Trong Bản quái không có quẻ khắc Thể thì chớ nên bàn đến.
    Lại có người hỏi: Chiêm bịnh mà gặp quẻ Càn Khôn, tức là quẻ Thiên Địa Bí thì đoán như thế nào?
    Nhiêu Phu dạy rằng:
    1.- Càn thượng Khôn hạ, mà sơ hào động, ấy gọi quái sinh Thể, Biến thì thành Chấn thuộc Mộc, Hổ thì thấy Tốn Cấn đều là sinh Thể chi nghĩa, vậy chẳng nên lo gì, gặp ngày tương sinh thì bịnh khỏi hẳn.


    (Ghi chú: Trong sách phần TƯỢNG ĐỒ CỦA QUẺ CÀN KHÔN VỀ CHIÊM BỆNH (gọi là Thiên Địa Bỉ) tách riêng một trang, nhưng tôi đưa vào chung với lời giải thích cho thuận tiện theo dõi hơn.)

    Chánh quái
    (Sơ hào động)

    _____
    _____ Thể
    _____ Càn:Kim

    __ __
    __ __ Khôn:Thổ
    __ __ * Dụng

    Biến quái


    _____
    _____
    _____ Càn: Kim

    __ __
    __ __
    _____ Chấn:Mộc

    Hổ quái


    _____
    _____
    __ __ Tốn:Mộc

    _____
    __ __
    __ __ Cấn:Thổ




    2.- Thấy phát động hào 2 thì Biến quái thành Khảm (Thủy). Thể là Kim tức Kim sinh Thủy, nghĩa là Thể sinh cho nên gọi là tiết Thể hại Kim (là Thể thì Kim mà bị tiết ra, chảy ra, thì tất nhiêm Kim phải hao mòn) tức là Thể phải hao, và cũng gọi là Kim nhập Thủy hương (vàng chìm trong nước). Hổ quái lại hấy Tốn Ly có nghĩa là Phong Hỏa phiến lô đều là khắc Thể hết, lại xem đương thời ngoại ứng như thế nào, tức là cái triệu thiêu thây (phần thi chi tượng).

    Chánh quái
    (hào 2 động)

    _____
    _____ Thể
    _____ Càn: Kim

    __ __
    __ __ * Dụng
    __ __ Khôn:Thổ

    Biến quái


    _____
    _____
    _____ Càn: Kim

    __ __
    _____
    __ __ Khảm:Thủy

    Hổ quái


    _____
    _____
    __ __ Tốn:Mộc

    _____
    __ __
    _____ Ly:Hỏa




    Thế đoán là phải chết, chẳng phải nghi ngờ, lấy Xuân, Hạ, Thu, Đông tứ quý mà suy thì thấy lý rõ ràng.
    3.- Thấy phát động hào 3: Khôn quái biến Cấn quái thuộc Thổ, tức là quái sinh Thể, khỏi cần suy đến Hổ quái cũng đã đủ biết tốt rồi, vậy đoán tốt không còn nghi ngờ gì nữa.

    Chánh quái
    (hào 3 động)

    _____
    _____ Thể
    _____ Càn:Kim

    __ __ * Dụng
    __ __
    __ __ Khôn:Thổ

    Biến quái


    _____
    _____
    _____ Càn:Kim

    _____
    __ __
    __ __ Cấn:Thổ

    Hổ quái


    _____
    _____
    _____ Càn:Kim

    _____
    _____
    __ __ Tốn:Mộc




    4.- Thấy phát động hào 4: quẻ Càn biến thành quẻ Tốn thuộc Mộc. Kim Mộc đều có nghĩa là khắc Thể, ví dù Hổ quái có tốt chăng thì cũng phải xấu. Vì Mộc có nghĩa là Giang thi (khiêng thây), Kim vị nguyên huởng chi suy (gạch ngói), đó là suy cái lý mà định, mà cũng gọi là "Thi" đó, mà lôi ra cái lý.

    Chánh quái
    (hào 4 động)

    _____
    _____ Càn:Kim
    _____ * Dụng

    __ __
    __ __ Thể
    __ __ Khôn:Thổ

    Biến quái


    _____
    _____
    __ __ Tốn:Mộc

    __ __
    __ __
    __ __ Khôn:Thổ

    Hổ quái


    _____
    __ __
    __ __ Cấn:Thổ

    __ __
    __ __
    __ __ Khôn:Thổ




    5.- Thấy phát động hào 5: quẻ Càn biến thành Ly thuộc Hỏa, ấy là sinh Thể quái. Hổ và Biến đều sinh Thể. Ấy là tốt khỏi nghi ngờ gì nữa. Nếu gặp thêm triệu tốt thì càng thêm tốt, triệu hung thì chậm hơn, không đến nỗi chết. Thật là đoán rất rõ ràng.

    Chánh quái
    (hào 5 động)

    _____
    _____ * Dung
    _____ Càn:Kim

    __ __
    __ __ Thể
    __ __ Khôn:Thổ

    Biến quái


    _____
    __ __
    _____ Ly:Hỏa

    __ __
    __ __
    __ __ Khôn:Thổ


    Hổ quái


    __ __
    _____
    __ __ Khảm:Thủy

    _____
    __ __
    __ __ Cấn:Thổ




    6.- Thấy phát động hào 6: quẻ Càn biến thành quẻ Đoài thuộc Kim, Thể bị tiết khí. Hổ thấy Tốn Cấn, một tốt một xấu. Bịnh chẳng chết thì cũng chí nguy, cung nên xem triệu ngoại ứng, gặp triệu tốt đoán tốt, gặp triệu hung đoán hung. Cách đoán ấy rất rõ ràng. Tất cả các quái đều cũng đoán như thế, thời Tâm dịch bao giờ mà không linh ứng.

    Chánh quái
    (hào 6 động)

    _____ * Dụng
    _____
    _____ Càn:Kim

    __ __
    __ __ Thể
    __ __ Khôn:Thổ

    Biến quái


    __ __
    _____
    _____ Đoài:Kim

    __ __
    __ __
    __ __ Khôn:Thổ

    Hổ quái


    _____
    _____
    __ __ Tốn:Mộc

    _____
    __ __
    __ __ Cấn:Thổ


    XVII.- CHIÊM QUAN TỤNG

    Phàm chiêm quan tụng lấy Thể làm chủ, Dụng làm đối từ nhân, cũng ứng vào sự kiện cáo.

    Quái Thể nên vượng, Dụng quái nên suy.
    Dụng phải sinh Thể, chẳng nên Thể sinh Dụng.
    Thể nên khắc Dụng, chẳng nên Dụng khắc Thể.
    Thể mà khắc Dụng thì ta thắng người.
    Dụng mà khắc Thể thì người thắng ta.

    Thể sinh Dụng là ta thất lý, hoặc vì sự kiện cáo mà ta phải táng tâm.
    Dụng sinh Thể, chẳng những là ta đã thắng lý, à lại còn sở đắc.
    Thể Dụng tỵ hòa, quan tụng rất tốt; nếu không có người phù trợ, thì ít ra cũng chủ hòa.
     
  18. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    XVIII.- CHIÊM PHẦN MỘ

    Lấy Thể làm chủ, lấy Dụng làm phần mộ.

    Thể khắc Dụng, sự an táng rất tốt.
    Dụng khắc Thể, chỗ chôn thấy xấu.
    Thể sinh Dụng, chỗ chôn ấy chủ thối bại.
    Dụng sinh Thể, chủ hưng vượng, có âm phước hậu tự.
    Thể Dụng tỵ hòa, là chôn đất tốt, chôn chỗ ấy rất cát xương.

    Trên đây nói về thuyết Thể Dụng, tất cả 18 chương, để làm thí dụ cho Hậu-học, ngoài ra còn biết bao nhiêu là vấn đề, vô số kể. Há chỉ có 18 chương đã đủ hay sao? Vậy nên noi theo lời đoán 18 chương trên đây để suy nghiệm, kẻ học đạo nên xét đoán cho tinh vi.
    THIÊN TỰA TAM YẾU LINH ỨNG


    Vả chăng! Dịch là bản chất thuộc Tinh lý hoc, bản chất của Tinh lý ấy hoàn toàn do ở Tâm của ta vậy. Cái Tâm ấy là bản chất của một Tâm linh sáng suốt, trong sạch, chẳng bị một tơ hào nào xúc phạm, chẳng có một bụi trần nào làm hoen ố được. Tinh lý đây đủ là Dịch thể hiện hoàn toàn ở Tâm ta, ấy là Dịch, ấy là Tiên Thiên Dịch vậy.

    Chí như mối lo tư, tự nhiên bắt đầu bộc phát, ngoại vật gắn liền với tâm, như mây che không trung, như bụi làm lu mờ kiếng, chìm đắm mịt mù không rõ ràng. Mà trong vào Dịch thể hiện nơi Tâm của ta, há để xen lẫn được như thế sao?

    Cho nên cái nguyên nhân kỳ diệu của Tam yếu, nó xoay vần ở Nhĩ (tai), Mục (mắt), Tâm (cái tâm tư), ba yếu tố hư linh ấy thể hiện vào sự vật. Tai thì thông, Mắt thì sáng, Tâm thì thật trong sạch sáng suốt. Vì sự căn là do nơi Tâm, mà Tâm thì chủ trị lấy sự căn. Song le sự căn chưa phát động, thì quỷ thần chưa rõ được cái nguyên nhân, cát hung, họa phước không nơi thâm nhập. Cho nên Tiên sư dạy rằng: Tư lự chưa phát động, Quỷ Thần chưa hay, chẳng phải do nơi ta, thì do tại ai?

    Nếu sự căn mà dấy động ở Tâm ta, ắt là quỷ thần thấu hiểu, sự cát hung hối lận tất phải có số, thì tất nhiên ta đã có sẵn một lẽ gì đó rồi, ắt phải cầu đến Tâm Dịch của ta vậy.

    Như vậy im lặng, không tiếng, không động, yên lặng mà lo nghĩ, mà xét đoán cho chân thành, chú ý xem sự thay đổi, ngẫm ngợi xét tìm, quay vần trong Tam yếu, ắt hẳn ta thấy, mà thấy rõ ràng, nghe không rõ, ta nghe rõ ràng, như thấy rõ hình ảnh, như nghe âm thanh báo hiệu, ta xem xét rõ ràng, thì biết Dịch là đạo chiêm bốc, chính Dịch là ở nơi Tâm ta vậy.

    Tam yếu chẳng phải là sự hư không, mà sự huyền diệu linh ứng rất cao xa, ấy là đạo vậy.
    Xét lý cho chí tình, chí thần, trăm họ hàng ngày thường dùng mà chẳng hay. Làm sao được, để biết cho đầy đủ cái ảo diệu chân tình để luận bàn ấy chỉ có tiên sinh Lưu. Tiên sinh người ở Giang Hạ, hiệu Trạm Nhiên Tử, được Vương Óc Sơn nhân, Cao Xử sĩ Vân Thạch trao truyền.

    Bảo Khánh năm thứ 4, sau rằm tháng Trọng hạ, Thanh Linh Tử Chu Hư, bái thủ tự.
     
  19. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    Thiên Tam Yếu Linh Ứng
    Tam Yếu Linh Ứng quây quần trong ba yếu Tố Nhĩ, Mục, Tâm, linh ứng là linh diệu ứng nghiệm vậy.
    Xét Nhĩ để mà nghe, Mục để mà nhìm xem, Tâm để mà lo nghĩ. Ba yếu tố ấy, người ta không thể hiểu được, mà cái lý thuyết của vạn vật cũng không ra ngoài phương thức ấy được.
    Để cho thích đáng với sự chiêm quyết, yên lặng mà nghe, mà nhận thức sự lo nghĩ, tịnh mà xem xét vạn vật, mà nhận xét các âm thanh, để biết cát hung, thấy rõ hình ảnh của thiện ác, thấy rõ cái lý của họa phước đều do sự chứng nghiệm của thuật chiêm bốc.
    Như hợp với cái ứng thanh, như bóng theo hình làm sáng tỏ cho ta thấy vậy.
    Cái chân lý của Chu Dịch là: gần thì thủ (lấy chư thân (mình), xa thì thủ chư vật.
    Chu Dịch là do của Tiên hiền, Tiên sư làm ra và đã chọn lựa lấy những thành ngữ của thế tục làm thành lệ, mà nghiệm ra như Quỷ Cốc Tử, Nghiêm Quân Bình, Đông Phương Sóc, Gia Cát Khổng Minh, Quách Phác, Quản Lộ, Lý Thuần Phong, Viên Thiên Cương, Hoàng Phủ Chân nhân, Ma Y Tiên, Trần Hy Di, kế sau Thiệu Khang Tiết, Thiệu Bá Ôn, Ngưu Tư Hối, Ngưu Tư Kế, Cao Xử Sĩ, Lưu Trạm Nhiên, Phu Thọ Tử, Thái Nhiên Tử, Chu Thanh Linh Tử mà thời đại tương truyền không chuyên nhất, mà chẳng biết tên họ, chẳng tham dự vào đó hay sao?
    Và xét ra thì trời cao đất dày, vạn vật tan rã, âm trọc dương thanh, ngũ khí phơi bày, họa phước khó tránh khỏi số mạng, cát hung đều có cơ. Người đứng đầu trong muôn vật, cái Tâm là chủ cái thân, Mắt ngụ ra hình sắc, Tai nhận lãnh âm thanh, ba yếu tố ấy bao gồm đầy đủ cả muôn vật.
    Như trên là cái linh ứng của Thiên Địa vạn vật, mà Nhĩ, Mục Tâm là ba yếu tố nên gọi là Tam Yếu.
    - Cho nên gặp triệu tốt mà thuận là tốt - Gặp triệu xấu, thì chẳng có thể tránh được sự hung - Vật tròn là thể hiện sự thành, vật khuyết (sứt mẻ, hư hỏng) là thể hiện sự hại.
    Cái lý do đó, đoan nhiên chẳng phải nghi ngờ gì nữa, như trên là xét vật khắc ứng, thấy tốt tức là tốt, gặp hung ắt là xấu.
    - Như mây tan thì thấy trời, sự vật đều sáng (tốt), khí sương mù che lấp không trung, vật bị phai mờ (xấu). Thình lình trận cuồng phong làm cho trôi dạt (rối rít) - Gặp Chấn sấm động thì rối loạn, hoảng sợ khống - Mặt trăng thình lình ló dạng, thì trong trẻo sáng suốt - Thốt nhiên mưa thầm nhuần áo, khá nhờ ân trạch (ân huệ).
    Như trên nhận xét Thiên văn mà suy luận vậy.
    - Trùng sơn ngăn cách khó gặp, trùng trạch (ao đầm), nhuần thấm càng sâu; nước chảy sự việc thông; đất dồn chứa lại sự việc dình trệ - Đá cứng bền là nhờ ruột rắn chắc (cứng); cát vải ra thì tay phải xòe; sóng nổi cuộn thì chủ kinh hoàng khốn khổ - Núi sụp lở chủ hao tán thổ điền - Gần kề ao khô cạn, tâm lực kiệt mòn - Đứng dưới cây khô, tướng mạo suy vi.
    Ấy là xét địa lý mà suy nhân sự.
    - Gặp người phẩm giá, là ứng điềm tốt lành - Gặp hiển quan cao tước ắt thấy sự sang trọng - Gặp phú thương đại gia, chớ lo chi tài - Thấy nhi đồng than khóc ắt phải ưu lo cho con cháu - Lại, Tốt (Lại là viên chức, Tốt là binh lính) kêu xôn xao, kỵ nhất là kiện cáo - Hai nam hai nữ là triệu trùng hôn - Nhất đạo nhất tăng là triệu ở riêng một cõi - Phu nhân cười nói, sự vui mừng ngầm sẽ tới - Nữ tử giằng co nhau là triệu bí ẩn (tà gian) thấy lụy - Gặp thợ, chủ cải hoán gia môn - Gặp đồ tể, ắt cốt nhục phân ly - Gặp người săn thú, ắt được ngoại tài đồng áng- Gặp ngư phủ, ắt có lợi về giang biên - Gặp đàn bà chửa thì sự việc trong tâm bộc phát - Gặp người mù thì trong tâm sẵn mối lo buồn.
    Ấy là xem nhân phẩm mà xét nhân sự.
    - Chí như vẫy tay bảo đừng, hoặc lắc đầu chẳng chịu, dụi mắt, sịt mũi, phun nước, phà hơi, hắt hơi, là điềm tang khốc - Gãi đầu búng gàu chắc là có sự lo âu - Chân lay động là dấu hiệu đi - Khoanh hai tay là triệu tổn thất - Co ngón tay lại, là trở tiết danh - Thở ra là sự bi ưu - Le lưỡi ra mà lay động, là chủ sự thị phi - Cùng đâu lưng lại, xem chừng lường gạt giả dối - Vung cánh tay lên, triệu chứng tranh đoạt hơn thua - Hạ chân xuống là triệu khuất phục để cầu xin.
    Ấy là xem sự cử động chư thân gần nhất để ứng vào sự việc.
    Nhược gặp kẻ nào trao sách cho, ắt rắc rối về văn thư, từ tụng - Chủ đánh tớ, phòng bề trên khiển trách - Giảng luận kinh sử, ắt hẳn sự thể đổ vỡ, rạn nứt vì hư khuyết - Hát xướng ngâm nga, mưu sự (đồ mưu) trở thành tán thán (tưng bốc, ca ngợi) - Thấy cờ bạc, chủ tranh đấu về tài - Gặp biên chép, viết lách, chủ động văn thơ - Thấy tay nắm dắt vật gì, là được người giúp việc - Nắm tay lôi kéo, gặp nhiều liên lụy.
    Ấy là ứng vào nhân sự.
    - Gặp lái đò chèo thuyền, ắt gặp được người dẫn đường chỉ lối - Xa mã lên đường là triệu mang trách nhiệm nặng nề đã hết - Dương cung nách tên, ắt được tiến cử tài danh - Có tên không cung, tài danh chưa khá đạt - Cầm đao nắm kiếm ắt được khoái lạc hân hoan - Vạch giáp múa đao đoán chắc binh quyền chi triệu - Thấy ươm tơ, mọi việc rối như vò - Đánh cờ vây (đánh cờ bàn), chỗ chủ yếu phơi bày trước tứ chúng - Trang hoa (trang sức) chạm quả, sự giao kết cuối cùng không trọn - Họa ảnh vẽ hình, đều thuộc loài trang điểm - Kết hợp đều thành (quây, cuốn, chắp nối mối tơ, chỉ) cầu chức vụ càng tốt - Bút mực hiện thấy là triệu cầu văn - Gặp nghiêng dù (nghiêng dù để chào) là chủ thối quyền - Thình lình soi kiến, ắt được chiếu chỉ - Ôm cầm vật quý, ắt được trọng dụng phi thường - Vác cây khiên gỗ, có tài (của) chẳng ít - Gặp đồ đong lường (như cái lít, cái cân chẳng han) phải nên trù liệu tinh tường - Gặp thước kéo nên đắn đo sự việc - (giảm mức độ) - Thấy chân đá, gạt, bị người gạt bỏ khinh khi - Mở khóa cởi vòng, gặp việc ít thông - Thấy sửa chửa đồ vật, ắt lâu chẳng bền - Cầm đá mài kiếng soi, sự việc hai lần mới được - Chơi đùa búa rìu, mài sắt thép, sự việc chậm trễ mới nên - Vung dao chặt cây, thì có thương tài mới được việc - Cắt áo quần trước tổn sau thành - Làm đồ gốm, trước thành sau bại - Đánh cờ bàn, giữ mưu thủ kế - Bủa lưới (giăng lưới) tìm tòi phương sách kế hoạch cũng tất không - Cầm búa cầm cưa ắt sẽ bị thương - Rửa chén, sút bình phòng họa vì uống - Phất quạt thân yêu chiêu đãi chi nghĩa - Bận áo dơ bẩn, đề phòng mưu hại.
    Trên đây là ứng về vật khí, tức xa thì dùng chư vật.
    - Thảo mộc tuy vô hình, nhưng cũng có ứng với khoa chiêm bốc: cỏ Chi, cỏ Lan ứng điềm tốt lành - cây Tùng cây Bá là điềm thọ - Gặp cây Thung, cây Cổi thì sống lâu - Gặp mạ non, nấm thì sớm nở chiều tàn, chiêm sinh sản hoặc bịnh gặp phải triệu này thì chết - Cành lá xác xơ, nhiều nỗi vất vả - Rễ hột rời rạc là liên lụy với người - Thấy bông hoa ấy thực hư hao - Thấy trái quả là có kết quả tốt đẹp.
    Trên đây là ứng vào loài thảo mộc
    - Chí như bay chạy cũng là điềm ứng - Con chim quạ báo tai ương - Nhện giăng báo hỉ - Chim Hồng chim Nhạn chủ bằng hữu chí tín - Rắn hổ mang, phòng mưu độc hại - Chuột cắn áo, phòng tiểu khẩu (gây lộn) - Chim sẻ kêu trên mái nhà, báo tin người đi xa về - Chó cắn nhau phòng đạo tặc - Gà đá nhau, chủ sự ồn ào - Dắt Dê được nhiều khánh hỷ - Cởi ngựa thì buôn bán chi thu có lợi - Khỉ vượn leo cây, thân tâm chẳng yên - Cá gáy nhảy lên khô, sự biến chẳng phải tầm thường - Thấy dây dàng ngựa, bịnh tật chẳng an - Thấy chuồng, lồng muông chim, nhờ cậy người chưa dứt.
    Ấy là ứng về cầm thú.
    - Chí như rượu là món giải phiền, thuốc dùng để giải bịnh, tuy vậy, chén rượu bị bể, là điềm cực lạc sinh bi - Gặp được Y sư giữa đường, nạn trung hữu cứu - Dây sắn, dây bìm, dây bầu, dây mướp là loại ỷ tựa vào người - Dáng điệu hổ báo là vẻ thị oai - Cày ruộng, bừa đất là sự thể loay quay tráo trở - Chẻ tre, rạch nứa. sự thế ắt thuận lợi yên vui - Xuân hoa, Thu nguyệt tuy không thực nhưng có cảnh thái, Hạ cây bông, Đông cây sắn, tuy hữu dụng nhưng trái thời - Cái quạt mỏng, để quạt cho mát, nhưng lắm lúc vô dụng - Cái dù, cái lọng, lúc tạnh ráo thì bỏ suông (không xài) - Ảnh bong bóng (bọt) nước và ánh đèn là triệu hư ảo khó tin - Mạng nhện, kém tằm, xảo kế thành công.
    Trên đây là xem tạp vật ứng
    Xem hình vật tức nhiên biết thể chữ(*).
    - Đá gặp da thì rách, tức là chữ Phò (chữ Phá một bên chữ Thạch là đá, một bên chữ bì là da).
    - Người đứng bên cây là chữ Hưu là vui (chữ hưu một bên có chữ nhân là người, còn bên có chữ mộc là cây.
    - Nón trôi ở ven nước, rõ ràng là chữ Khấp là khóc (chữ khấp một bên có ba chấm thủy tức là ven nước, một bên chữ lập, đọc trại là liệp, tức là cái nón).
    - Lửa vào núi rừng, đốt hình sẽ thấy là chữ Phần là đốt (chữ phần tên có chữ lâm là rừng, dưới chữ hỏa là lửa).
    - Ba cô gái là có gian xảo tà dâm tức là chữ Gian (chữ gian có ba chữ nữ, một trên và hai dưới).
    - Ba trâu là triệu bôn tẩu chi ưu, tức chữ Bôn (chữ bôn có ba chữ ngưu, một trên hai dưới).
    - Một cây hai lửa là triệu quang vinh, tức là chữ Vinh (chữ vinh trên hai chữ hỏa là lửa, giữa chữ nhất và dưới chữ mộc là cây).
    - Một nước bốn cá là tượng góa vợ tức là chữ Quan (chữ quan một bên là chữ ngư là cá, một bên thì chữ tứ là bốn, dưới hết chữ thủy là nước).
    - Người kề trâu lộn ngược đề phòng thất thoát tức là chữ Thất là mất (chữ thất xemg iống chữ ngưu con trâu đảo ngược lên và có chữ nhân là người ở kế).
    - Người nói chó buồn lo ngục tù, tức chữ Ngục (chữ ngục một bên có bộ như chữ nhân đứng tức người, giữa chữ ngôn là nói, bên phải có chữ khuyển là chó)
    - Một cái đấu vào cửa trống, chủ đấu tranh, tức là chữ Đấu (chữ đấu ở ngoài chữ môn là cửa, trong lòng chữ đấu là cái đấu đong lường)
    - Hai sợi tơ đèo cây trắng là triệu sự vui, tức là chũ Lạc (chữ lạc giữa chữ bạch là trắng, hai bên đèo hai bộ mịch là sợi tơ, dưới chữ mộc là cây).
    - Một người đứng trong cửa, mọi việc nên né mình mà tránh, tức là chữ Thiểm (chữ thiểm ngoài chữ môn là cửa, trong lòng có chữ nhân đứng là người đứng).
    - Hai người đứng hai bên cây, là triệu hỏi gì được nấy tức là chữ lai là tới (chữ lai giữa chữ mộc là cây, hai bên có hai chữ nhân là người).
    Trên đây là ứng vào chiết tự chữ Hán.
    Ghi chú: (*) Chữ Hán, đây nói về chiết tự, bây giờ ít dùng nhưng cũng xin dịch để xem cho biết.
    - Chí như tên vật, cũng lấy nghĩa đồng âm mà ứng vào các triệu như: thấy con Lộc (con Hươu) ấy là có lộc - Thấy Phong (con ong) là điềm được thụ phong - Thấy cây Lê là chủ phân biệt - Thấy cây Đào là triệu đào tẩu - Thấy cây Lý chiêm tụng sự đắc lý - Phùng quan (quan là cái mão), cầu quan ắt thành - Thấy hài (là giày, dép), trăm sự hòa giải - Thấy khạp (cái cốc đựng rượu) mọi việc đều hợp.
    Hãy còn nhiều lắm khỏ tả cho hết, mà chỉ cần tại trí biến thông.
    - Lại như xét ở thân ta mà ứng vào sự việc của người, ắt phải hiểu rõ quan hệ khác nhau của lời nói - Tương phản nhau thì lời nói ngượng ngùng - Nghi kỵ nhau thì lời nói chống đối - Người hiền lành êm dịu thì ít nói - Người xao động tính nóng nảy, thì nói nhiều. Nói vu lỗi cho người hiền thì lời nói vu vơ không bằng cớ - Mất đức liêm khiết, chân thật, là lời nói chìu luồn.
    Trên đây là nhất động, nhất tịnh, gần thì lấy chư thân mà ứng vào việc.
    Đã suy luận Ngũ hành, tất phải tinh tường Bát quái quẻ tốt mà ứng cát, thì cát vẹn toàn; quẻ xấu mà ứng hung thì vẹn hung.
    Quẻ và Ứng một tốt, một xấu, thì sự việc phần cát, phần hung.
    Suy rõ Sinh Khắc chi lý, xét rõ động tịnh chi cơ, sự tương quan (có quan hệ với nhau), vật vật tương hợp. Như vậy là cái chân lý của Ngũ hành, Bát quái, Khắc Ứng, Động Tịnh của Dịch, ắt phải do cái linh động hoạt bát của tấc lòng (tâm linh).
    Sự mầu nhiệm của huyền cơ, lại còn do ở thầy truyền, ví phỏng muôn chúng phân vân, duy chỉ có một lý do mà xuyên suốt, sự là do cơ mà nảy sanh, thì tất yếu phải am tường sự việc đang gặp phải.
    Trên đây là cái lý của phép chiêm bốc, mà hay là ở tại người biết biến thông linh diệu.
    Chí như, xưa Phương Sóc, bói mà biết được các vật dấu ẩn khuất; Chư Cát đứng trước ngựa, mà định được cát hung trong giây lát; Hoàng Phủ tự dưng khai phá được cái ảo diệu; Thần Phong giác ngộ nhờ điểu giác. Tuy sở dụng thì có khác nhau, nhưng đồng chung một ý, chẳng khác nhau vậy.
    Tất cả trên đây nói về Tam Yếu linh ứng ky diệu.
    Khá kết hợp ý chí tình của quỷ thần, mà hiệp với linh thuật Thi Quy (cách bói cỏ Thi và vỏ Rùa). Song le, người trong tam thế quá khứ, hiện tại và vị lai chưa thấu rõ sự huyền vi của tâm mà chẳng có thất khiếu (bảy lỗ: tai, mắt, mũi và miệng) cúng chưa giác ngộ được sự diệu lý; cho nên hiểu được thuật, cần phải kín đáo, người chẳng truyền thì không nên truyền, khinh thì làm tiết lậu thiên cơ, trọng thì vướng phải âm trách, gầy đắp sâu rộng thì khá nhập được đạo, áp dụng lâu dài ắt được thần thông.
    Trên đây là bàn về sự kỳ diệu linh ứng, chẳng nên truyền xằng trao lẫn, cần thận trọng sâu kín, để bảo trọng lấy đạo vậy.
     
  20. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    Mục Luận Thập Ứng
    Thập ứng vốn từ Tam yếu mà ra và cũng kỳ diệu như Tam yếu.
    Chỉ cần tai mắt mà có; như thấy triệu cát, chung qui là tốt, như gặp hung sấm (lời sấm) chẳng tránh khỏi sự hung, đó là cái lý tự nhiên vậy.
    Song le, gặp sư cát hung đó, cũng chưa chắc hẳn là như vậy cả đâu; ví như vàng bạc, loài kim là của báu của đời, nhưng đối với Tam yếu thì cần phải có Thập ứng mới phân biệt mà giải thích.
    Gặp vàng và loài kim mà không cho là tốt, là khi nào dùng nó để rèn kiếm luyện binh, thì đời cho là hung khí, theo Tam yếu cũng cho là hung, còn cái thuyết Thập ứng lại cho là tốt.
    Lại như chiêm sản (sanh đẻ), thấy nam nhi thì Tam yếu cho là sinh con tốt, trái lại Thập ứng lại cho là xấu.
    Lại như chiêm bịnh mà thấy áo quan (quan tài) thì Tam yếu lại cho là bịnh nhân phải chết, còn Thập ứng lại cho là tốt (sinh ý).
    Lệ luật nhiều như thế đó, cho nên phép chiêm bốc chẳng khá, không tất ứng (mất sự linh nghiệm) vậy.
    Luận Thập Ứng
    Thập ứng lấy Thể quái làm chủ, các quẻ Dụng làm dụng. Mỗi một lấy Nội quái phân ra ngoại Thể, Dụng quái theo ta mà bàn luận cho tinh vi.
    Nội quái không tốt mà ngoại quái lại tốt thì có thể giải được sự không tốt.
    Nội quái tốt mà ngoại quái không tốt thì nó lại phá hỏng sự tốt.
    Nếu nội ngoại toàn quái tốt tất nhiên tốt, toàn xấu tất xấu.
    Nếu nội tốt, ngoại xấu. Nội xấu ngoại tốt phải suy rõ cái lý mới đoán cát hung, không nên đè chặt phím đàn (hay câu nệ, không biết biến thông) vậy.
    Mục Ngoại quái Thập ứng gồm cả Thiên thời, địa lý chia ra làm 10 loại đều lấy Thể quái làm chủ, rồi tùy sở ứng mà áp dụng.
     

Chia sẻ trang này