Đồ thờ trong di tích của người Việt

Thảo luận trong 'Di tích và Danh thắng' bắt đầu bởi Hành Thiện, 20/5/12.

Lượt xem: 4,363

  1. Hành Thiện

    Hành Thiện Moderator

    Phần nội dung dưới đây phần nhiều từ cuốn Đồ thờ trong di tích của người Việt của GS.TS. Trần Lâm Biền do NXB Văn hóa thông tin phát hành năm 2005, tập sách là kết quả của nhiều năm điền dã tại các đình, đền, chùa, quán nổi tiếng ở vùng châu thổ sông Hồng. Tập sách đã phác họa, đánh giá và phần nào giải mã một số yếu tố văn hóa nghệ thuật trong các đồ thờ tại các di tích.

    Cuốn sách này gồm có những nội dung chính sau đây:
    Phần 1: Một số vấn đề liên quan đến đồ thờ
    Phần 2: Đồ thờ trong kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của người Việt. Phần này được chia thành 2 chương:
    - Chương 1: Đồ thờ nhân cách
    - Chương 2: Những đồ thờ phổ biến trong kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng cổ truyền.
     

    Bình Luận Bằng Facebook

  2. Hành Thiện

    Hành Thiện Moderator

    Phần 2: Đồ thờ trong kiến trúc Tôn giáo và Tín ngưỡng của người Việt

    -Từ rất sớm, ngay khi thoát khỏi thời mông muội chuyển sang giai đoạn văn minh, loài người đã như cảm thấy một thế lực vô hình nào đó chi phối đến cuộc sống của mình. Bằng vào nghiệm chứng, người ta không tìm được thế lực đó trên và dưới mặt đất, và tất nhiên xu hướng đẩy lên tầng trên là nét chung của mọi tộc người. Thế lực mà chúng ta đang bàn, hội tụ lại là thần linh. Cũng đương nhiên, mỗi tộc người qua cách ứng xử với tự nhiên và xã hội mà nảy sinh một hoặc nhiều thần linh riêng biệt. Song, xu hướng muốn tiếp cận với thần linh để cầu viện những siêu lực vũ trụ cho cuộc sống trần gian thì dân tộc nào cũng có. Tới khi con người phát hiện ra lửa thì ước vọng thông linh mới được phần nào giải quyết.

    - Người đương thời nhận thấy cứ có lửa là có khói, mà khói thì lại bay lên cao, điều đó khiến con người dần dần muốn thông qua khói để gửi những lời cầu nguyện và những hình tượng gợi ý tới các vị thần cao cả. Con người cũng sớm nhận biết được ngày và đêm, ban ngày ánh sáng tràn đầy thì thần linh lại như vắng mặt, còn ban đêm thì các vị lại hội tụ. Thực ra, ban ngày con người còn lo hái lượm hoặc sản xuất, chỉ đến khi trời tối tâm tư họ mới có thời gian để gửi vào cõi “vô cùng, vô tận” .

    - Các nhà dân tộc học cho chúng ta biết rằng chính những biểu hiện Lễ hội của cộng đồng nguyên thủy là một trong những hình thức tiếp cận sớm nhất với thần linh của loài người. Khởi thủy đây là một sinh hoạt có lẽ không theo định kỳ, chỉ khi xã hội có tổ chức với sản xuất phát triển tới một mức độ nhất định nào đó, với vòng quay thời gian theo chu trình khép kín, thì dần lễ hội cũng được đưa vào quy củ.

    - Bóng dáng của thời kỳ xa xưa ấy hiện nay phần nào còn gặp được ở một số sinh hoạt của nhiều cộng đồng tộc người tại Châu Phi, đôi khi cũng còn thấy ở đôi nét thuộc tộc người thiểu số trên đất Việt. Trong hình thức sinh hoạt có tính chất nguyên thủy này, người ta thường đốt một đống lửa lớn bằng củi rừng, rồi hội nhau nhảy múa xung quanh. Đặc điểm của sinh hoạt này thường cho thấy yếu tố thờ mặt trời rất rõ nét với chiều di chuyển ngược kim đồng hồ, đồng thời động tác múa rất mạnh theo những nhịp ngắt rõ rệt (nhất là của những người Chậu Phi trước đây). Người ta cố tình phô diễn động tác lắc mông, lắc bụng và ngực…..Tất cả những hình thức đó được giải thích không phải do hình thành từ sự vất vả cực nhọc trong lao động, mà bản chất của nó nảy sinh từ tư duy dân gian mênh mông ngang tầm trời đất.

    - Người đương thời, đặc biệt là phụ nữ, muốn thông qua chính những động tác gắn với cơ thể mình để “nhờ” lửa, khói chuyển tải lên thần linh. Hành động này như một gợi ý : hỡi các thần linh cao viễn hãy theo cách của chúng tôi đây mà giúp pháp lực vô biên cho muôn loài phát sinh, phát triển, cho mùa màng tốt tươi (theo cố GS Từ Chi ). Từ cách sử dụng lửa làm trung gian để tiếp cận với lực lượng siêu hình, dần dần con người hội tụ vào nến và hương (chủ là loài người phương Đông, chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa).

    - Tôn giáo, tín ngưỡng hình thành dần, nối tiếp truyền thống từ nguyên thủy mà bàn thờ, rồi đồ thờ ngày một phát triển. Bàn thờ dần dần được đồng nhất với thế giới bên trên - bầu trời. Trong đó: hai cây nến tượng trưng cho đôi vầng nhật nguyệt, các nén hương tượng trưng cho các tinh tú . Sau này mối giao lưu giữa tầng trên và tầng dưới còn được bổ sung bằng nhiều đồ thờ khác để mang tư cách như những trục “vũ trụ” hay là những ý nghĩa nào đó thuộc về lẽ đạo.

    [​IMG]
    Bàn thờ của người Việt​

    - Đồ thờ của người Việt mỗi thời một khác nhau, song một trọng tâm cơ bản được đặt vào đồ thờ của người Kinh. Đáng tiếc là càng xa về trước thì số lượng và loại hình của chúng thường bị mất mát. Vì thế khó có thể thông qua đồ thờ mà nhìn nhận về bản chất, tín ngưỡng của mỗi thời. Tuy nhiên, bằng những cuộc điền dã và kết quả sưu tầm của nhiều người, chúng ta tạm phân loại đồ thờ theo mấy cách thức theo chiều dọc và chiều ngang của lịch sử - có nghĩa là vừa theo loại hình và vừa theo diễn trình tồn tại của chúng cùng những mối liên quan khác.

    - Tạm có thể coi đồ thờ là những vật được gán cho có một sức mạnh tâm linh nhất định. Thông qua chúng, con người biểu hiện lòng thành kính và ước mong của mình đến các đấng thiêng liêng. Như vậy thì, đây là một phạm trù rất rộng bao gồm cả đồ thờ nhân cách, bàn thờ và cả những vật có liên quan, rồi những linh thú, và cả những đồ thờ bát bửu, lễ bộ, chấp kích…

    - Để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi lướt qua đồ thờ nhân cách để phân loại về các di tích khác nhau và làm nền cho những đồ thờ phi nhân cách.

    A. ĐỒ THỜ NHÂN CÁCH

    - Ở đây tập trung vào các tượng thờ. Do Phật giáo và các ngôi chùa đã có mặt thường xuyên trong suốt thời tự chủ, vì thế lấy tượng chùa làm trọng tâm, rồi từ đó liên hệ với các loại hình khác.

    - Hầu hết các đồ thờ nhân cách đều là tượng các thần linh. Vậy trước hết phải đặt ra một vấn đề về nhận thức thần linh và ứng xử với các thần của người Việt.

    -Theo một tấm bia của Chùa Bối Khê (Thanh Oai - Hà Tây) đã từng cho biết: Anh tú của trời đất tụ thành sông núi, anh tú của sông núi là thần linh… Như vậy thần linh là vẻ đẹp thánh thiện mà người đời thường ngưỡng tới. Tất nhiên, đối với người Việt thì ít nhất thần linh cũng được nảy sinh từ “thời gian chiêm bao”, thời kỳ mà con người chìm trong thần thoại và huyền thoại với tư duy mênh mông hòa cùng vũ trụ.

    - Người ta tin tưởng có một thứ linh hồn rộng lớn vô biên, đồng nhất, bàng bạc ở đâu đó, không xác định được. Linh hồn ấy cũng là sinh lực vĩ đại chi phối đến sự sống của muôn loài, trong một giới hạn theo đà phát triển của lịch sử và tư duy, cùng sự nhân cách hóa mà dần dần hóa thành thần linh mạng dạng con người, đồng thời do những hoàn cảnh khác nhau mà thành những thần linh khác nhau.

    - Do con người luôn có ý thức lấy mình làm trung tâm, coi hình tượng của chính mình là chuẩn mực, nên đa số các vị thần thiêng liêng đều mang bóng dáng của con người. Thực tế đã cho thấy các thần Mây, Mưa, Sấm , Chớp rồi các thần Rắn gắn với nguồn nước, có thể kể ra rất nhiều thần linh khác nữa. Khi được tôn sùng hoặc kính sợ thì hầu như đều được tư duy người Việt “nhào nặn” để các vị hóa thân nhân cách, và rất nhiều trường hợp được nhập về Chùa.

    - Mặt khác, cũng có nhiều di tích vốn thuộc Tôn giáo khác, không có sự quản lý của triều đình mà sống trong môi trường thôn dã, như những Quán Đạo Lão, dần dần cũng trở thành Chùa. Ngay đến cả Ngôi đình cũng một thời được triều đình lệnh cho rước tượng Phật vào để thờ (thời Trần Cảnh, thế kỷ 13).

    - Suy cho cùng, đối với người Việt, Chùa không phải chỉ là giáo đường của riêng đạo Phật, mà trong Phật giáo dân dã của người Việt thì cửa Chùa luôn mở rộng với các thần linh phi Phật cũng như với mọi chúng sinh.

    1. Diễn biến của các tượng thờ Phật giáo:

    - Ngày nay trên Phật điện của các ngôi Chùa ở châu thổ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ thường có rất nhiều tượng, nhưng trên thực tế chúng ta chỉ mới có thấy được Phật giáo Việt có từ thời kỳ tự chủ (với niên đại trong thiên niên kỷ thứ 2).

    - Những tượng đã phát hiện được như ở Phật Tích (Bắc Ninh - Đầu tượng đã được làm lại vào khoảng thế kỷ 17 hoặc đầu 18), tượng Chùa Ngô Xá – Ý Yên – Nam Định, tượng Chùa Hoàng Kim (Quốc Oai – Hà Tây) đã bị mất đầu, và có thể có cả tượng Chùa Huỳnh Cung (Thanh Trì – Hà Nội)… đều có niên đại vào thế kỷ 11 và 12.

    [​IMG]
    Tượng chùa Phật Tích (Bắc Ninh)​

    - Bằng vào những tư liệu còn để lại và thực tế khảo sát cho thấy, thủa ban đầu, trên Phật điện thì loại đồ thờ nhân cách này còn khá vắng vẻ. Chủ yếu ở đây là tượng của Đức Giáo Chủ Thích Ca Mầu Ni Phật. Người ta cũng thấy được ở vị trí trung tâm Phật điện đã có một số vị Phật khác, như là : Di Lạc Phật nhằm cầu phúc- Chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh), vị Cổ Phật Như Lai Đa Bảo – Chùa Long Đọi (Hà Nam). Ngoài ra còn một số phù điêu gắn với một số vị Phật và Bồ Tát khác. Nhưng tạm thời có thể tin được Phật điện mới chỉ có một tượng, phía trước tượng được đặt một nhang án bằng đá hoặc gỗ.

    - Cho đến nay hầu như chưa tìm được một mảnh gỗ có dấu vết văn hóa nghệ thuật nào của thời Lý để lại, ngay cả những nhang án đá cũng bị đập vỡ gần như hoàn toàn (Hiện chỉ còn một phần góc nằm trong hệ thống hiện vật của Bảo tàng Lịch sử. Tuy mảnh nhang án này còn khá lớn nhưng chỉ đủ sức để chúng ta nhận biết phần trên có đài sen rồi những hình hoa văn cách điệu gắn với lực lượng tự nhiên. Dưới đó là một thần điểu Garuđa có hình thức khá đặc biệt, giống như là một chú bé có thân hình mềm mại ngồi quặt chân về một phía. Tuy nhiên tất cả những chi tiết đó chưa đủ để chúng ta nhìn nhận về một nhang án đá cụ thể dưới thời Lý). Cùng với ngôi chùa của thời Lý còn có nhiều đồ thờ khác để lại mà nay gặp được là những trụ, ít nhất là hai loại khác nhau (sẽ được trình bày sau).

    - Dưới thời Trần - Thế kỷ 13-14, tuy sách sử đã nói đến có tạc nhiều tượng Phật giáo, nhưng tới nay chúng ta chưa xác nhận được một pho nào cụ thể. Có lẽ vì tượng thời này làm bằng chất liệu gỗ nên không còn. Mặt khác, thực tế thời Trần đạo Phật phần nào đã suy thoái, một số người theo đạo Phật ở tầng lớp trên thường tu “xuất thế gian”, ít nhiều đề cao ý nghĩa vô chấp của đạo (điển hình như Tuệ Trung Thượng sĩ). Họ đi sâu vào thâm định, sinh hoạt tư tưởng ở mức độ khá cao, hướng tới “Niết bàn vô trụ xứ”…điều đó cũng dẫn đến tư tưởng họ ít quan tâm đến tượng.

    - Trong các ngôi chùa của thời kỳ này, chủ yếu ở ven sông Đáy, chỉ để lại cho chúng ta những chiếc nhang án bằng đá hình hộp chữ nhật. Vị trí của nhang án đó được đặt sát phần trong của gian giữa. trước đây nhiều người nhầm tưởng gọi là Bệ tam thế Phật, nhưng khi đọc kỹ lại những phần ghi trên hiện vật, đã thấy rõ ràng chữ “thạch bàn” để xác nhận đó là nhang án (chùa Bối Khê -Hà Tây). Vấn đề này khá quan trọng, vì : nếu đấy là bệ Phật thì chắc chắn ngôi Chùa phải có tượng; nhưng khi xác nhận là nhang án, thì chính vị trí của bàn thờ đá này đã đặt ra cho chúng ta hai vấn đề.

    • Một là, tượng Phật được đặt ngay trên nhang án, nhưng điều đó ít thấy xảy ra tại các nhang án tương đồng của thời sau.
    • Hai là, có thể nhiều ngôi chùa ở làng không có tượng.

    - Khảo sát điền dã tại nhiều ngôi chùa cổ ở Hòa Bình của người Mường, cho thấy kết cấu của ngôi chùa chỉ là một ngôi nhà lá nhỏ (một gian hai chái) có mặt nền tương đồng chùa dân dã thời Trần và thời Mạc . Cũng chính ở gian giữa, sát phía sau, chỉ có một nhang án gỗ đơn sơ, người ta treo sau nhang án là một bức tranh Phật hoặc chữ Phật lớn, có nghĩa là ở nhiều ngôi Chùa này không có tượng. Hình thức kể trên cùng tính chất ngưng đọng về văn hóa của người miền núi, nhu một gợi ý chúng ta suy ngẫm về những ngôi chùa có nhang án đá của thời Trần.

    - Vào thế kỷ 15, hầu như kiến trúc chùa chiền không còn được phát triển, ngay cả trong làng quê. Bằng vào nghệ thuật của các nhang án (không ghi niên đại) còn tồn tại, chúng ta có thể đặt ra một giả định là: có một số chùa của đương thời đã theo cách thức từ thời Trần. Tới nay mới chỉ tìm được một nhang đá của thời này được làm vào nửa đầu thế kỷ 15, thuộc thị xã Bắc Giang , nhưng những tượng đá ở đây thì cũng như tượng thời Trần hầu như chưa xác định rõ ràng .

    - Sang thế kỷ 16, thời Mạc, kết cấu của ngôi chùa vẫn chưa mở rộng. Tuy nhiên, chúng ta đã tìm được khá nhiều loại tượng Phật giáo khác nhau để khẳng định về một số loại chùa khác nhau.

    • Trước hết là Chùa theo loại truyền thống thờ Thích Ca Mầu Ni Phật (chùa La Khê – thị xã Hà Đông ); rồi tượng Tam Thế Phật (chùa Thầy – Quốc Oai – Hà Tây); đặc biệt dưới thời này đã phát triển và phổ biến hơn về tượng Bồ tát Quan Âm nhiều tay có quỷ hoặc rồng đội đài sen (chùa Bối Khê – Thanh Oai – Hà Tây. Chùa Thượng Trưng, chùa Hội Hạ – Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc)…
    • Cũng thời này chúng ta đã tìm được tượng Ngọc Hoàng (chùa Ngô Sơn –Tích Giang – Ba Vì- Hà Tây) và cả một vài pho tượng Thích Ca sơ sinh nữa …Chắc chắn dưới thời Mạc do sự phát triển kinh tế và tư tưởng xã hội có phần đa dạng hơn giai đoạn trước, nhất là phần nào chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa nên nhìn nhận về đạo Phật có rộng mở hơn.

    - Tới thế kỷ 17, đồ thờ nhân cách trong chùa đã phát triển đông đảo hơn, ngoài những loại tượng như của thời Mạc, chúng ta đã tìm được bộ tượng Di Đà tam Tôn, rồi Hoa Nghiêm Tam Thánh. Từ khoảng giữa thế kỷ này trở về sau còn thấy cả Di Đà Phát Quang, Tứ Bồ Tát, rồi những tượng sư tổ và một số tượng hậu chùa gắn với tầng lớp trên.

    - Sang thế kỷ 18, nhất là vào giai đoạn cuối (thời Tây Sơn) thì hệ thống tượng chùa đã khá đầy đủ; ngoài những loại tượng đã có ở thế kỷ 17, thì nay đã gặp các bộ tượng Di Lặc Tam Tôn mang tính chất Chúa cứu thế, Bát Bộ Kim Cương, các tượng Tổ Truyền Đăng (thường gọi lầm là Thập Bát La Hán)….

    [​IMG]
    Tượng Phật trong chính điện chùa miền Bắc​

    - Chỉ tới thế kỷ 19, kể từ thời vua Tự Đức trở về sau sang tận đầu thế kỷ 20 thì tượng chùa mới khá đầy đủ như hiện thấy. Nghĩa là, ngoài những loại tượng như ở thế kỷ 18, tới cuối thế kỷ 19 mới thấy phổ biến dần bộ tượng Thập Điện Diêm Vương, bộ tượng Đức Ông, bộ tượng Thánh Tăng, tượng Địa Tạng Bồ Tát, Thổ Địa, Tổ chùa, đặc biệt là hệ thống tượng Mẫu.
     
  3. Hành Thiện

    Hành Thiện Moderator

    2. Ý nghĩa sơ lược của các tượng thờ Phật giáo:

    - Người Việt thờ Phật theo lối thế gian, tức là lối thờ bình dân nên rất cần “đồ thờ” để vừa gợi ý đi vào tâm đạo, vừa gây ý thức trang nghiêm sùng kính. Những pho tượng trên Chùa, thực chất nhằm nói về những lẽ đạo, đồng thời là những bài học dạy làm người theo tư tưởng Phật giáo. Vì thế, người Phật tử đến lễ Chuà thường ngước mặt chiêm ngưỡng tượng mà tìm đến Như Lai. Trong hệ thống tượng được bày trên bàn thờ, thông thường được kể từ trong ra ngoài.

    1. Tam Thế Phật: ở trên cao và sâu nhất thuộc chính điện. Tên được gọi đầy đủ là Tam Thế Thường Trụ Diệu Pháp Thân . Ý nghĩa của Tam Thế là : 3 thời. Quá khứ gọi là Trang Nghiêm Đại kiếp, hiện tại gọi là Hiền kiếp, vị lai gọi là Tinh Tú kiếp. Mỗi đại kiếp xấp xỉ bằng 1.344.000.000; Thường Trụ: là tồn tại vĩnh hằng ; Diệu : đẹp đẽ, linh thiêng, nhiệm mầu; Pháp Thân: cái thân chân thực không không biến đổi, không lệ thuộc vào hình- danh- sắc- hương- tướng, không sinh không diệt, tức cái đạo thể, Phật thân. Một tên khác là Tam Thế Tam Thiên Phật, có nghĩa là ba nghìn vị Phật nối nhau giáo hóa chúng sinh trong ba đại kiếp. Như vậy Tam Thế Phật không phải là A Di Đà Phật, Thích Ca Mầu Ni Phật và Di Lạc Phật như nhiều người đã lầm tưởng.

    [​IMG]
    Tam bảo chùa Thầy (Hà Tây)​

    2. Di Đà Tam Tôn: gồm có, A Di Đà Phật ngồi ở giữa, bên trái là Quan Thế Âm Bồ Tát, bên phải là Đại Thế Chí Bồ Tát. Bộ tượng này cũng được gọi là Di Đà Tiếp Dẫn – có nghĩa là : đón chúng sinh có Phật quả về Tây phương cực lạc, nơi không sinh không diệt, không chìm vào sanh, lão, bệnh, tử.

    -a. A Di Đà Phật đứng chủ về cõi Niết Bàn ở phía tây, Ngài có 13 đại hồng danh, trong đó nổi lên là Vô Lượng Quang Phật – có nghĩa là ánh sáng Phật pháp từ Ngài tỏa ra muôn nơi không gì che cản nổi, nhằm cứu độ chúng sinh;

    -b.Vô Lượng Thọ Phật – là vị Phật thọ ngang cùng trời đất để giáo hóa mọi kiếp đời .

    -c. Quan Thế Âm Bồ Tát- trong thời gian làm thị giả cho A Di Đà Phật thì Ngài đại diện cho đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả.

    -d. Còn Đại Thế Chí Bồ Tát tượng trưng cho đại hùng, đại lực, đại trí, đại tuệ. Tích truyện về Thế Chí có kể rằng Ngài bước đi làm rung chuyển thế giới Ma Vương , có nghĩa là trí tuệ đi đến đâu thì sự ngu tối và tàn ác bị diệt trừ tới đấy.

    -Trong đồ thờ của người Việt, từ thế kỷ 17 trở về sau, nhiều khi tượng A Di Đà đứng lên, tượng này gọi là Di Đà phát quang , biểu hiện về sự cứu độ một cách gấp gáp. Hiện tượng này chỉ xảy ra khi con người bị chìm đắm trong khổ đau, bế tắc, xã hội đầy tiêu cực.

    3. Bộ tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh: bao gồm tượng Thích Ca Mầu Ni Phật ngồi ở giữa, trợ thủ là hai Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền. Thông thường tượng Thích Ca được gọi là tượng Hoa Nghiêm, Ngài ngồi trên tòa sen trong thế kiết già, tay trái trong ấn tam muội, tay phải giơ bông sen.

    • Ý nghĩa của hiện tượng nêu trên như lời nhắn nhủ với người Phật tử rằng : Đến Chùa là tìm chính mình, tức là tìm cái bản thể chân như, cái Phật tâm ẩn tàng tận đáy tâm hồn, đã bị cuộc đời dục vọng đầy xấu xa che phủ. Bông sen đó biểu hiện về sự tròn đầy của đạo pháp, sự trong sáng cùng cực, biểu hiện của nhân quả, của lý và trí, của âm và dương, của phàm và thánh…cùng một thể, một cội nguồn. Như vậy bông sen cũng tượng trưng cho vẻ đẹp thánh thiện vốn có sẵn ẩn tàng trong tâm từng chúng sinh, mà chỉ khi nào vén được đám mây mù ngu tối thì chân lý tự nhiên sẽ mở.
    • Trợ thủ cho Phật là Văn Thù Bồ Tát, nhiều khi được cưỡi con sư tử xanh, ngồi bên trái, tượng trưng cho chân trí tuyệt đối của đạo Phật. Ngài tu tại Ngũ Đài Sơn (Trung Hoa), là hiện thân của trí tuệ. Con sư tử Ngài cưỡi là hiện thân sức mạnh của tầng trên, cho sự trong sáng…
    • Vị Phổ Hiền Bồ Tát thường được cưỡi voi trắng ở bên phải, Ngài là hiện thân cho chân lý tuyệt đối của đạo Phật, con voi Ngài cưỡi cũng biểu hiện về sức mạnh trần gian và sự thanh bạch, trong sáng….

    - Ở hàng này nhiều khi người thay bằng bộ tượng Tuyết Sơn. Ở giữa là tượng Thích Ca Mầu Ni Phật dưới dạng tu khổ hạnh. Bộ mặt và cơ thể của tượng được biểu hiện rõ nỗi dày vò, nổi rõ gân cốt, chân khoanh chân chống, tay hững hờ tì trên gối. Mắt tượng nhìn vào khoảng không như nhìn vào tâm để tìm chân lý. Song chân lý quá xa vời với kiếp tu. Theo tích truyện thì bằng kiếp tu khổ hạnh, Thích Ca không thành công, Ngài bỏ xuống núi được cô gái chăn bò dâng sữa. Uống xong ngài tắm rửa sạch sẽ thấy tỉnh táo mà ngồi thiền định rồi đạt được đạo chính đẳng chính giác (giác ngộ thành Phật)… Như vậy với tượng này người xưa muốn giáo dục các kiếp tu không nên lệ thuộc vào cách tu mà cần tập trung vào thiền định, nâng cao trí tuệ mà đi đến giác ngộ và giải thoát. Đó là một biểu hiện sâu sắc về ý nghĩa vô chấp của đạo Phật.

    4 -Thị giả bên tượng Tuyết Sơn là tượng của hai đệ tử thân thiết, gồm:

    • Ca Diếp: tổ thứ nhất, người hiểu sâu xa ý nghĩa của đạo lý, có công tập hợp tăng chúng sau định Tam Tạng kinh, trong tạo hình thì mặt Ngài có nhiều nếp nhăn, già, tay của Ngài kết ấn “mật phùng” để giữ cho tâm thanh, lòng không tà loạn.
    • Tượng A Nan Đà – vị tổ thứ hai là em họ của Đức Phật Thích Ca, Ngài rất thông minh, nhớ được các lời Phật dạy, rồi ghi lại làm nền tảng cho Kinh, Ngài có khuôn mặt trẻ, tay Ngài thường hay kết ấn “liên hoa”- chắp tay để trước ngực, biểu hiện ý nghĩa như bông sen của Phật Hoa Nghiêm.

    5 – Tượng Di Lặc Tam Tôn: thông thường chỉ có một pho tượng Phật Di Lặc, khi đầy đủ thì có thêm hai Bồ tát Phát Hoa Lâm và Đại Diệu Tường. Ý nghĩa của bộ tượng chủ yếu tập trung vào Di Lặc.

    • Đây là pho tượng cực kỳ béo tốt, mặt tròn , ngực xệ, bụng phệ, chân tay ngắn, ngồi trong tư thế một chân co một chân chống. Thân thể trù phú này được nhiều nhà nghiên cứu cho là xuất phát từ ước vọng cầu phồn thực thuộc tư duy nông nghiệp. Ở lãnh vực Phật đạo thì khuôn mặt tượng luôn cười hớn hở, bắt nguồn từ đại tâm, từ hỉ và xả của Ngài Di Lặc Phật còn được gọi là đấng Từ Tôn, được coi như là một Chúa cứu thế, nên người ta thường cho rằng: “ Di Lặc xuất thế thiên hạ thái bình”- có nghĩa là: Di Lặc xuống đời muôn nơi yên ấm.
    • Như thế thường khi xã hội nhiều tiêu cực và đầy khổ đau thì người Phật tử hay cầu viện đến Ngài. Ngược lại, việc thờ Di Lặc không đúng với hoàn cảnh nêu trên thì rõ ràng ít nhiều cả về hữu thức và vô thức đã có ý nghĩa chống đối lại chế độ đương thời.
    • Di Lặc là chủ của “Long Hoa Hải Hội”, chính phái Long Hoa đã nhờ Ngài làm giáo chủ. Phái này thường hay bị những kẻ hoạt động tôn giáo lợi dụng. Bộ tượng này thường ngồi ở hàng thứ tư trên chính điện.

    6.Tượng Cửu Long Thích Ca Sơ Sinh: thường đứng ở hàng thứ năm trên chính điện, đôi khi hàng này lại để tượng Ngọc Hoàng cùng Nam Tào, Bắc Đẩu, ở trường hợp này Thích Ca sơ sinh lại chuyển xuống hàng thứ sáu.

    Hiện nay theo sự hiểu biết của chúng ta thì tượng Thích Ca sơ sinh mới chỉ thấy có niên đại từ thế kỷ 16 (ở Chùa Chợ Bần- Hưng Yên), chưa tìm vành Cửu Long ở thời này.

    [​IMG]
    Tượng Cửu Long Thích Ca sơ sinh​

    Tượng là một chú bé ngộ nghĩnh rất thơ ngây, nhiều khi nét chạm tạo được một vẻ đẹp đột ngột với cổ rụt lưng gù, đầu đưa ra phía trước. Trước thế kỷ 20 hầu như mọi tượng đều cởi trần, mặc váy ngang tầm đứng trên đài sen, tay trái chỉ lên trời tay phải chỉ xuống đất, đó là một hình thức hợp với lẽ âm dương.

    Tượng Thích Ca sơ sinh không đơn giản chỉ để nói về sự xuất thế của một thánh nhân, mà hầu như ở đó còn là một lời tuyên ngôn gắn với Phật đạo. Phật tích ghi rằng: khi Thích Ca vừa lọt lòng bà mẹ trần gian, Ngài bước đi bảy bước trên bảy bông sen (con số 7 là số nhiều của Văn hóa Ấn Độ và Đông Nam Á, ý này nhằm nói lên Đức Phật bước vào toàn cõi vũ trụ và đem hạnh phúc đến cho muôn vạn chúng sinh đau khổ). Rồi Ngài chỉ tay phải lên trời, tay trái xuống đất mà nói câu: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” – ý nói là: trên trời dưới trời chỉ có ta là cao quý hơn cả. Chữ “ta” ở đây mang ý nghĩa đại ngã trường tồn, một tâm hồn lớn bao trùm cả vũ trụ, mang tính bản thể chân như, tức pháp thân chân thực. Đó là Phật thân vĩnh cửu không lệ thuộc vào “hình, danh, sắc, tướng”, nó ẩn tàng trong cái tâm thánh thiện của muôn vạn chúng sinh, cũng là cái đạo thể nhiệm màu diệu như, nó đối lập hẳn với cái tôi đầy tính cá nhân trong thế giới vô thường.

    Khi đức Thích Ca xuất thế thì hai vị vua trời là Phạm Thiên (Brahma) và Đế Thích (Inđra) đã hết sức vui mừng, nên cho các thiên tướng, các nhạc sĩ thiên thần và các vũ nữ thiên thần tung hoa và hát đầy trời để xung tán. Vì thế bao quanh đức Thích Ca là một bầu trời đầy những nhân vật của thiên quốc.

    Vào thế kỷ 17 chúng ta đã gặp bầu trời này dưới dạng cửu long, có nghĩa là : con số 9 là số nhiều của Trung Hoa và Việt Nam, cửu long có nghĩa là toàn bộ mây trời linh thiêng, tẩy trừ những uế trọc cho đức Phật.

    Có lẽ những ý nghĩa khởi nguyên gắn với tích Phật bị suy lạc, nên trên vành cửu long ngày nay chúng ta thường thấy điểm xuyết một hệ thống tượng Phật giáo với cách bày trí như trên chính điện. Thông thường trong các Chùa chỉ bày một tượng này, song cũng nhiều Chùa đặt hai bên cửu long Thích Ca sơ sinh là hai tượng dạng vua, khá lớn (Phạm Thiên, Đế Thích) để trở thành một bộ tượng đầy đủ.

    8. Trong gian thượng điện, ở hai góc sau thường có đặt hai loại tượng Quan Âm, ban thờ bên trái là Quan Âm Nam Hải dưới dạng “thiên thủ thiên nhãn”, ban thờ bên phải là tượng Quan Âm Tống Tử hoặc cũng là Tọa Sơn.

    Vị Quan Âm thiên thủ thiên nhãn đôi khi được ngồi ở trung tâm điện chính, trong tư cách này, một số nghiên cứu lịch sử mỹ thuật thường ngờ rằng đó là một biểu hiện của sự gắn với thương mại, đôi khi yếu tố thương mại mạnh đến nỗi đã tạo ra những Chùa Quan Âm ở ven sông. Người Trung Quốc đang tìm cách minh chứng hình tượng của Quan Âm thiên thủ thiên nhãn được sáng tạo từ đời Đường (?).

    Hiện nay những cứ liệu khá chắc chắn đã cho chúng ta biết hình tượng này có rất ít từ thời Nguyên (thế kỷ 13). Ở đất Việt Nam, thì Quan Âm Nam Hải với hình thức thiên thủ thiên nhãn chắc chắn đã khá phổ biến từ khoảng giữa thế kỷ 16, khi nền thương mại đang trên đà phát triển mạnh.

    9. Quan Âm Tọa Sơn: đó là hình tượng một bà mẹ Việt Nam bế đứa bé ngồi trên núi, bên phải gần ngang vai có vẹt và bên trái thấp hơn thường đặt lọ nước cam lồ.

    Quan Âm Tọa Sơn cũng gọi là Quan Âm Tống Tử, nhằm nói lên đức từ bi của Ngài đối với chúng sinh. Ở đây đứa bé con là hiện thân của chúng sinh đau khổ được Quan Âm cứu vớt.

    [​IMG]
    Tượng Quan Âm Tống Tử chùa Mía (Sơn Tây)​

    Thị giả cho Quan Âm thường có Kim Đồng và Ngọc Nữ là hai chúng sinh cụ thể và điển hình, xin được theo Ngài làm đệ tử.

    Hiện nay chúng ta mới chỉ có gặp tượng Quan Âm Tọa Sơn có niên đại chắc chắn vào khoảng đầu niên đại thế kỷ 17. Với hình tượng như kể trên , người Việt như dân gian hoá dần làm nảy sinh câu chuyện về Thị Kính.

    Một ý kiến khác ngờ rằng Ngài là bà mẹ Đất được Phật giáo hóa, bắt nguồn từ câu chuyện về anh hùng văn hóa Ma-ui của người Maori thuộc một đảo nhỏ của Châu Đại Dương: buổi khởi nguyên mặt trời chạy rất nhanh khiến con người không làm gì để sinh sống được. Lúc đó có ông Ma-ui rất là thương dân, ông đã nhặt một chiếc xương bả vai của con bò làm vũ khí và rình ở phía đông. Khi mặt trời vừa ló lên, ông chém một nhát làm mặt trời bị què. Và từ đó ngày và đêm dài ra, con người mới được hạnh phúc như ngày nay. Nhưng con người cứ lần lượt cứ nối nhau đi vào cõi chết, ông muốn cứu, nên đã chui xuống đi tìm bà mẹ Đất. Bà là một nữ thần khỏa thân luôn nằm ngủ. Ông lần đến cửa mình của Bà định chui vào tận tử cung để lấy ra chất vô nhiễm để cứu con người khỏi chết. Nhưng khi ông mới chui được nửa người, thì bị hẫng, chân đạp “lung tung” khiến con vẹt đứng canh bên tai mẹ Đất thấy lạ và cười lên rất to, làm bà tỉnh và ngồi dậy, ông Ma-ui bị gập người và chết, loài người không thể bất tử.

    Với sự tích này, hình tượng của Quan Âm Tọa Sơn hiện nay dể để cho chúng ta nghĩ tới một nguồn gốc từ bà mẹ Đất : Như vậy, từ vị trí của hai hình tượng Quan Âm kể trên thì phần nào đã phản ảnh một thực tế song song tồn tại của hai nền kinh tế cổ truyền là nông nghiệp và thương mại, một nhận thức thường trực của người dân Việt ở thế kỷ 16 và 17 trở về sau.

    10. Bộ Thập Diện Diêm Vương: thường được đặt ở hai bên sườn của thượng điện, bộ tượng này có mặt ở hầu hết mọi ngôi Chùa Việt hiện nay.

    Với nhiều Chùa lớn đôi khi người ta thay thế bằng các động phủ có nhiều nhân vật của thế giới âm ty – bao gồm: Diêm Vương, Phán Quan, Quỷ đầu trâu mặt ngựa, những tội nhân bé nhỏ, hệ thống tra khảo… cùng nhiều nhân vật và sinh vật khác.

    Trở lại bộ Thập điện phổ biến, thường chỉ xuất hiện vào giữa thế kỷ 19 và 20 - một vài Chùa, như Chùa Bút Tháp bộ tượng Diêm Vương không đầy đủ, hiện có niên đại sớm nhất, nhiều người xếp vào thế kỷ 18. Những tượng này đều có phục trang theo lối nhà vua,với mũ bình thiên, áo long bào, bao gồm: Tần Quảng Vương, Sở Giang Vương, Tống Đế Vương, Ngũ Quan Vương, Diêm La Vương, Thái Sơn Vương, Biến Thành Vương, Bình Đẳng Vương, Đô Thị Vương và Chuyển Luân Vương. Chức năng của các vị này là xét công tội khi sinh thời của các kiếp đời đã qua để thưởng phạt theo luật luân hồi. Nhưng tích cực hơn là nhằm giáo dục con người tránh ác hành thiện. Thực ra tượng này chỉ được đặt vào trong Chùa khi xã hội đầy nhiễu nhương và tiêu cực, một chứng tích tố cáo sự xuống cấp của xã hội dưới thời Nguyễn và thời thuộc Pháp.

    • Đặt bên trái ở phía ngoài của 5 pho tượng Diêm Vương thường có một tượng cùng kích thước, đó là Địa Tạng Bồ Tát, với hình thức phổ biến đội mũ tỳ lư, mặc áo cà sa. Ngài nguyện chưa trở về khi chưa cứu độ hết chúng sinh ở miền âm phủ.
    • Ở bên ngoài thuộc hàng Diêm Vương là hình tượng của một ông già râu trắng, mày trắng, phục trang quan lại, đó là vị Thổ Địa cai quản đất đai của chính khu vực Chùa.

    Nguồn
     
  4. chú tễu

    chú tễu Super Moderator

    Bài viết hay quá
     
  5. Hành Thiện

    Hành Thiện Moderator

    11.Tượng Kim Cương: mang hình thức võ tướng đầu đội mũ kim khôi, đỉnh mũ của các vị Khuyến Thiện thường có chiếc lá sen úp đội bình nước cam lồ, còn vị Trừng Ác đội chiếc giản có một hoặc ba mũi.

    - Thông thường, các tượng Kim Cương đều to lớn quá cỡ để biểu hiện về sức mạnh mang tính siêu nhiên. Các ngài thường đi “vân xảo”. Chiếc áo của tượng đầy những hoa văn biểu hiện cho sức mạnh và hạnh phúc nông nghiệp, cũng gọi là áo giáp nhẫn nhục, nhằm chống dục vọng (tham, sân, si, ái, ố, hỉ, nộ) nhờ đó mà giữ được tâm trong sáng và cương quyết như kim cương nên gọi tượng Kim Cương, với chức năng bảo hộ Phật pháp nên cũng gọi là tượng Hộ Pháp.

    - Trong tạo hình các vị Khuyến Thiện, thường có mặt hiền từ và sơn màu hồng phấn, còn các vị Trừng Ác có mặt đỏ dữ tợn, tay cầm pháp khí (pháp giới đao, pháp giới trùy…). Ở chùa Việt thường có hai tượng Kim Cương. Hệ thứ nhất là Bát Bộ Kim Cương (đầy đủ nhất từ cuối thế kỷ XVIII) gồm : Thanh Trì Tai, Tích Độc Thần, Hoàng Tùy Cầu, Bạch Tịnh Thủy, Xích Thanh Hỏa, Đinh Trì Tai, Tử Hiền, Đại Lực Thần. Hệ thống thứ hai phổ biến ở các ngôi chùa thông thường chỉ gồm hai vị Khuyến Thiện và Trừng Ác, được làm khá to lớn, nhiều khi bằng đất đắp. Các vị thường ngồi trên con lân, như mang tư cách dựa vào trí tuệ để lãnh đạo.

    12. Tượng Đức Ông: Hệ tượng này mới chỉ gặp vào niên đại cuối thế kỷ XIX về sau, thường ngồi buông chân trên bệ, dưới dạng một ông quan văn đội mũ cánh buồm, mặt đỏ, nặng tính tượng trưng. Đôi khi ở bàn thờ này có hai tượng phụ tá được làm nhỏ hơn ngồi hai bên, đó là Già Lam và Chân Tể. Đức Ông ngoài là Cấp Cô Độc, một vị trưởng giả giàu có nhưng đầy từ tâm, thường đem của cải giúp đỡ những người cô quả cô đơn mà thành tên. Ngài nghe Phật giảng đạo mà giác ngộ, đã tự bỏ tiền mua vườn của thái tử Kỳ Đà dâng cho Phật. Được Thích Ca tán than và cho cai quản tất cả mọi cảnh chùa của thế gian. Vì thế, bàn thờ của ngài thường được đặt ở phía bên trái nơi các khách hành hương cần phải tiếp cận trước khi vào lễ Phật., vì phải đi theo chiều quay chữ vạn nhằm tinh tấn thiện căn. Lễ bàn thờ ngài như một hình thức “xin phép” (kính báo) trước khi tiếp cận với chư Phật và Bồ Tát.

    13. Tượng Thánh Tăng: được đặt đối xứng với bàn thờ Đức Ông, ở phía bên phải tòa tiền đường, với hình tượng một nhà sư đội mũ tỳ lư thất Phật, cũng thường ngồi buông chân trái cầm chén nước cam lồ, tay phải trong tư thế thuyết pháp cứu độ. Thánh Tăng được người tu hành Việt Nam coi là A Nan Đà đại diện cho tất cả sư sãi của mọi thời đại (tăng là một trong tam bảo của nhà Phật, gồm Phật – người sáng tạo ra đạo Pháp; Pháp – giáo lý nhà Phật; Tăng – người truyền bá giáo lý đó để cứu đời). Hỗ trợ cho Thánh Tăng còn có Nhiệm Nhiên và Đại Sĩ để giáo hóa chúng sinh cõi bên dưới và cõi nhân gian.

    14. Tượng Tổ Truyền Đăng: (thường gọi là Thập Bát La Hán) gồm: tổ thứ nhất – Ca Diếp; thứ hai – A Nan Đà; thứ ba – Thương Na Hòa Tu; thứ năm – Đề Đa Ca; thứ bảy – Bà Tu Mật; thứ tám – Phật Đà Nan Đề; thứ chín – Phục Đà Mật Đa. Trên đây là các vị La Hán đã được khẳng định. Thứ mười – Hiếp Tôn Giả; mười hai – Mã Minh; mười ba – Ca Tỳ Ma La; mười bốn – Long Thụ Tôn Giả; mười sáu – La Hầu La Đa; mười bảy – Tăng Già Nan Đề; mười tám – Già Da Đa Sá; hai mươi – Xà Dạ Đa; hai bảy – Bát Nhã Đa La; hai tám – Bồ Đề Đạt Ma. Sở dĩ người ta không lấy liên tục 18 vị đầu tiên vì chưa đủ tư cách đại diện cho tất cả mọi thành phần trong xã hội; đồng thời cũng không nói lên được những bước phát triển chủ yếu của đạo Phật ở Ấn Độ và sự truyền bá sang phương Đông.

    - Bộ tượng Tổ Truyền Đăng đầy đủ và sớm nhất ở nước ta hiện nay được biết là ở chùa Tây Phương. Đây là bộ tượng được coi là chuẩn mực nhất trong hệ tượng Phật giáo Việt Nam, là sự kết hợp tinh thần đạo và đời được hằn lên trên từng khuôn mặt và làm cho mọi khách hành hương hầu như đều xúc động. Nhiều nhà nghiên cứu thường cho đây là một sản phẩm của tư duy Việt. Song, các hình tượng này không xa cách lắm với các bản vẽ trong sách Thiền Uyển Kế Đăng Lục (thư viện chùa Quán Sứ – Hà Nội). Có thể sách này đã được in lại trong thời gian gần đây, nhưng một số hình ảnh của các vị Tổ đó đã được khắc trên tháp quay của chùa Bút Tháp – Bắc Ninh, có niên đại giữa thế kỷ XVII, với hình dáng và phong thái không xa cách tượng chùa Tây Phương, đã giúp chúng ta một hướng để tìm về cội nguồn của những tượng kể trên.

    3. Một số nhận xét:

    Đứng về mặt tạo hình, điều chung nhất rút ra được từ tượng Phật giáo là:

    - Trên cùng một pho tượng thường các vị Phật và một số Bồ Tát có mặt sơn màu tử kim (vàng ròng) để biểu hiện về sự đã đạt đạo quả cao, đã nhập về miền thường trụ

    Một số vị khác có bộ mặt hồng phấn, là mang ý nghĩa còn lăn lộn với cuộc đời để cứu vớt chúng sinh.

    - Hầu như toàn bộ các tượng Phật và Bồ Tát đều để chân trần, nhằm biểu hiện tính chất đại từ bi của các vị (để mỗi bước đi tránh giẫm chết những sinh vật bé nhỏ).

    - Tất cả các tượng Phật của Việt Nam (trừ tượng Di Lạc và Dược Sư Lưu Ly Quang Phật) đều được thể hiện dưới dạng tóc kết các cuộn hình ốc, trên đầu có bướu nhục kháo (unisa). Đây là những biểu tượng gắn với trí tuệ, giác ngộ và siêu thoát…Tất cả các tượng Phật đều được ngồi ở hàng chính giữa, riêng bộ Tam Thế dàn hàng ngang.

    - Trong khi đó các tượng Bồ Tát thường vấn tóc lên đỉnh, bao bằng thiên quan (một hình thức kết hợp giữa mũ và khăn – thường là tượng của thế kỷ XVI, XVII) , cũng có khi chỉ vấn khăn hoặc đội mũ tỳ lư tròn hay tỳ lư thất phật. Đáng quan tâm ở các vị này thường ở đôi tay trong các dạng kết ấn như ấn Liên Hoa, ấn Mật Phùng, ấn Vô Úy, ấn Gia Trùy Bổn Tôn, ấn Tam Muội, ấn Cam Lồ, ấn Chuẩn Đề, ấn Thuyết Pháp, ấn Cứu Độ…Nhìn chung các tượng Bồ Tát đều mang đặc tính nổi bật về trí tuệ và từ bi, và phần nào nói lên những yếu nghĩa của Phật đạo.

    4. Đồ thờ nhân cách ở những ngôi chùa đặc biệt:

    -Chùa là một biểu hiện những giáo đường Phật giáo, có lẽ người Việt ít quan tâm đến việc tạo cho mình một chuẩn mực duy nhất về đồ thờ, nên tùy theo từng hoàn cảnh khác nhau mà người ta đã đặt đồ thờ nhân cách nhiều ít khác nhau. Nhưng cũng có nhiều ngôi chùa đã bị lệ thuộc vào đặc tính riêng mà bố trí tượng pháp thích ứng. Người ta có thể nhận thấy nhiều ngôi chùa nổi tiếng của cả một vùng như chùa Thầy, chùa Keo (cả Nam Định, Thái Bình), chùa Ông – Hưng Yên, chùa Bối Khê – Hà Tây…vốn xưa ít khi có sư trụ trì, mà thường chỉ có ông Thống hoặc bà Tự như những thầy cúng, nhiều khi mang tư cách gần gũi của phù thủy, thay dân cai quản ngôi chùa. Tất nhiên những ngôi chùa này tượng Phật giáo không nhiều. Vốn ở chùa Thầy chỉ có bộ Tam Thế Phật, rồi bộ Di Đà Tam Tôn có niên đại của thế kỷ XVI, XVII. Còn hầu như tất cả các tượng khác thường có niên đại muộn. Điểm nổi lên ở đồ thờ nhân cách tại các ngôi chùa này là tượng Đức Thánh và thờ thánh là chính. Người dân tới các ngôi chùa này chủ yếu để cầu thánh ban phúc, mà nhẹ phần cầu Phật cứu độ. Thông thường các tượng thánh dù cho mang gốc là nhà sư (Từ Đạo Hạnh, Minh Không, Nguyễn Bình An…) nhưng được người dân đương thời thường cho các ngài phục trang theo lối ngoài đời và hầu hết làm sẫm mầu (nhiều khi còn liên quan đến việc cầu đảo).

    - Cũng có nhiều ngôi chùa, theo nghiên cứu niên đại, chúng ta như ngờ rằng khởi nguyên thì trung tâm của Phật điện chỉ nổi lên một tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, phần nhiều là Quan Âm Nam Hải. Những chùa này thường nằm ở ven sông (sông Hồng, sông Đáy…), đây là một dạng chùa đặc biệt mà một số nhà nghiên cứu lịch sử học mỹ thuật ngờ rằng nó chỉ ra đời từ dưới thời Mạc ở thế kỷ XVI, tồn tại cho tới giữa thế kỷ XVII, rồi sau đó mới được đưa các tượng khác vào, làm cho Phật điện trở nên đông đảo. Đặc điểm là (ở nhiều ngôi chùa kiểu này) Quan Âm thường được làm to lớn và ngồi ở chính diện.

    5. Đồ thờ nhân cách ở những Quán hóa thân thành chùa:

    -Quán là những kiến trúc gắn với Đạo Lão và Đạo Giáo. Ở nước ta có thể có nhiều dạng Quán với những cách thờ khác nhau. Song cơ bản được tập trung vào hai dạng: dạng thứ nhất gắn với những Quán nặng yếu tố thần tiên, với ước vọng cầu trường sinh bất tử, có thể điểm ra như Bích Câu Đạo Quán với Tú Uyên – Giáng Kiều, rồi động Từ Thức…Ở những Quán này không có dấu vết cổ xưa, kể cả tượng thờ, kể cả những sự kiện liên quan đều có trước thời Mạc (Thường Tín – Hà Tây, nay gọi là chùa Mui), Hội Linh quán (Thanh Oai – Hà Tây, nay gọi là chùa Xổ), Linh Tiên quán (Hoài Đức – Hà Tây, chùa Linh Tiên), Lâm Dương quán (thị xã Hà Đông, nay gọi là Lâm Dương Quán Tự, cũng gọi là chùa Lâm Dương) có thể còn kể ra một số quán khác nữa. Đặc điểm ở các Quán này nổi lên ở hai chi tiết : một là, ngoài tượng của Lão giáo còn có cả tượng Phật giáo, song các tượng đều có niên đại muộn hơn tượng Lão giáo, điều đó có thể khẳng định yếu tố quán có trước, rồi sau đó chuyển hóa, hay đúng hơn là dân dã hóa để mang thêm tính chất chùa. Hai là, những quán này vượt qua yếu tố thần tiên của truyền thống cũ mà phổ biến với các thần linh của Lão giáo Trung Hoa. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phần nào chúng là sản phẩm thể hiện sự bế tắc về tư tưởng của Nho sĩ đương thời. Chính thông qua Nho sĩ mà các thần linh Lão giáo Trung Hoa được hội nhập vào đất Việt một cách khá trọn vẹn. Và, vì không có nền tảng trong quần chúng, nên giai đoạn này qua đi thì các Quán hóa thân thành Chùa mà vẫn tồn tại đến ngày nay.
     

Chia sẻ trang này