Bàn về ba mươi sáu

Thảo luận trong 'Thơ văn quán' bắt đầu bởi kuangtuan, 14/7/11.

Lượt xem: 892

  1. kuangtuan

    kuangtuan New Member

    Có một con số thường gặp trong văn học là số ba mươi sáu ( 36 ). Một con số thật chính xác nhưng nghĩa thì lại mù mờ!
    Nổi tiếng nhất là " Hà Nội băm sáu phố phường ". Nhiều người trong chúng ta đã được đọc tập bút ký nổi tiếng của Thạch Lam, viết năm 1943, mang tựa đề này. Trước Thạch Lam đã có bài thơ nói về phố phường Hà Nội như sau :
    Rủ nhau chơi khắp Long thành,
    Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:
    Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,
    Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay,
    Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giày,
    Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn,
    Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than,
    Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Đồng,
    Hàng Muối, hàng Nón, Cầu Đông,
    Hàng Hòm,hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè,
    Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre,
    Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà,
    Quanh đi đến phố hàng Da,
    Trải xem phường phố, thật là cũng xinh.
    Phồn hoa thứ nhất Long Thành,
    Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ.
    Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,
    Bút hoa xin chép nên thơ lưu truyền.
    Thơ và văn đều nói " Hà Nội 36 phố phường ". Hà Nội ngày xưa chỉ có 36 phố thôi à ? Điều đó có đúng không ? Chắc là sai ! Chỉ cần đọc câu ca dao:
    Hà Nội băm sáu phố phường
    Hàng Gạo, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh.
    cũng đã thấy hai phố, hàng Gạo và hàng Đường, không có tên trong bài thơ. Và còn rất nhiều phố nổi tiếng khác như hàng Lọng, hàng Quạt, hàng Đẫy, hàng Trống, hàng Bột, hàng Kèn, hàng Bún ... cũng bị bỏ quên. Trong công trình nghiên cứu lịch sử của " Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội ", cụ Hoàng Đạo Thúy đã đưa ra một loạt tên của 63 phố. Có thể vẫn chưa đủ vì danh sách của cụ còn thiếu phố Trường Thi (nơi tổ chức các kỳ thi ) và phố Trường Tiền ( nơi có sở đúc tiền ngày xưa ). Như vậy, có thể nói rằng thành phố Hà Nội cổ phải có từ 65 phố trở lên.
    Nhưng tại sao lại nói là " Hà Nội băm sáu phố phường " ? Con số 36 mang ý nghĩa gì ?
    Đào Duy Anh nhận xét rằng ba mươi sáu là " số nhiều hữu hạn chỉ toàn bộ " . Theo Hoàng Xuân Hãn thì " số ba mươi sáu là một phương-số mà người Á Âu đều coi là có đặc tính huyền bí " .
    Có thể vì vậy mà tác giả của bài thơ đã cố ý chỉ kể tên 36 phố, để làm tăng vẻ đẹp, nét thơ mộng của thành phố Hà Nội năm xưa ?
    Chúng ta còn gặp con số 36 ở nhiều chỗ khác.
    Giáng Kiều khuyên Tú Uyên (truyện Bích Câu kì ngộ) nên chọn cảnh tiên giới, xa lánh trần gian:
    Vẩn vơ trong áng phồn hoa
    Ba mươi sáu động, ai là chủ nhân?
    Toàn bộ cõi tiên ở trên núi gồm ba mươi sáu động. Núi nào, ở đâu, không ai biết được.
    Trong một tình huống khác, nàng Kiều cũng gặp con số vu vơ này:
    Thừa cơ lẻn bước ra đi
    Ba mươi sáu chước, chước gì là hơn ?
    Sở Khanh dùng lời người xưa "tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách" ( trong 36 chước, chạy là hay hơn cả) để dụ dỗ Kiều trốn khỏi lầu Ngưng Bích. Đố ai kể rõ được 36 chước là những chước gì, hay ho như thế nào? Bát Giới học được 36 phép biến hóa. Nhưng Tề Thiên còn giỏi gấp đôi Bát Giới, học được 72 ( hai lần 36) phép thần thông ( Tây du kí ). Cả hai vị đều chưa thi thố hết tài năng nên chúng ta đành chịu, ngồi chờ các đòn phép mới lạ khác.
    Yêu nhau tam tứ ( 3,4 ) núi cũng trèo
    Thất bát ( 7,8 ) sông cũng lội, tam thập lục ( 36 ) đèo cũng qua.
    Trai gái khi đã yêu nhau thì khó khăn tới đâu cũng sẵn sàng vượt qua. Dân ca quan họ Bắc Ninh có bài " Ba mươi sáu thứ chim ":
    Trên rừng ba mươi sáu thứ chim
    Thứ chim chèo bẻo, thứ chim chích chòe
    Người trồng tre cho tôi biết thứ tre
    ...
    Thoạt nghe hát chúng ta sốt ruột chờ đợi nhiều giống chim quý trên rừng. Nhưng bài ca chỉ đưa ra hai thứ chim quen thuộc của đồng quê, rồi nói qua chuyện khác. Chúng ta tò mò, sốt ruột vì con số 36. Làng Đồng Kỵ, tỉnh Hà Bắc, hàng năm mở hội từ mùng 4 tới mùng 6 tháng giêng. Ngoài những trò chơi, thi đốt pháo, hội làng còn có rước hình sinh thực khí từ đền về đình. Hai lễ vật tượng hình sinh thực khí của đàn ông và đàn bà được làm bằng gỗ ( gọi là nõn ) và mo cau ( gọi là nường ). Đám rước tới trước sân đình thì cử hành "vũ điệu âm dương", lồng hai vật vào nhau ba lần. Lễ xong thì tung hai sinh thực khí lên trời cho dân làng tranh nhau chụp bắt.
    Tục lệ này đã gợi ý cho câu ca dao rất trần tục:
    Ba mươi sáu cái nõn nường
    Cái gối đầu giường là ba mươi bảy
    Con số 36 thật là mờ mờ ảo ảo.* Một vài trích dẫn kể trên cho thấy rằng trong văn học, ngôn ngữ dân gian Việt Nam, " ba mươi sáu " thường được dùng để chỉ số nhiều một cách khái quát, không chính xác. Nó không phải là những số đếm của toán, của thống kê ... Hà Nội ngày xưa có nhiều hơn " băm sáu phố phường ".
    (Sưu tầm)
     

    Bình Luận Bằng Facebook

Chia sẻ trang này