Lịch Đại Tổ Sư

Thảo luận trong 'Thần tích vị Thánh khác' bắt đầu bởi Thanh Tùng, 20/2/12.

Lượt xem: 2,579

  1. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm

    [​IMG]




    Đệ Nhất Tổ Ma Ha Ca Diếp

    Đồng Thời Đức Phật



    Ngài dòng Bà-la-môn (Brahmana) ở nước Ma-Kiệt-Đà, cha tên Ẩm-Trạch, mẹ tên Hương-Chí. Thưở bé, Ngài dung nghi trang nhã, toàn thân màu vàng, ánh sáng chiếu rất xa. Thầy tướng xem tướng ngài nói:
    ─ Đứa bé này đời trước có phúc đức thù thắng, lẽ ưng xuất gia
    Cha mẹ Ngài nghe nói lo sợ,cùng nhau thầm bàn (sẽ cưới vợ đẹp để làm nhụt chí của nó). Vừa lớn lên, cha mẹ liền lo chọn người lập gia thất cho ngài, nhưng ngài một bề từ chối, sau cùng bất đắc dĩ ngài phải nói:
    ─ Có người con gái nào thân đồng màu sắc như con, con mới ưng cưới.
    Cha mẹ ngài bèn đúc một tượng vàng, đẩy đi khắp trong nước, tìm người nữ nào giống màu sắc ấy, cưới cho ngài. Quả nhiên, gặp được một cô con gái giống hệt như ngài, thế là ngài phải lập gia đình.
    Bởi đời đức Phật Tỳ Bà Thi (Vipasyin), sau khi Phật Niết-bàn, đại chúng xây tháp thờ Xá-lợi, trong tháp có an trí một pho tượng Phật phết vàng. Lâu ngày pho tượng trên mặt bị lở khuyết. Khi ấy, ngài ca-diếp là thợ đúc vàng, có cô gái nhà nghèo, vì thấy mặt Phật hư khuyết, cô còn một đồng tiền vàng đem đến nhờ Ngài ca-diếp nấu ra để phết lại tượng Phật.Thấy cô phát tâm tu bổ tượng Phật, ngài rất hoan hỷ đứng ra làm chu tất việc này, nhân đó, hai người cùng nguyện đời đời sẽ làm vợ chồng, mà coi như đôi tri-kỷ, chứ không vì tình dục.
    Do phúc báo đó nên 91 kiếp thân thể hai vị đều toàn một màu vàng. Sau sinh cõi Phạm-thiên, hết phúcc cõi Phạm-thiên chết, sinh về cõi này trong nhà Bà-là-môn giàu có hiện tại. Tuy hiện nay hai vị làm vợ chồng, mà sống như tình tri-kỷ, không có ý dâm dục.
    Đến sau, cả hai đều xin cha mẹ xuất gia. Cha mẹ bằng lòng,ngài liền xuất gia làm Sa-môn vào núi tu hạnh Đầu-đà (Dhuta). Một hôm,nhân nghe trong hư không có tiếng bảo:
    ─ Phật đã ra đời, nên đến đó thụ giáo.
    Ngài liền tìm đến tịnh-xá Trúc-Lâm, chí thành đỉnh lễ Phật.
    Phật bảo:
    ─ Lành thay Tỳ-kheo đến đây, hãy cạo bỏ râu tóc đi.
    Ngài liền cạo bỏ râu tóc, thụ giới Tỳ-kheo, mặc y cà-sa. Từ đây, ngài theo Phật hiểu sâu giáo Pháp, tinh tấn tu hành không lúc nào lơi lỏng, cho đến chứng quả A-La-Hán. Có lần ngài từ xa đến ra mắt Phật. Các chúng Tỳ kheo ngồi vây quanh Phật, trông thấy ngài mặc y bằng vải rách, thân hình tiều tụy, có ý thầm khi. Phật biết, bèn bảo:
    ─ Ca-Diếp đến đây! Ta nhường nửa tòa cho ngồi.
    Ngài vẫn không dám ngồi. Phật bảo các Tỳ-kheo:
    Ta có đại từ đại bi, các thiền-định tam-muội và vô lượng công đức để tự trang nghiêm. Tỳ-kheo Ca-Diếp cũng như thế. Do đó, ta nhường nửa tòa cho Ca-Diếp ngồi. Chúng Tỳ-kheo đều dứt tâm ngạo mạn, lại thầm cung kính ngài.
    Một hôm, Phật ở trong hội Linh-sơn, tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ-ngác. Chỉ có ngài đắc ý chúm chím cười (niêm hoa vi tiếu ). Phật bảo :
    ─ Ta có chính Pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu-tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn-tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ chính pháp này, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A-Nan. Thế-Tôn đến trước tháp Đa-Tử gọi Ma-Ha-Ca-Diếp đến chia nửa tòa cho ngồi, lấy y Tăng-Già-Lê quấn vào mình Ca-Diếp, rồi nói kệ phó pháp :
    Pháp bổn pháp vô pháp
    vô pháp pháp diệc pháp
    Kim phó vô pháp thời
    Pháp pháp hà tằng pháp.
    Dịch:
    Pháp gốc pháp không pháp
    Pháp không pháp cũng pháp
    Nay khi trao không pháp
    Mỗi pháp đâu từng pháp.
    Ngài già yếu, Phật nhiều lần khuyên:
    ─ Ca-Diếp tuổi đã già, nên ở một chổ nhận những thức cúng dường của thí chủ, chớ đi khất thực nhọc nhằn.
    Ngài bạch Phật :
    ─ Con tuy già yếu, song không dám ở một chỗ thụ sự cúng dường của thí chủ. Vì sợ e sau này, các Tỳ kheo đời sau sẽ nói :
    ─ Đệ tử lớn của Phật trước kia vẫn ở một chỗ thụ sự cúng dường, rồi họ sinh phóng túng.
    Lúc Phật Niết-bàn tại thành Câu-Thi-Na trong rừng Sa-La, thì ngài đang ở trong động Tất-Bát-La (SthaviRa) trên núi Kỳ-Xà-Quật. Nghe tin Phật Niết-bàn, ngài và 500 đệ tử vội vã hướng về thành Câu-Thi-Na. Đến nơi, đã rước Phật vào kim-quan, ngài buồn bã. Thầy trò đi nhiễu kim-quan ba vòng, rồi đỉnh lễ Phật. Khi ấy, hai bàn chân Phật duỗi ra ngoài kim-quan để an ủi ngài. Ngài vuốt ve hai bàn chân Phật, lòng rất bi thảm.
    Sau khi thiêu thân Phật xong,ngài tuyên bố với chúng Tỳ-kheo:
    ─ Xá-lợi của Phật giao cho trời, người xây tháp thờ làm ruộng phúcc, còn trách nhiệm Tỳ-kheo chúng ta phải lo kết tập kinh điển để lưu lại đời sau.
    Ngài bèn nói kệ :
    Như-Lai đệ tử
    Thả mạc Niết-bàn
    Đắc thần thông giả
    Đương phó kiết tập
    Dịch:
    Đệ tử Như-Lai
    Chớ vội Niết-bàn
    Người được thần thông
    Nên đến kiết tập .
    Thế là, sau Phật Niết-bàn 7 ngày, Ngài triệu tập 500 vị đại A-La-Hán tụ hợp tại núi Kỳ-Xà-Quật, trong động Tất-Bát-La kiết tập. Chỉ có tôn giả A-Nan không được dự hội, vì chưa sạch các lậu, Tôn-giả A-Nan buồn bã, suốt đêm chuyên tâm thiền-định, đến gần sáng liền chứng ngộ, các lậu dứt sạch được quả A-La-Hán .
    Sau đó,tôn giả được mời dự hội. Ngài thưa toàn chúng:
    ─ Tỳ-kheo A-Nan nhớ giỏi bậc nhất, thường theo hầu hạ Như-Lai, nghe pháp Phật nói ghi nhớ không sót, như nước rót vào bình không rơi ngoài một giọt, nên mời kiết-tập tạng Kinh và tạng Luận . Mời Tỳ-kheo Ưu-Ba Ly kiết tập tạng Luật. Toàn chúng đều hoan-hỷ chấp thuận.
    Hội kiết-tập này, Ngài là chủ-tịch. Sau cuộc kiết tập đã viên mãn,nhân duyên độ sinh đã xong xuôi, Ngài thấy tuổi đã già yếu lắm, bèn gọi tôn giả A-Nan đến bảo:
    ─ Khi Như-Lai sắp vào Niết-bàn có dặn ta đem chính pháp nhãn tạng giao phó cho ông. Nay ta sắp ẩn, đúng lúc giao phó cho ông, ông phải khéo gìn giữ chớ để đoạn dứt.

     
    Chỉnh sửa cuối: 20/2/12

    Bình Luận Bằng Facebook

  2. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm

    Đệ Nhị Tổ A Nan

    [​IMG]


    Đệ Nhị Tổ A Nan

    Sinh sau Phật 30 năm


    Ngài con vua Hộc-Phạn, dòng Sát-đế-lợi, ở thành Ca-tỳ-la-vệ, em ruột Đề-bà-đạt-đa, em con nhà chú của Phật Thích Ca. Thuở nhỏ, ngài có nhiều tướng tốt và thông minh tuyệt vời. Đến 25 tuổi xin theo Phật xuất gia.
    Một hôm, Phật cần chọn người làm thị giả, tất cả hội chúng lần lượt đứng ra xin làm thị giả, mà Phật không bằng lòng. Sau cùng, Tôn-giả Đại-Mục-Kiền-Liên nhập định biết tôn ý Phật muốn A-Nan làm thị giả.
    Đại chúng cử Tôn- giả Mục-Kiền-Liên, Xá-Lợi-Phất, v, v…. đến yêu cầu Ngài làm thị giả. Ngài nhiều lần từ chối, song các Tôn-giả một bề nài nỉ buộc lòng Ngài phải xin Phật ba điều, nếu Phật ưng cho, Ngài mới dám làm thị giả.
    1/ Không theo Phật thụ trai riêng, nếu thí chủ không mời ngài.
    2/ Không mặc y thừa của Phật.
    3/ Không đến Phật phi thời.
    Thế-Tôn chẳng những chấp thuận lời xin của Ngài, mà còn khen ngợi Ngài thông minh biết dự đoán trước những điều sẽ xẩy ra. Thế là, Ngài theo làm thị giả Phật ngót 25 năm.
    Một hôm, Ngài đi khất thực về đến tịnh-xá Phật, thấy Di mẫu Ma-ha Ba-Xà-Ba-Đề đang đứng tựa cửa khóc. Di mẫu quần áo bụi bặm, chân dính bùn đất, vẻ người bi thảm. Ngài đến gần hỏi duyên cớ. Biết Bà từ xa tìm đến xin Phật xuất gia, đôi ba phen năn nỉ mà Phật quyết định không cho. Ngài cảm động, vào đỉnh lễ Phật xin cho Bà được xuất gia. Phật vẫn nhiều lần từ chối, Ngài vẫn kiên chí xin kỳ được mới thôi. Thế là mở đầu cho phái nữ xuất gia, chính Ngài là người tích cực khai đường.
    Chính đức Phật đã từng khen Ngài:
    ─ Thị giả của các đức Phật đời quá khứ, không ai hơn A-Nan, thị giả các đức Phật đời vị lai cũng không ai hơn A-Nan.
    Và Phật khen A-Nan được tám điều chưa từng có v.v…
    Sau khi Phật Niết-bàn, Tổ Ca-Diếp triệu tập các đại Tỳ-kheo kiết tập kinh điển, Ngài là người được toàn hội đề cử kiết tập tạng kinh… Khi sắp tụng lại lời Phật, Ngài nhìn qua đại chúng nói kệ:
    Tỳ-kheo chư quyến thuộc
    Ly Phật bất trang nghiêm !
    Du như hư không trung
    Chúng tinh chi vô nguyệt.
    Dịch:
    Tỳ-kheo các quyến thuộc
    Vắng Phật chẳng trang nghiêm !
    Ví như trong hư-không ,
    Nhiều sao mà không trăng.
    Nói kệ xong, Ngài đỉnh lễ đại chúng, lên pháp tòa mở đầu:
    ─ Tôi nghe như thế này, một lúc nọ Phật ở tại xứ….nói kinh…. cho đến trời người v.v…đều kính lễ vâng làm .
    Ngài kiết tập kinh xong Tổ Ca Diếp hỏi đại chúng:
    ─ Đại-Đức A-Nan tụng đọc lại có chỗ nào sai lầm chăng ?
    Đại chúng đồng thanh đáp:
    Chẳng khác những lời đức Thế-Tôn đã nói.
    Một hôm Ngài hỏi Tổ Ca-Diếp:
    ─ Khi Thế-Tôn phú chúc và truyền y kim-tuyến cho sư-huynh, còn có truyền pháp gì riêng nữa chăng ?
    Tổ Ca-Diếp liền gọi:
    ─ A-Nan !
    Ngài ứng thinh:
    ─ Dạ.!
    Tổ Ca-Diếp bảo:
    ─ Cây cột phướng trước chùa ngã. Ngài nhân đây tỏ ngộ.
    Tổ Ca-Diếp bèn ấn chứng và đem chính pháp nhãn-tạng truyền lại cho Ngài. Tổ nói kệ:
    Pháp pháp bổn lai pháp,
    Vô pháp vô phi pháp.
    Hà ư nhất pháp trung,
    Hữu pháp hữu phi pháp
    Dịch:
    Các pháp,pháp xưa nay,
    Không pháp,không phi pháp .
    Tại sao trong một pháp,
    Có pháp,có phi pháp ?
    Ngài đỉnh lễ thọ nhận. Môn đệ của Ngài có hai vị xuất sắc, Thương-Na-Hòa-Tu và Mạc-Điền-Để Ca (Mạc-Điền-Địa). Ngài chọn Thương Na Hòa Tu làm người kế thừa tổ vị và truyền trao y bát lại.
    Cảm thấy thân bèo bọt đã đến thời kỳ hoại diệt, đã tìm được người kế.thừa, Ngài dự định vào Niết-bàn, Ngài đến từ giã vua A-Xà-Thế, song không gặp vua. Ngài liền đi thẳng đến bờ sông Hằng, lên một chiếc thuyền ngồi kiết-già thả trôi lơ lửng giữa dòng sông. Vua A-Xà-Thế hay tin Ngài sắp vào Niết-bàn ở sông Hằng, liền cùng quan quân tùy tùng tìm đến bờ sông. Vua thấy Ngài ngồi trên thuyền ở giữa dòng sông bèn đỉnh lễ nói kệ:
    Khể thủ tam giới tôn,
    Khí ngã như chí thử.
    Tạm bằng bi nguyện lực,
    Thả mạc Bát-niết-bàn.
    Dịch:
    Lạy đấng tôn tam giới,
    Bỏ con đến nơi nầy.
    Tạm nương sức bi nguyện,
    Xin chớ vội Niết-bàn.
    Vua nước Tỳ-Xá-Ly nghe tin cũng đến bên bờ kia sông Hằng, đảnh lễ và nói kệ:
    Tôn giả nhất hà tốc,
    Nhi qui tịch diệt trường !
    Nguyện trụ tu du gian,
    Nhi thọ ư cúng dường.
    Dịch:
    Tôn giả sao quá nhanh,
    Sớm vào nơi tịch diệt !
    Xin tạm dừng chốc lát,
    Để nhận con cúng dường.
    Ngài thấy hai vua đồng đến khuyến thỉnh, bèn nói kệ:
    Nhị vương thiện nghiêm trụ,
    Vật vi khổ bi luyến.
    Niết-bàn đương ngã tịnh,
    Nhi vô chư hửu cố.
    Dịch:
    Hai vua ở an vui,
    Chớ vì thương buồn khổ.
    Niết-bàn, tôi an tịnh,
    Vì không còn các nghiệp.
    Ngài giữ tâm bình đẳng ở giữa dòng sông vào Niết-bàn. Hai vua họp nhau làm lễ thiêu thân Ngài và phân chia xá-lợi xây tháp cúng dường.
     
  3. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm

    Đệ Tam Tổ Thương Na Hòa Tu

    [​IMG]


    Đệ Tam Tổ Thương Na Hòa Tu
    Thế kỷ đầu sau Phật Niết Bàn


    Ngài dòng Tỳ-Xá-Đa nước Ma-Đột-La, cha tên Lâm-Thắng, mẹ là Kiều-Xa-Da. Ngài ở trong thai mẹ sáu năm mới sinh. Tục truyền ở Ấn-Độ khi nào cỏ Thương-Nặc-Ca sinh là có một vị thánh nhân ra đời. Chính khi Ngài lọt lòng mẹ thì thứ cỏ ấy cũng mọc lên, vì thế cha mẹ Ngài đặt tên là Thương-Na-Hòa-Tu.
    Lúc đầu, Ngài xuất gia làm đồ đệ vị tiên ở núi Tuyết. Chính Ngài tu theo pháp tiên đã được thần thông, sau gặp Tổ A-Nan, Ngài hồi đầu trở về chính pháp. Tổ A-Nan, thấy Ngài đã thâm ngộ diệu tâm nên truyền pháp kệ rằng :
    Bổn lai truyền hửu pháp,
    Truyền liễu ngôn vô pháp
    Các các tu tự ngộ
    Ngộ liễu vô vô pháp.
    Dịch :
    Xưa nay truyền có pháp
    Truyền rồi nói không pháp.
    Mỗi mỗi cần tự ngộ
    Ngộ rồi không không pháp.
    Tổ lại dặn:
    ─ Xưa Đức Như-Lai đem đại pháp nhãn này trao cho Ngài Ca-Diếp, Ngài Ca-Diếp trao lại cho ta, nay ta sắp vào Niết-bàn đem trao lại cho ngươi, Ngươi phải khéo gìn giữ truyền trao không để dứt mất.
    Sau khi đắc pháp nơi Tổ A-Nan, Ngài đi đến khu rừng Ưu-Lưu-Trà cất tịnh-xá hoằng hóa Phật-pháp rất hưng thịnh. Chính nơi đây, khi Phật còn tại thế có lần đi giáo hóa ngang khu rừng này, Phật nói với A-Nan:
    Sau khi ta Niết-bàn, khoảng 100 năm, có một Tỳ-kheo tên Thương-Na-Hòa-Tu ở tại khu rừng này hoằng truyền chính pháp
    Thấy cơ duyên hóa đạo đã viên mãn, Ngài đem chính pháp nhãn tạng truyền lại cho đệ tử là Ưu-Ba-Cúc-Đa. Ngài vào núi Bạch-Tượng phía Nam nước Kế-Tân sắp vào Niết-bàn. Nhân trong chánh định Ngài thấy nhóm 500 người đệ tử của Ưu-Ba-Cúc-Đa thường hay lười biếng và khinh mạn, Ngài liền đến cảnh tỉnh họ, khi Ngài đến, Ưu-Ba-Cúc-Đa đi vắng. Ngài lại tòa của Ưu-Ba-Cúc-Đa ngồi, đệ tử Cúc-Đa không biết Ngài là người gì ? Tất cả đều bực tức không phục. Họ chạy báo cho Cúc-Đa hay. Cúc-Đa về đến thấy thầy mình liền đỉnh lễ. Song đệ tử vẫn còn tâm khinh mạn chẳng kính. Ngài lấy tay mặt chỉ lên hư không liền có sữa thơm chảy xuống,
    Ngài bảo Cúc-Đa.:
    ─ Ngươi biết gì chăng .
    Cúc-Đa thưa:
    ─ Chẳng biết. Cúc-Đa bèn nhập chính định để xem xét, cũng không thể hiểu.
    Cúc-Đa thưa:
    ─ Điềm lành này do chính định gì xuất hiện ?
    ─ Đây là chính định Long-Phấn-Tấn. Còn cả năm trăm thứ chính định như thế mà ngươi chưa biết. Chính định của Như-Lai, hàng Bích-Chi không thể biết. Chính định của Bích-Chi, hàng La-Hán không thể biết. Chính định thầy ta là A-Nan, ta cũng không biết. Nay cíánh định của ta, ngươi đâu thể biết. Chính định ấy là tâm không sinh diệt, trụ trong sức đại từ, cung kính lẫn nhau, được thế đó mới có thể biết.
    ─ Đệ tử của Cúc-Đa trông thấy những kỳ-diệu ấy đều kính phục, chí thành sám hối. Ngài lại nói kệ :
    Thông đạt phi bỉ thử
    Chí thánh vô trường đoản
    Nhữ trừ khinh mạn ý
    Tất đắc A-La-Hán.
    Dịch :
    Thông suốt không kia đây
    Chí thành không hay dở
    Ngươi trừ tâm khinh mạn
    Chóng được A-La-Hán.
    Sau đó, Ngài thị tịch bằng cách dùng hỏa quang tam muội thiêu thân. Thầy trò Ưu-Ba-Cúc-Đa thu nhặt xá-lợi xây tháp cúng dường .
     
  4. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm

    Đệ Tứ Tổ Ưu Ba Cúc Đa

    [​IMG]

    Đệ Tứ Tổ Ưu Ba Cúc Đa
    Cuối Thế Kỷ Thứ Nhất Sau Phật Niết Bàn


    Ngài dòng Thủ-Đà-La ở nước Sất-Lợi, cha tên Thiện-Ý. Trước khi sinh Ngài, thân phụ nằm mộng thấy mặt trời vàng xuất hiện trong nhà. Thưở bé Ngài mặt mũi khôi ngô, tính tình thuần hậu, trí huệ minh mẫn
    Khoảng 12 tuổi, Ngài được gặp Tổ Thương-Na-Hòa-Tu đến tận nhà và dạy cho Ngài phương pháp buộc niệm. Nghĩa là mỗi khi khởi nghĩ ác liền bỏ một hòn sỏi đen vào hũ, khi khởi nghĩ lành liền bỏ một hòn sỏi trắng vào hũ. Mỗi tháng đem ra xem xét đen nhiều hay trắng nhiều ; nếu đen nhiều phải cố gắng sửa đổi. Ngài vâng làm như vậy, ban đầu sỏi đen nhiều, dần dần bằng nhau và sau này trắng nhiều.
    Năm 17 tuổi, Ngài xin Tổ Thương-Na-Hòa-Tu xuất gia. Tổ hỏi :
    - Ngươi được bao nhiêu tuổi ?
    Ngài thưa :
    - Bạch thầy, con được 17 tuổi.
    - Thân ngươi 17 tuổi hay tính ngươi 17 tuổi ?
    Ngài hỏi lại :
    - Đầu thầy tóc bạc, vậy tóc thầy bạc hay tâm thầy bạc ?
    Tổ bảo :
    - Tóc ta bạc không phải tâm ta bạc
    - Con cũng thế, thân con được 17 tuổi, không phải tính con 17 tuổi.
    Tổ bèn hoan-hỉ nhận cho xuất gia làm thị giả. Đến 20 tuổi, Ngài thụ giới cụ túc và ngộ đạo. Tổ bảo :
    Xưa Đức Thế-Tôn đem chính pháp vô thượng truyền cho Tổ Ca-Diếp. Tổ Ca-Diếp truyền lại cho thầy của thầy ta là Đức A-Nan, thầy ta truyền cho ta và nay ta truyền lại cho ngươi chính pháp này. Ngươi cố gắng hộ trì đừng để đoạn dứt. Hãy nghe bài kệ đây :

    Phi pháp diệc phi tâm,
    Vô tâm diệc vô pháp.
    Thuyết thị tâm pháp thời,
    Thị pháp phi tâm pháp

    Dịch :

    Phi pháp cũng phi tâm,
    không tâm cũng không pháp ,
    Khi nói tâm pháp ấy,
    Pháp ấy phi tâm pháp.

    Khi, Ngài đến nước Ma-Đột-La, Ngài cảm hóa rất đông dân chúng qui hướng Phật pháp, có nhiều người đã chứng đạo quả. Có những khi Ngài thuyết pháp, chư thiên rải hoa, quả đất rung động, khiến cung ma cũng bị chấn động. Vua ma-ba-tuần sợ e Phật-giáo thịnh hành thì bè đảng của chúng bị tiêu diệt, nên quyết dùng hết thần lực phá hoại Phật-pháp. Ma bèn hiện các ngọc nữ đến làm nhiễu loạn tâm thanh giả. Ngài liền nhập định để quán sát nguyên do, Được cơ hội thuận tiện, ma đem vòng chuỗi anh-lạc quàng vào cổ Ngài. Xuất định, Ngài dùng thần lực biến ba thây chết -người, chó, rắn – thành một tràng hoa đẹp. Ngài dùng lời diệu ngọt bảo ma :
    Ngươi sẵn lòng tốt đem chuỗi anh-lạc rất quí tặng ta, giờ ta biếu lại ngươi tràng hoa đẹp này, gọi là thù tạc nhau.
    Vua ma nghe rất mừng, đưa cổ nhận tràng hoa. Tràng hoa tròng vào cổ giây lát hóa thành thây thối, giòi tửa ghê tởm. Vua ma kinh sợ gớm chán, muốn cởi ra mà cởi không được, dùng hết thần lực cũng không cởi nổi. Túng thế, vua ma chạy lên cõi trời Dục cầu cứu với vua Trời, rốt cuộc không kết quả. Lần lượt vua ma cầu cứu đến Trời Phạm. Vua các Trời đều bảo :
    - Pháp ấy là do đệ tử Phật biến hóa ra, chúng ta còn phàm lậu làm sao trừ được.
    Vua ma nghe phán như vậy lại hỏi :
    - Thế thì làm thế nào gỡ ra ?
    Vua Trời nói kệ :

    Nhược nhân địa đảo,
    Hoàn nhân địa khởi.
    Ly địa cầu khởi,
    Chung vô kỳ lý.

    Dịch :

    Nếu nhân đất ngã,
    Phải nhờ đất dậy.
    lìa đất muốn dậy,
    Trọn không lý ấy.

    Vua ma nhận lời dạy, rời khỏi cung Trời trở về chỗ Ngài Ưu-Ba-Cúc-Đa chí thành lễ tạ sám hối. Ngài bảo:
    -Thánh trước dạy ta hàng phục ngươi. Tuy vậy, nếu ngươi biết cải thiện là được thờ phụng Phật, khỏi sa vào đường dữ.
    Vua ma nghe dạy vui vẻ thưa:
    - Tôn-giả vì con làm lợi ích lớn, cúi xin Tôn-giả cởi vòng thây thốii dùm con .
    Ngài dạy:
    - Vậy ngươi phải quỳ gối chấp tay tự xướng ba lần quy-y tam bảo đi. Vua ma quỳ gối chấp tay xướng ba lần quy-y tam bảo xong, thì vòng thây thốii biến mất. Vua ma vui mừng nhảy nhót đỉnh lễ Ngài nói kệ:

    Khể thủ tam muội tôn,
    Thập lực đại từ túc.
    Ngã kim nguyện hồi hướng,
    Vật linh hữu liệt nhược.

    Dịch :

    Cúi lạy chính-định tột,
    Đủ mười lực đại từ.
    Nay con xin hồi hướng,
    Không còn tính yếu hèn.


    Sau khi quy-y tam bảo xong, Ngài bảo vua ma:
    - Xưa ngươi thường thấy Như-Lai, giờ đây hiện thử cho ta xem.
    Vua ma thưa:
    - Hiện việc xưa không khó, chỉ xin Tôn-giả trông thấy đừng lễ.
    Vua ma liền vào rừng ẩn mất. Chốc lát bỗng thấy Phật từ mé rừng đi ra oai nghi nghiêm chỉnh, theo sau đoàn Tỳ-kheo 1250 vị. Ngài vừa trông thấy, bất giác cúi mình đỉnh lễ. Ma hoảng kinh biến mất. Lúc hóa đạo, mỗi khi giáo hóa một người thâm ngộ Phật-pháp Ngài để vào thất đá một thẻ tre. Ngôi thất ấy bề dài 18 thước tay bề ngang 12 thước tay. Thế mà một thời gian thẻ tre đầy chật cả thất. Sau cùng, Ngài độ ông Hương-Chúng con một vị trưởng giả và truyền chính pháp lại cho ông này. Nhân thân phụ ông Hương-Chúng mộng thấy mặt trời vàng xuất hiện trong nhà, nên Ngài đổi hiệu là Đề-Đa -Ca. Đã có người kế thế và nhân duyên hóa đạo đã xong. Ngài từ biệt đại chúng, Ngồi kiết già thị-tịch. Đề-Đa-Ca và môn đệ mở cửa thất đá lấy thẻ tre làm vật liệu thiêu Ngài., thiêu xong lượm xá-lợi xây tháp cúng dường .
     
    Chỉnh sửa cuối: 20/2/12
  5. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm

    Đệ Ngũ Tổ Đề Đa Ca

    [​IMG]


    Đệ Ngũ Tổ Đề Đa Ca
    Đầu thế kỷ thứ hai sau Phật Niết Bàn


    Ngài tên Hương-chúng ở nước Ma-Già-Đà. Nhân thân phụ Ngài nằm mộng thấy mặt trời vàng ánh xuất hiện trong nhà, chiếu sáng khắp cả. Lại thấy phía trước hiện ra một hòn núi lớn, trang nghiêm bằng bảy báu, trên đỉnh núi có dòng suối, nước chảy trong veo, tràn khắp bốn phía. Sau đó, thân mẫu sinh ra Ngài.
    Ngài gặp Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa bèn đem điềm mộng của cha thuật lại và nhờ giải hộ. Tổ giải:
    -Núi báu là thân ta, suối nước tuôn ra là pháp vô tận, mặt trời xuất hiện trong nhà là tướng ngươi vào đạo, ánh sáng chiếu khắp là trí tuệ siêu việt của ngươi.
    Ngài nghe giải xong, vui mừng khắp khởi xướng kệ rằng :

    Nguy nguy thất bảo sơn,
    Thường xuất trí huệ tuyền.
    Hồi vi chân pháp vị,
    Năng độ chư hữu duyên.
    Dịch :
    Vời vợi núi bảy báu,
    Thường tuôn suối trí huệ.
    Chuyển thành vị chân pháp,
    Hay độ ngưòi có duyên
    Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa cũng nói kệ đáp :

    Ngã pháp truyền ư nhữ,
    Đương hiện đại trí huệ .
    Kim nhật tùng ốc xuất,
    Chiếu diệu ư thiên địa .
    Dịch :

    Pháp ta truyền cho ngươi,
    Sẽ hiện trí-huệ lớn .
    Mặt trời mọc trong nhà,
    Chiếu sáng khắp trời đất .
    Ngài nghe kệ rồi, xin theo Tổ xuất gia học đạo. Thấy Ngài ứng đối lanh lẹ, trí-huệ minh đạt, Tổ hoan hỷ chấp nhận cho xuất gia làm đệ-tử. Một hôm, Tổ gọi Ngài bảo: Như-Lai đem đại pháp nhãn tạng trao cho Đại-Ca-Diếp, lần lượt trao truyền cho đến ta, nay ta trao lại cho ngươi. Hãy nghe kệ đây:

    Tâm tự bổn lai tâm,
    Bổn tâm phi hữu pháp.
    Hữu pháp hữu bổn tâm,
    Phi tâm phi bổn pháp.
    Dịch :

    Tâm tự xưa nay tâm,
    Bổn tâm chẳng có pháp.
    Có pháp có bổn tâm,
    Chẳng tâm chẳng bổn pháp
    Ngài thành kính nhận lãnh chính pháp. Sau, Ngài sang Trung-Ấn giáo hóa. Nơi đây có tám ngàn vị đại tiên, dưới sự lãnh đạo của đại tiên Di-Dá-Ca. Nghe Ngài đến đây, Di-Dá-Ca vân tập tiên chúng đến yết kiến Ngài.
    Gặp Ngài, Di-Dá-Ca thưa:
    - Xưa tôi cùng Thầy đồng sinh cõi trời Phạm-Thiên. Tôi gặp tiên A-Tư-Đà truyền cho pháp tiên. Thầy gặp đệ tử Phật hướng dẫn tu tập thiền định. Từ đó, cách nhau đã đến sáu kiếp.
    Ngài bảo:
    - Lời tiên nhân đã nói đúng như vậy. Song, ông chuyên về pháp tiên tột cùng sẽ đến đâu ?
    Di-Dá-Ca thưa:
    - Tôi tuy chưa gặp bậc chí thánh, song tiên A-Tư-Đà thường thụ ký rằng: "Sáu kiếp về sau, tôi sẽ nhờ bạn đồng học mà được chứng quả giải thoát. Nay gặp nhau đây đâu không đúng như vậy ư ?"
    Ngài bảo:
    - Ông đã biết như vậy thì cần phải xuất gia, pháp tiên là đường nhỏ, không thể đưa người đến giải thoát. Ta hóa đạo đã lâu, cũng muốn dừng nghỉ. Nếu ông thật thú hướng về đại pháp thì không nên chậm trễ.
    Di-Dá-Ca nghe nói vui mừng liền xin xuất gia. Ngài độ cho ông xuất gia thụ giới.
    Lúc đó, tiên chúng theo Di-Dá-Ca thấy vị tiên trưởng của mình làm như vậy, rất bất mãn. Họ nói thầm với nhau rằng: "Đề-Đa-Ca đâu đủ sức làm thầy mình mà theo xuất gia".
    Ngài biết tâm họ, muốn gây cho họ có niềm tin, liền phóng quang sáng chiếu, chân đi trên hư không như người đi trên đất bằng, lại hóa cây dù báu che khắp chúng tiên, nơi ngón tay sữa thơm tuôn ra, trong sữa hiện lên một hoa sen, trong hoa sen hóa ra Đức Phật.
    Chúng tiên trông thấy thần biến phi thường, bèn cúi đầu xin xuất gia. Tôn giả hoan hỷ chấp nhận.
    Thấy cơ duyên hóa độ đã viên mãn, Ngài truyền pháp lại cho Di-Dá-Ca, rồi thu thần tịch diệt.
    Di-Dá-Ca và đồ chúng thiêu hài cốt Ngài, thu lượm xá-lợi xây tháp tại núi Ban-Trà thờ phụng cúng dường.
     
  6. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm

    Đệ Lục Tổ Di Dá Ca

    [​IMG]

    Đệ Lục Tổ Di Dá Ca
    Đầu thế kỷ thứ ba sau Phật Niết Bàn

    Ngài người Trung-Ấn, không rõ họ gì. Ngài cùng chúng tiên thụ giáo xuất gia với Tổ Đề-Đa-Ca. Sau đó, Ngài tu hành chứng được quả thánh. Khi sắp tịch, Tổ Đề-Đa-Ca gọi Ngài lại bảo:
    -Xưa Như-Lai thầm trao đại pháp nhãn cho Đại-Ca-Diếp lần lượt truyền trao đến ta, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải gìn giữ truyền trao chớ dứt. Nghe ta nói kệ :

    Thông đạt bổn tâm pháp,

    Vô pháp vô vi pháp .

    Ngộ liễu đồng vị ngộ,

    Vô tâm diệc vô pháp .
    Dịch :

    Thông đạt pháp bổn tâm,

    Không pháp không phi pháp

    Ngộ rồi đồng chưa ngộ,

    Không tâm cũng không pháp .
    Sau khi được pháp, Ngài du hóa các nơi tùy căn cơ giáo hóa chúng sinh. Một hôm, Ngài đến Bắc-Ấn chợt thấy trên thành có vầng mây màu vàng. Ngài ngó sang những người bên cạnh bảo :
    -Đây là vượng khí đại thừa. Trong thành này sẽ có bậc chí nhân nối pháp cho ta .
    Khi đi vào trong thành đến chợ, quả gặp người tay ôm bầu rượu, đón Ngài hỏi :
    - Tôn-giả từ phương nào đến, muốn đi về đâu ?
    Ngài đáp :
    -Ta từ tâm mình đến, muốn đi không chỗ.
    – Tôn-giả biết vật trong tay tôi chăng ?
    Đây là đồ đựng vật làm mất thanh tịnh.
    – Tôn-giả biết tôi chăng ?
    – Tôi thì chẳng biết, biết thì chẳng tôi
    Ngài lại bảo :
    - Ngươi hãy nói tên họ ra, ta sẽ chỉ nhân đời trước cho ngươi. Người ấy bèn nói kệ :

    Ngã kim sinh thử quốc,

    Phục ức tích thời nhật .

    Bản tính Phả-La-Đọa,

    Danh tự Bà-La-Mật.

    Dịch :

    Nay tôi sanh nước này,

    Lại nhớ ngày xa xưa

    Dòng họ Phả-La-Đọa,

    Tên là Bà-La-Mật
    Ngài nghe rồi nhớ lại duyên trước, bèn bảo Bà-Tu-Mật :
    - Thầy ta là Đề-Đa-Ca thường nói : "Xưa kia Như-Lai du hóa Bắc-Ấn có báo A-Nan: Sau khi ta diệt độ khoảng ba trăm năm, ở nước này sẻ có vị thánh nhân ra đời, họ Phả-La- Đọa tên Bà-Tu-Mật, làm vị Tổ thứ bảy của Thiền-Tông . Đây là Như-Lai thụ ký cho ngươi, ngươi nên xuất gia."
    Bà-Tu-Mật liền để bầu rượu xuống, đỉnh lễ Ngài. Đỉnh lễ xong, đứng qua một bên thưa :
    - Con nhớ lại kiếp xưa thường làm thí chủ cúng dường Phật một bảo tòa. Như-Lai thọ ký cho con rằng : "Ngươi ở hiền kiếp sẽ được Phật-pháp làm Tổ thứ bảy". Nay gặp gỡ đây là cái duyên trước vậy, cúi xin Tôn giả đại từ thương xót độ thoát cho con. Ngài liền vì ông cho cạo tóc xuất gia và thụ đầy đủ giới pháp. Thấy tuổi đã già và cơ duyên hóa độ cũng xong,
    Ngài truyền chính pháp lại cho Bà-Tu-Mật. Truyền xong, Ngài thu thần tịch diệt. Bà-Tu-Mật và môn đồ lượm xá-lợi để vào bình báu, xây tháp cao tôn thờ trên tầng chót để mọi người cúng dường.







    ---------- Post added at 02:02 PM ---------- Previous post was at 01:57 PM ----------


     
  7. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm

    Đệ Thất Tổ Bà Tu Mật

    [​IMG]



    Đệ Thất Tổ Bà Tu Mật
    Cuối thế kỷ thứ ba sau Phật Niết Bàn


    Ngài họ Phả-La-Đọa sinh trưởng tại miền Bắc-Ấn. Khi còn tại gia, Ngài thường mặc đồ sạch sẽ, tay cầm bầu rượu, đi dạo chơi trong xóm làng, có khi Ngài ngâm thơ thổi sáo, người thường không sao hiểu nổi, họ bảo Ngài là người điên. Sau khi gặp Tổ Di-Dá-Ca nói lại lời huyền ký Như-Lai, Ngài liền tỉnh ngộ tiền duyên, ném bầu rượu phát nguyện xuất gia. Theo Tổ tu hành, Ngài ngộ được tâm tông. Một hôm,Tổ Di-Dá-Ca gọi Ngài căn dặn:
    -Công hạnh của ta gần viên mãn,chính pháp nhãn tạng này trao lại cho ngươi, ngươi phải ân cần gìn giữ chớ để đoạn diệt. Hãy nghe kệ đây :

    Vô tâm vô khả đắc,


    Thuyết đắc bất danh pháp.


    Nhược liễu tâm phi tâm,


    Thủy giải tâm tâm pháp.



    Dịch :

    Không tâm không thể được,


    Nói được chẳng gọi pháp


    Nếu rõ tâm phi tâm,


    Mới hiểu tâm tâm pháp.



    Sau khi Tổ Di-Dá-Ca nhập Niết-bàn, Ngài đi hoằng pháp khắp nơi, tuyên dương chính pháp. Khi đến nước Ca-Ma-La
    Ngài lên pháp tòa giảng đạo,có một trí sĩ đến dưới tòa lớn tiếng tự xưng:
    -Tôi là Phật-Đà-Nan-Đề, hôm nay quyết luận nghĩa với thầy.
    Ngài bảo:
    - Này nhân giả! Nếu luận thì chẳng phải nghĩa, nếu nghĩa thì chẳng phải luận. Nếu nghĩ luận nghĩa, trọn chẳng phải nghĩa luận.
    Nan-Đề biết đây là người nói nghĩa thù thắng, khởi tâm kính phục, thưa rằng:
    - Con nguyện cầu đạo,được thưởng thức vị cam lồ.
    Ngài thương xót liền cho xuất gia thụ giới, không bao lâu truyền pháp cho Nan-Đề. Đã có người thừa kế, Ngài dự định vào Niết-bàn. Ngài liền nhập từ tam-muội để vào tịch định. Lúc đó,Đế-Thích,Phạm-Vương cùng chư thiên đồng đến đỉnh lễ,nói kệ :

    Hiền kiếp thánh chúng Tổ,


    Nhi đương đệ thất vị.


    Tôn giả ai niệm ngã,


    Thỉnh vị tuyên Phật địa.



    Dịch :

    Hiền kiếp các thánh Tổ,


    Ngài là vị thứ bảy,


    Tôn giả thương xót con,


    Thỉnh vì nói Phật địa .



    Ngài xuất định nói với họ rằng :
    - Pháp ta đã được là không phải có. Nếu muốn biết Phật-địa phải lìa có và không.
    Nói xong, Ngài vào tịch định thị hiện tướng Niết-bàn. Chư thiên nghe rồi hoan hỷ tán hoa trời,đỉnh lễ. Nan-Đề cùng đồ chúng trà tỳ thân Ngài, rồi lượm xá-lợi xây tháp cúng dường .
     
  8. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm

    Đệ Bát Tổ Phật Đà Nan Đề

    [​IMG]


    Đệ Bát Tổ Phật Đà Nan Đề
    Đầu thế kỷ thứ tư sau Phật Niết Bàn


    Ngài họ Cù-Đàm, người nước Ca-Ma-La. Thuở nhỏ trên đỉnh Ngài có cục thịt nổi cao, thường phát ra hào quang năm sắc xen lẫn. Ngài thông minh tuyệt vời, chữ nghĩa một phen xem qua là ghi nhớ. Năm 14 tuổi, Ngài phát tâm xuất gia chuyên dùng hạnh thanh tịnh để tự tu. Khi Tổ Bà-Tu-Mật đến nước Ca-Ma-La, Ngài đến vấn nạn, nhân đó kính phục xin theo làm đệ tử. Tổ sắp Niết-bàn, gọi Ngài đến phó chúc rằng :
    -Chính pháp nhãn tạng của Như-Lai, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải truyền bá chớ để đoạn dứt, Nghe ta nói kệ:

    Tâm đồng hư không giới,
    Thị đằng hư không pháp.
    Chứng đắc hư không thời,
    Vô thị vô phi pháp

    Dịch :

    Tâm đồng hạn hư không,
    Chỉ pháp bằng thái hư.
    Khi chứng được hư không,
    Không pháp, không phi pháp

    Ngài vâng giữ phụng trì. Sau khi đắc pháp, Ngài thống lĩnh đồ chúng du hóa khắp nơi. Đến nước Đề - Già, Ngài đi qua cổng nhà họ Tỳ-Xá-La, chợt thấy trên nóc nhà có hào quang trắng xông lên hư không. Ngài chỉ chúng xem và bảo:

    -Trong nhà này hiện có một vị thánh nhân, tuy miệng không nói một lời, chân không đi một bước, mà thật là bậc căn khí đại thừa. Dù không ra ngoài đường mà biết việc xúc uế. Quả là người nối pháp cho ta, khiến Phật-pháp hưng thịnh. Vị này, sau sẽ độ được năm trăm người chứng quả thánh.
    Ngài nói xong,có người trưởng giả trong nhà bước ra làm lễ thưa:

    – Tôn-giả cần điều gì dừng lại đây ?

    Ngài bảo:

    - Ta đến tìm người thị giả,chứ không cần gì.

    Trưởng giả thưa: Nhà tôi đâu có người kỳ đặc mà Ngài tìm, chỉ có đứa con trai tên Phục-Đà-Mật-Đa không biết nói, không biết đi, tuổi đã năm mươi, nếu Ngài cần tôi cho, không tiếc.

    Ngài bảo:

    - Đứa con ông nói, chính là người tôi tìm. Trưởng giả thỉnh Ngài vào nhà. Phục-Đà-Mật-Đa vừa trông thấy Ngài liền ngồi dậy, chắp tay nói kệ:

    Phụ mẫu phi ngã thân,
    Thùy vi tối thân giả ?
    Chư Phật phi ngã đạo,
    Thùy vi tối đạo giả ?

    Dịch
    :

    Cha mẹ chẳng phải thân,
    Ai là người chí thân ?
    Chư Phật phi đạo tôi,
    Cái gì là tột đạo ?

    Ngài nói kệ đáp:

    Nhữ ngôn dữ tâm thân,
    Phụ mẫu phi khả tỷ,
    Nhữ hạnh dữ đạo hiệp,
    Chư Phật tâm tức thị,
    Ngoại cầu hữu tướng Phật,
    Dữ nhữ bất tương tợ,
    Nhược thức nhữ bổn tâm,
    Phi hiệp diệc phi ly .

    Dịch :

    Lời ngươi cùng tâm thân,
    Cha mẹ không thể sánh,
    Hạnh ngươi cùng đạo hiệp,
    Chư Phật chính là tâm,
    Ngoài cầu Phật có tướng,
    Cùng ngươi không chút giống,
    Nếu biết bản tâm ngươi,
    Chẳng hiệp cũng chẳng lìa .

    Mật-Đa nghe bài kệ xong rất hoan hỷ, bước xuống đỉnh lễ Ngài và đi bảy bước, một lòng thành khẩn xin xuất gia
    Ngài chấp nhận cho xuất gia,liền triệu tập chúng hiền thánh làm lễ truyền giới cụ túc. Sau đó,Ngài lại dặn dò Mật-Đa:
    - Pháp nhãn của Như-Lai thầm truyền đến đời ta, nay ta trao lại cho ngươi, ngươi nên truyền trao chớ đoạn dứt.
    Nghe ta nói kệ :

    Hư không vô nội ngoại,
    Tâm pháp diệc như thử,
    Nhược liễu hư không cố,
    Thị đạt chân như lý.

    Dịch :

    Hư không chẳng trong ngoài,
    Tâm pháp cũng như thế,
    Nếu hiểu rõ hư không,
    Là đạt lý chân như .
    Mật-Đa hân hạnh được truyền pháp vui mừng vô hạn, liền nói kệ khen ngợi :

    Ngã sư thiền Tổ trung,
    Thích đương vi đệ bát,
    Pháp hóa chúng vô lượng,
    Tất hoạch A-La-Hán .

    Dịch :

    Thầy tôi trong thiền Tổ,
    Hiện là vị thứ tám,
    Giáo hóa chúng không cùng,
    Thảy được quả La-Hán .
    Ngài truyền pháp xong, sắp vào Niết-bàn. Hôm ấy đang ngồi trên bản tòa, Ngài an nhiên thị tịch. Số chúng Ngài độ có đến năm trăm vị chứng nhị quả. Toàn chúng trà tỳ hài cốt Ngài, lượm xá-lợi xây bảo tháp tôn thờ .


    ---------- Post added at 12:34 AM ---------- Previous post was at 12:24 AM ----------




    ---------- Post added at 12:35 AM ---------- Previous post was at 12:34 AM ----------


     
    Chỉnh sửa cuối: 23/2/12
  9. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm




    [​IMG]


    Đệ Cửu Tổ Phục Đà Mật Đa
    Cuối thế kỷ thứ tư sau Phật Niết Bàn

    Ngài họ Tỳ-Xá-La ở nước Đề-Già. Từ lọt lòng mẹ đến năm mươi tuổi chưa từng nói một lời, chưa từng đi một bước. Cha mẹ nghĩ không biết vì nhân duyên gì mà Ngài như vậy? Đến gặp Tổ Phật-Đà-Nan-Đề nói duyên đời trước rằng :
    - Đứa bé này đời trước thông minh lắm,ở trong Phật pháp do lòng đại bi muốn làm lợi ích lớn cho chúng sinh, cho nên thường nguyện :" Nếu tôi sinh chỗ nào không bị tình phụ tử ràng buộc, tùy duyên lành kia liền được giải thoát, miệng nó không nói là tiêu biểu đạo không tịch. Chân nó không đi là tiêu biểu pháp không đến đi.
    Cha mẹ Ngài nghe lời giải thích của Tổ sạch hết nghi ngờ, vui vẻ cho theo Tổ xuất gia.Sau khi đắc pháp, Ngài du hóa khắp nơi, sang Trung-Ấn giáo hóa. Nơi đây có ông trưởng-giả tên là Hương-Cái. Ông này có người con trai tên Nan-Sinh. Ông trưởng-giả Hương-Cái dẫn con đến yết kiến Ngài. Đỉnh lễ xong, ông trưởng-giả thưa :
    - Thằng bé này ở trong thai mẹ ngót sáu mươi năm, do đó tôi đặt tên là Nan-Sinh. Có một tiên đến xem tướng nó, rồi nói:" Thằng nhỏ này hẳn là tướng phi phàm, sẽ làm pháp khí đại thừa, sau gặp Bồ-Tát hóa độ Bởi có duyên lành nên nay được gặp Ngài, tôi nguyện cho nó theo Ngài xuất gia học đạo. Ngài hoan hỷ nhận cho Nan- Sinh xuất gia thụ giới. Trong buổi lễ xuất gia thụ giới bỗng có ánh sáng mát chiếu khắp chổ Nan-Sinh ngồi. Cơ duyên hóa độ sắp viên mãn, Ngài kêu Nan-Sinh lại dặn dò :
    - Đại pháp nhãn tạng của Như-Lai, nay ta trao cho ngươi, Ngươi phải gìn giữ truyền trao đừng cho đoạn dứt. Ngươi nhận lời ta dạy, hãy nghe kệ đây :

    Chân lý bổn vô danh,
    Nhân danh hiển chân lý,
    Thụ đắc chân thật pháp,
    Phi chân diệc phi ngụy.

    Dịch
    :

    Chân lý vốn không tên,
    Nhân tên bày chân lý,
    Nhận được pháp chân thật,
    Chẳng chân cũng chẳng ngụy.
    Nói kệ xong, Ngài bèn vào chính định hiện tướng Niết-bàn. Chư thiên trỗi nhạc cúng dường. Nan-Sinh cùng đồ chúng dùng dầu thơm gỗ chiên đàn làm lễ hỏa táng chân thể của Ngài. Hỏa táng xong lượm xá-lợi về tôn thờ nơi chùa Na-Lan-Đà .
     
    Chỉnh sửa cuối: 23/2/12
  10. Thanh Tùng

    Thanh Tùng Thành viên Bị cấm

    Đệ Thập Tổ Hiếp Tôn Giả

    [​IMG]

    Đệ Thập Tổ: Tổ Hiếp-Tôn-Giả
    Đầu thế kỷ thứ năm sau Phật Niết-bàn

    Ngài tục danh là Nan-Sinh, người Trung-Ấn. Thân mẫu mang thai đến 60 năm mới sinh ra Ngài. Lúc Ngài sắp sinh, Thân phụ nằm mộng thấy một con voi trắng to trên lưng có chở một bảo tọa, trong bảo tọa có hạt minh châu, từ ngoài cửa đi vào chiếu sáng khắp nhà. Ông giật mình tỉnh giấc thì Ngài ra đời.
    Sau gặp Tổ Phục-Đà-Mật-Đa độ cho xuất gia. Được xuất gia rồi, Ngài cần mẫn tu học cho đến quên ăn bỏ ngủ, suốt ngày đêm chưa từng đặt lưng xuống chiếu,như thế mãi cả đời. Vì thế thời nhân gọi Ngài là Hiếp-Tôn-Giả (Tôn-giả hông không dính chiếu ). Lãnh thụ chính pháp xong, Ngài đi vân du các nơi tùy cơ giáo hóa. Đến nước Hoa-Thị, Ngài tạm nghỉ dưới cây đại thụ. Khi ấy, Ngài lấy tay chỉ xuống đất bảo chúng :
    - Khi nào đất này biến thành màu vàng, sẽ có một thánh nhân vào hội. Ngài vừa nói dứt lời, đất liền biến thành màu vàng. Chốc lát có một thanh niên con nhà giàu tên Phú-Na-Dạ-Xa đến trước Ngài đứng chắp tay, Ngài hỏi :
    - Ngươi từ đâu đến ?
    Thanh niên thưa :
    - Tâm con chẳng phải đến.
    – Ngươi dừng chổ nào ?
    – Tâm con chẳng phải dừng.
    - Ngươi chẳng định sao ? – Chư Phật cũng thế. –Ngươi chẳng phải chư Phật. –Chư Phật cũng chẳng phải. Ngài nhân đó nói bài kệ :

    Thử địa biến kim sắc,
    Dự tri ư thánh chí,
    Đương tọa bồ-đề thụ,
    Giác hoa nhi thành dĩ.

    Dịch :

    Đất này hóa sắc vàng,
    Biết có thánh nhân sang,
    Ngồi dưới cây bồ-đề,
    Hoa giác nở hoàn toàn .

    Phú-Na-Dạ-Xa cũng đọc bài kệ:

    Sư tọa kim sắc địa,
    Thường thuyết chân thật nghĩa,
    Hồi quang nhi chiếu ngã,
    Linh nhập tam-ma-đề .
    Dịch :
    Thầy ngồi đất sắc vàng,
    Thường nói nghĩa chân thật,
    Xoay ánh sáng chiếu con,
    Khiến vào nơi chính định .
    Ngài biết ý Phú-Na-Dạ-Xa lòng cầu đạo rất thiết tha, nên độ cho xuất gia và truyền giới cụ túc. Một hôm, Ngài gọi Phú-Na bảo :
    - Đại pháp nhãn tạng của Như-Lai, nay trao cho ngươi, ngươi phải khéo lưu truyền chớ để dứt mất. Hãy nghe ta nói kệ :

    Chân thể tự nhiên chân,
    Nhân chân thuyết hữu lý,
    Lãnh đắc chân chân pháp,
    Vô hành diệc vô chỉ

    Dịch :

    Chân thể đã sẵn chân,
    Bởi chân nói có lý,
    Hội được pháp chân nhân,
    Không đi cũng không dừng .

    Truyền pháp xong, Ngài ngay nơi chỗ ngồi thị hiện các tướng rồi vào Niết-bàn. Hỏa táng thân Ngài xong có xá-lợi nhiều vô số, chúng phải lấy y bọc đem về kính thờ cúng dường .
     

Chia sẻ trang này