Hát xẩm – bức tranh âm nhạc dân tộc

Thảo luận trong 'Hát Xẩm' bắt đầu bởi Tú bờm, 30/10/12.

Lượt xem: 2,294

  1. Tú bờm

    Tú bờm New Member

    Nếu cây đàn Bầu được coi là tiếng đàn dân tộc, dung dị và gần gũi với đời sống người dân Việt thì Xẩm được coi là thể loại âm nhạc dân dã mang đậm bản sắc thôn quê đất Việt. Cuộc bình chọn này gần như có sự liên kết sâu chuỗi với nhau, bởi ca từ của Xẩm hòa cùng thanh âm của cây đàn Bầu đã tạo nên một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo – hát Xẩm.

    “Ai ơi thương kẻ dở dang
    Miệng ca tay gẩy khúc đàn tương tư”

    Ở nhiều vùng thuộc Miền Bắc Việt Nam như Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Phòng…từ xa xưa, người khiếm thị đã đưa Xẩm trở thành một nghề để kiếm sống; một loại hình nghệ thuật mang nhiều giá trị nhân văn, thể hiện mọi cung bậc tình cảm, đôi khi pha chút hài hước, ai oán, lạc quan gắn liền với thời cuộc xã hội đương thời.

    Tìm hiểu chung về sự ra đời của Xẩm

    Từ khi ra đời hát Xẩm được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như hát rong, hát dạo….và, những người biểu diễn được gọi với tên rất thân mật như bác Xẩm, anh Xẩm, chị Xẩm hay cô Xẩm. Theo các tài liệu nghiên cứu, cụ thể dựa trên tư liệu trong tác phẩm “Nghệ thuật hát xẩm” của tác giả Khương Văn Cường (2009), Xẩm xuất hiện dưới thời nhà Trần gắn liền với một truyền thuyết dân gian giàu ý nghĩa nhân văn. Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh là hai hoàng tử của vua Trần Thánh Tông. Từ nhỏ, Trần Quốc Đĩnh đã nổi tiếng thông mình, hiếu nghĩa và đa tài nên được vua cha yêu mến. Trần Quốc Toán là anh cả sinh lòng ghen ghét, nhân cơ hội vua cha tổ chức cuộc thi kiếm ngọc quý trong rừng mà ra tay hãm hại Trần Quốc Đĩnh. Giữa chốn rừng sâu, Trần Quốc Toán nhẫn tâm chọc mù hai mắt Trần Quốc Đĩnh, cướp công em trai rồi bỏ chạy về hoàng cung. Tỉnh dậy với hai mắt mù loà, Trần Quốc Đĩnh đau đớn, than khóc rồi ngất đi. Trong giấc mơ, Bụt đã hiện lên dạy Trần Quốc Đĩnh cách làm một cây đàn, cách chơi đàn. Và ông đã tìm được niềm tin để sống, Trần Quốc Đĩnh mò mẫm làm đàn, tiếng đàn lời ca vang lên như thể hiện nỗi lòng về số phận đắng cay của mình. Thật kỳ lạ, chim muông bị thu hút bởi thanh âm ấy, chúng sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về thôn làng của họ. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người khiếm thị, những người nghèo. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến hoàng cung, nhà vua mời ông vào hát để cùng vương tôn quý tộc thưởng thức và đã nhận ra người còn thất lạc của mình. Trở lại cuộc sống vương giả nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca góp vui cho đời, dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát Xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát Xẩm. Để tỏ lòng biết ơn đến công lao của ông, người dân đã lấy ngày 22 tháng 2 và ngày 22 tháng 8 âm lịch làm ngày giỗ của ông và cũng là kỷ niệm ngày hội hát Xẩm của dân tộc Việt. Mặc dù, nguồn gốc hát Xẩm không dựa trên chính sử, vua Trần Thánh Tông không có hoàng tử tên Đĩnh hay Toán, nhưng thánh tích này đã tạo nên một lịch sử ra đời đầy ưu ái mà nhân dân Việt dành cho loại hình nghệ thuật này.

    [​IMG]

    Đã bảy trăm năm trôi qua, mặc dù chưa có văn bản nào viết chính xác nguồn gốc ra đời của hát Xẩm, nhưng người đời vẫn truyền nhau câu chuyện của vua con nhà Trần. Xuất thân cao quý của ông Tổ nghề Xẩm là một hoàng tử, trái ngược với cách thức biểu diễn của Xẩm. Hành trình của loại hình nghệ thuật dân gian này, luôn gắn liền với một nhóm người, manh chiếu trải đất, cây đàn bầu cùng chiếc nón mê “rách cạnh”, nhưng không hề thấp kém, hơn nữa còn rất sâu sắc với lối kể tích khéo léo và hấp dẫn. Với những bài hát Xẩm xưa, dẫu rằng từ thôn quê, gắn liền với kế sinh nhai khốn khổ của người khiếm thị, có bóng dáng những nhọc nhằn lam lũ của người nông dân, bình dị đấy nhưng cũng rất văn học. Tính hàn lâm trong ca từ và sự chặt chẽ trong luật thơ của các bài Xẩm xưa, vì thế không quá khó hiểu nhưng rất độc đáo.

    Thời kỳ phong kiến, cuộc sống của những người hát Xẩm phụ thuộc hoàn toàn vào đời sống xã hội đương thời, giống như một nghề nghệ thuật, kế sinh nhai này kiếm chén cơm, bát gạo, vài hào tiền lẻ…tùy vào tâm và hoàn cảnh của người thưởng thức. Gánh Xẩm phiêu diêu nay đây mai đó, đối với họ gia đình là dân chúng, mái nhà là đình làng, bến nước, góc chợ quê; nơi đây lắng nghe tiếng đàn lời ca của họ, là sân khấu biểu diễn chứng kiến những thành quả lao động họ gặt hái được. Khác với các loại hình nghệ thuật khác, nghệ sĩ biểu diễn trong rạp hát, khán phòng..., có bán vé vào xem, được thu lợi từ đồng tiền. Hát Xẩm cũng mong đợi được khán giả đáp lại, nhưng điều đó dựa trên sự tự nguyện, ngoài những đồng tiền xu, nghệ sĩ Xẩm còn được người dân san sẻ những món quà, bánh trái, khoai sắn, cơm gạo…Và đối với họ, chiếc chậu đồng thau, cái nón mê là công cụ không thể thiếu trên những nẻo đường bất tận. Khi nghe tiếng leng keng của đồng xu chạm mặt đáy chiếc thau đồng, nghệ nhân hát Xẩm biết được mình đã được quan tâm, đã được sẻ chia, được đồng cảm….họ có động lực để hứng khởi đàn ca tiếp. Như vậy, lịch sử dân tộc Việt đã có một nghề nghiệp độc đáo và rất thú vị!

    Tiếp nối văn hóa dân tộc, nhằm tôn vinh, hỗ trợ các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, nhà báo có đóng góp cho âm nhạc truyền thống, Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã lập ra giải thưởng Trần Quốc Đĩnh với lần trao giải đầu tiên vào năm 2008.(Cái nì có vẻ chưa rõ lắm nhỉ. Giải thưởng này trao cho nghệ sĩ hát Xẩm hay người có công bảo tồn loại hình này. Có thể mở ngoặc sau Trần Quốc Đĩnh là ông tổ nghề hát xẩm cho rõ hơn chăng.)

    Gánh Xẩm
    Xẩm được coi là nghệ thuật cổ truyền, là hình thức hát rong phổ biến trong xã hội phong kiến trước đây. Xẩm không chỉ là phương tiện kiếm sống của người khiếm thị, mà còn là hoạt động giải trí của người nông dân lúc nông nhàn. Kế sinh nhai nghệ thuật này, vô hình dung đưa hát Xẩm trở thành “đặc sản âm nhạc” của người ăn xin có cốt cách, của người khuyết tật có nghị lực sống. Họ đã dùng giọng ca, tiếng đàn, lời hát để lên án phản kháng những bất công cường quyền, áp bức, những thói hư tật xấu của xã hội, cất lên tiếng nói bênh vực những số phận bất hạnh nghèo khổ bị chà đạp. Tài ca đàn hát giống như món quà thiên phú bù đắp cho những khuyết tật cơ thể, tạo nên một món ăn tinh thần phong phú trong quần chúng lao động. Không chỉ phục vụ để kiếm sống hàng ngày, gánh Xẩm còn có mặt trong những dịp cưới xin, ma chay, giỗ chạp…có khi chỉ để sẻ chia những buồn vui tư gia. Đề tài hát Xẩm đề cập đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống, không chỉ thể hiện những bài ca dao tục ngữ cổ, mà người hát còn tự thảo các khúc ca riêng dành cho thể loại âm nhạc này, từ tình cảm gia đình, vợ chồng đến tình cảm trai gái.
    [​IMG]

    Gánh Xẩm thông thường gồm một nhóm người, có mối quan hệ huyết thống hoặc thân thiết với nhau. Trong lúc kiếm sống hoặc trong những dịp hội làng, gánh Xẩm phối hợp nghệ thuật với nhau để biểu diễn. Quy mô hơn nữa, từng vùng sẽ có phường hội do nhiều nhóm Xẩm tạo thành, có tổ chức trên dưới, có trùm phường điều hành các nhóm làm ăn theo đúng trật tự. Ngày nay, nhiều người nghĩ Xẩm là lối hát chỉ của người khiếm thị, người ăn xin, nhưng trên thực tế chính họ đã đưa Xẩm thành một nghề kiếm sống trong sáng bằng chính tài năng thiên bẩm của bản thân. Hơn nữa, nó còn là một thể loại diễn xướng dân gian được ưa chuộng xưa kia, không chỉ cho người nghèo, mà ngay cả phú hộ cũng ưa thích được thưởng thức những làn điệu Xẩm vui nhộn sau những vụ mùa bội thu. Do đó, tuy cuộc sống khó khăn, lại phụ thuộc vào hoàn cảnh sống xã hội, nhưng nghệ nhân Xẩm không chán ghét bi quan với cảnh đời, họ luôn có lòng tự trọng cao, yêu thích cũng như tôn quý nghề nghiệp của mình:

    Cái nghiệp cầm ca có ích cho đời
    Tay đàn miệng hát giúp đời mua vui​

    (Trích bài Xẩm “Đáng mặt anh hào chứ?” của Tản Đà)

    Được coi là loại hình âm nhạc giàu tính nhân văn và tính cộng đồng cao, nên Xẩm không hoạt động đơn lẻ. Mặc dù chưa được công nhận là một môn nghệ thuật nhưng họ luôn có ý thức truyền nghề cho con em một cách bài bản, các nghệ sĩ dựa vào nhau, đùm bọc lẫn nhau trên hành trình sinh nhai “Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Từ tên gọi, đến biểu diễn, nhóm Xẩm đều rất dân dã, gần gũi với đời sống người lao động. Điều đó đã nói lên phần nào cội nguồn sâu xa, ý nghĩa phồn thịnh của nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, đưa âm nhạc dân tộc phát triển thành di sản đặc sắc chứa đựng linh hồn đất nước.


    Xẩm lai ăn chay sình bụng
    Ăn vụng rụng răng
    Ăn măng rách lưỡi
    Ăn bưởi the thẹ…
    (Ca dao)​


    Sự ra đời của Xẩm tàu điện

    Những năm đầu thế kỷ XX, giai đoạn thực dân nửa phong kiến, thời kỳ chiến tranh chống Pháp, những người hát Xẩm ở các vùng quê “đùm to, đùm nhỏ” cùng nhau lên chốn thị thành như Hà Nội để hành nghề kiếm sống. Mùa màng thất bát, thời chiến loạn lạc, gánh Xẩm ở thôn làng xưa buộc phải tìm môi trường mới để sống và hát. Những chuyến tàu điện hành trình ngắn, tiếng leng keng báo hiệu tàu đi tàu đến, đông đúc người qua lại và dễ dàng thu hút người xem đã là không gian diễn xướng lý tưởng cho loại hình nghệ thuật độc đáo này. Bến xe điện Bờ Hồ nằm ngay đầu đại lộ Francis Garnier ngày ấy (ngày nay là phố Đinh Tiên Hoàng ), đều đều chở khách ngược xuôi quanh Hà Nội, đã trở thành địa chỉ quen thuộc đặc trưng văn hóa của người dân Hà Thành. Để rồi khúc ca Xẩm vang lên, làm cuộc sống ồn ào thị thành như có chốn dừng chân, đó chính là Xẩm Hà Nội hay còn gọi là Xẩm tàu điện. Mặc dù tàu điện không còn nữa nhưng hồn Xẩm xưa vẫn tồn tại cùng thời gian.

    Khi bước chân từ chốn thôn quê ra Hà Nội, Xẩm chợ đã trở nên chuyên nghiệp hơn. Vẫn là lối hát đồng nội ấy, nhưng tiết tấu nhanh và bóng bẩy hơn, trang phục biểu diễn cầu kỳ hơn. Nhịp sống nơi đây vốn đã sôi động, nhiều người tri thức cao, vốn am hiểu sâu, nên nhu cầu thẩm mỹ trong ca từ Xẩm cũng được người nghệ sĩ khéo léo vận dụng. Những bài thơ mới của các thi sĩ nổi tiếng như Nguyễn Bính, Nguyễn Khuyến, Á Nam Trần Quang Khải…cũng được đưa vào làm phong phú thêm những câu hát trong các làn điệu Xẩm. Ngược xuôi 36 phố phường, tàu điện mang niềm vui ca hát cho phố hội Thăng Long, đưa Xẩm trở thành loại hình âm nhạc đường phố vô cùng độc đáo, gắn bó thân thiết với bước chân già trẻ gái trai nơi đây. Việt Nam tự hào có Hà Nội mang bản sắc riêng với nghệ thuật dân gian đường phố sắc nét mà hiếm có địa danh nào trên thế giới có được. Được coi là loại hình nghệ thuật mở nhất trong kho tàng nghệ thuật truyền thống bởi Xẩm không quá kén chọn cũng như phân biệt đối tượng và không gian biểu diễn. Hà Nội cần tôn vinh và tạo nhiều điều kiện cho Xẩm đi vào cuộc sống hiện đại của người dân Việt, biến tấu khéo léo để Xẩm thích ứng, thu hút giới trẻ nhiều hơn.

    Kết
    Xẩm là một trong những loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian tiêu biểu của Việt Nam. Xét về mặt truyền thống văn hóa, những khúc ca Xẩm là sự thể hiện rõ nét đời sống, tư tưởng, tâm hồn của cha ông ta. Đó chính là hồn xưa Việt, là một phần của nguồn cội dân tộc cần được lưu giữ và phát triển trong cộng đồng.


    Oanh Phương​


    Tài liệu tham khảo:
    1. http://tintuc.vnn.vn/
    2. http://www.cinet.vn/
    3. Tapchisonghuong.com.vn
    4. Nhacdantoc.net
    5. Quehuongonline.vn
     

    Bình Luận Bằng Facebook

Chia sẻ trang này