Danh Tướng Nguyễn Chế Nghĩa

Thảo luận trong 'Thần tích vị Thánh khác' bắt đầu bởi THIÊNTRƯỜNG_91, 26/12/11.

Lượt xem: 2,048

  1. THIÊNTRƯỜNG_91

    THIÊNTRƯỜNG_91 New Member

    Nguyễn Chế Nghĩa là danh tướng đời Trần, sinh năm 1265 trong một gia đình có danh vọng thuộc làng Cối Xuyên (còn có âm đọc là Hội Xuyên), huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, tước Nghĩa Xuyên Công.
    Ngay từ nhỏ ông đã có sức khoẻ lạ thường, giỏi cỡi ngựa và sử dụng giáo dài: thiên văn, binh pháp đều tinh thông, lại thích ngâm vịnh và làm thơ. Ông đầu quân dưới trướng Phạm Ngũ Lão, đánh thắng quân Nguyên ở Ải Chi Lăng khiến quân giặc phải khiếp sợ.
    Cuối năm 1287, có tin quân Nguyên sắp sang đánh nước ta, Nguyễn Chế Nghĩa được Hưng Đạo Vương cử dẫn một đạo quân lên tổ chức phòng tuyến chặn giặc dài hơn 100 dặm - từ ải Nội Bàng đến núi Kỳ Cấp ở Lạng Sơn. Khi quân Nguyên tạm chiếm Thăng Long, ông tổ chức dân binh đêm đêm đánh vào trại giặc, đã chỉ huy trận phục kích giặc ở đầm lầy cạnh đồng đay làng Kiêu Kỵ, diệt 300 địch. Do lập công xuất sắc, Nguyễn Chế Nghĩa được vua Trần phong tước Nghĩa Xuyên công trấn thủ đất Lạng Sơn (nay vẫn thuộc tỉnh Lạng Sơn) với chức Khống Bắc đại tướng quân và gả con gái yêu là công chúa Ngọc Hoa. Ít lâu sau, ông được thăng chức Thái úy. Nguyễn Chế Nghĩa được ghi nhận là người có tính tình trung hậu, thẳng thắn, không ngại gian lao, nên được coi là một tướng tâm phúc, tài giỏi của nhà Trần. Ông thường ngâm hai câu thơ trong Sầm Lâu tập là: "Soa lạp ngũ hồ vinh bội ấn; tang ma ế đã thắng phong hầu" và cho đó là cái đạo tự giữ vẹn mình của kẻ bề tôi. Nguyễn Chế Nghĩa là tướng tài, thuộc hàng quốc thích, đứng đầu ban võ, có lúc kiêm cả Lễ bộ Thượng thư. Khi tuổi cao, ông dâng sớ xin về nghỉ ở quê nhà, mãi mới được vua chấp thuận.
    Sử cũ chép: Bình sinh, Nguyễn Chế Nghĩa là người thẳng thắn, quyết không khoan nhượng với bọn nhũng nhiễu hại dân. Một lần, dự triều hội dâng kế giữ nước an dân, trên đường về Cối Xuyên, ông bị ám hại, mất ở quán Ninh Kiều (Cầu Nành) thuộc đất Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm. Hôm đó là ngày 28-8 âm lịch năm 1341.
    Tại làng Cối Xuyên ngày nay còn có đền thờ và lăng mộ của ông. Ngôi đền này đã được xếp hạng là di tích văn hoá cấp quốc gia. Tên ông còn được đặt cho một phố nhỏ nối phố Trần Hưng Đạo và phố Hàm Long, Hà Nội.
    Sự tích ông được chép trong Trần triều hiển thánh chính kinh tập biên. Có tư liệu cho hay, Nguyễn Chế Nghĩa còn để lại một bài thơ. Tiểu sử và thơ của ông không được chép trong sử hoặc một cuốn thơ văn chính thức nào mà chỉ tìm thấy trong thần phả thờ ông hoặc in phụ vào thần phả thờ Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn.
    Nguồn : http://www.vietgle.vn/
    Tài liệu tham khảo thêm :
    Nguyễn Chế Nghĩa - Ngọc phả

    Danh nhân Nguyễn Chế Nghĩa là một trong mười người nổi tiếng nhất triều trần. Sử sách chép về ngài không nhiều. Vì lí do đó xin cung cấp đến các bạn yêu lịch sử bản:


    An Nghĩa đại Vương Ngọc Phả


    ( Tiểu sử tóm tắt Nguyễn Chế Nghĩa ở sở công thần bộ lễ triều Nguyễn do thượng thư giao cho xã Phương Điếm)


    Đức thành hoàng trang Cối Xuyên (Cối Xuyên nhất xã lục thôn Gồm Đức Phong, Đại Liêu, Mỹ Long, Hoa Điếm, Tiên Nha, Vĩnh Dụ) nay là hai xã Hội Xuyên và Phương Điếm - huyện Gia Lộc. Ngài là Nguyễn Chế Nghĩa có nhiều vũ công, là đại tướng triều Trần.
    Ngài vốn dòng dõi thi lễ lớn lên là người thiên tư anh tuấn học vấn uyên thâm. Năm 12 tuổi đã có sức khỏe lạ thường, Cha mẹ ngài còn mời thầy về dạy võ, được thầy giỏi rèn luyện nên Ngài văn võ kiêm toàn. Những binh thư Tôn Ngô, Ngài đều thấu suốt, văn thuyết đều tinh thông. Trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, Ngài còn thục luyện bộ thái ất thần kinh và thuộc làu kinh dịch. Ngài cỡi ngựa bắn cung đánh trường múa đao đều giỏi. Ngài đã làm bài thơ nghĩa khí như sau:


    Định thiên lập địa trượng phu thân
    Chí khí đường đường mại đẳng luân
    Đàn Giáp khẳng mi tề sách sĩ
    Trước tiên tu hướng tấn năng thân
    Cơ tàng cử hỏa kiêm hoài tuyết
    Tích hiển đường yên giữ hán vân
    Lưu đắc càn khôn trung nghĩa tiết
    Cao đàm thiên cổ nhất hoàn nhân


    Năm 16, 17 tuổi tiếng hay văn võ của Ngài đã lừng lẫy nhiều nơi. Năm 17 tuổi Ngài đã đầu quân, nhà Vua và đức Hưng Đạo Vương đã thử tài bắn cung của ngài, môn bắn cung đã được khen là thần tiễn và Ngài được phong là tướng quân đi đánh giặc.
    Ngài đã đem dân binh của Lộ Hồng đi chặn giặc ở Nội Bàng. Ở Vạn Kiếp làm cho giặc phải tiến quân chậm chạp, Ngài cũng diệt được nhièu quân giặc nên xa giá nhà Vua đủ thời gian rút khỏi kinh thành. Uy danh ngài đã vang lừng từ cửa ải Chi Quan đến cửa ải Lê Quan. Ngài có hai con ngựa chiến giỏi là Long Câu và Long Đề đã giúp nhiều cho ngài trong chiến trận
    Năm 19 tuổi ngài đã đeo ấn tiên phong cùng tướng Phạm Ngũ Lão lên Lạng Sơn, Ngài đã lập 3 trại dân binh, Thử, Xa, Chúc để cản địch. Trận đầu ngài đã cầm quân đánh lui các tướng Nguyên là Trịnh Bằng Phi và Áo Lỗ Xích. Ngài đã được nhà Vua phong khống bắc tướng quân, Nhưng lúc đầu thế giặc còn mạnh quân ta phải tạm rút. Ngài lại được cử giữ Nội Bàng để chống giặc bảo vệ đại bản doanh của Đức Hưng Đạo Vương đang đóng ở Vạn Kiếp. sau đó ngài được giao giữ mặt trận từ Kiêu Kỵ đến đê Cơ Xá, để chặn giặc không cho chúng sang Lộ Hồng, nhiều trận ngài diệt hàng trăm giặc. Ngài lại đem quân phối hợp với Trung Thành Vương diệt đồn Giang Khẩu rồi lại đem quân chặn giặc ở đê Thiên Đức và ở An Hưng. Khi giặc rút chạy. Võ công của ngài đã góp nhiều với triều Trần đánh đuổi quân Nguyên ra ngoài bờ cõi
    Dẹp giặc xong nhà Vua lại giao cho ngài đi tổng trấn Lạng Sơn một thời gian ngài lại đi xứ Bắc quốc sau đó ngài được triệu về triều giữ nhiều chức như thái uý, đô úy Nghĩa Xuyên Công, Ngài lần lượt được phong thượng tướng, rồi đại tướng quân, Vua Trần đã gả công chúa Nguyệt Hoa cho ngài ( Lúc ngài là thượng tướng quân)
    Ngài la bậc lão thần Lần lượt thờ các Vua Nhân Tôn, Anh Tôn, Minh Tôn, Hiến Tôn nhà Trần với tước công và có lúc được giao đứng đầu văn võ, có lúc được giao cả chức lễ bộ thượng thư. Ngài rất cương trực đã giúp nhiều cho việc triều chính ở triều đình và phủ dụ thần dân nhất là những việc cấy hái tầm tang đê điều.
    Đến đời Trần Dụ Tôn thì Ngài bị ám hại. Vua còn dặn quan thái sử không được chép tên ngài vào sử ký. Thế là nỗi bi ai oan khuất của ngài không được rửa sạch mặc dầu triều đình vẫn làm Vương Lễ an táng và phong thần cho ngài là " An Nghĩa đại Vương"

    Công chúa Nguyệt Hoa và thượng vị hầu Nguyễn Sùng Phúc ( Con trai của ngài) không chịu nhận chức tước gì nữa, sau khi ngài mất chỉ ở nhà thủ tiết.
    Đến đời vua Lê Thái Tổ đã phong thần cho ngài: " Thượng đẳng phúc thần vạn đại huyệt thực" và đến đời Vua Lê Anh Tôn niên hiệu Hồng Phúc đã giao cho bộ lễ Viết lại Ngọc Phả của ngài xếp cuốn ngọc phả này vào sách bách linh của bộ lễ.

    Bản triều đã truy ơn và tiếp tục phong thần cho ngài: Tuấn lương đại Vương rồi quang y đại Vương cùng sửa lại ngọc phả trong sách bách linh của bộ lễ

    Tự Đức nguyên niên - Trung thu thần nhật thần lễ bộ thượng thư Đỗ Quang phụng soạn năm 1848


    Nguồn : http://nguoisaigon.vn/
     

    Bình Luận Bằng Facebook

Chia sẻ trang này