Bài thơ tiên của Vân Hương Thánh Mẫu

Thảo luận trong 'Bài viết nghiên cứu Đạo Mẫu' bắt đầu bởi THIÊNTRƯỜNG_91, 3/1/12.

Lượt xem: 6,442

  1. THIÊNTRƯỜNG_91

    THIÊNTRƯỜNG_91 New Member

    Nguồn : http://vn.360plus.yahoo.com/bodacha88/article?mid=9

    Tiên nhân Thần nữ cõi nam thiên

    Tam thế giáng sinh sử dõi truyền

    Đại Yên,Trần Xá dòng Phạm Thị

    Tiên Hương Vân Cát ấy lương duyên

    Sòng Sơn Phố Cát phen đại chiến

    Đông Thành Kẻ Sóc nối dây duyên

    Anh linh hiển hách phù Nam Việt

    Chế Thắng tặng phong tối linh thiêng

    Vân Hương Thánh Mẫu (Thánh Mẫu giáng sinh tại Vân Cát- Tiên Hương, gọi chung đôi nơi là Vân Hương) giáng sinh ba lần :

    Lần thứ nhất Tiên Chúa phụng mệnh giáng sinh tại làng Vỉ Nhuế, thôn Quảng Nạp, xã Trần Xá, huyện Đại Yên, phủ Nghĩa Hưng trấn Sơn Nam, trong nhà thái ông họ Phạm hiệu là Huyền Viên, thái bà hiệu là Thuần Nhất hai người cùng một quê. Ở đời này Mẫu cũng luôn giữ chữ Trinh, hiếu thảo thờ phụng cha mẹ, sau hết hạn trần gian có xe loan đón rước Mẫu về chốn linh tiêu.

    Lần thứ hai do sơ ý đánh rơi ché ngọc mà Tiên Chúa bị giáng xuống cõi trần vào nhà thái công họ Lê tại thôn Vân Cát, xã An Thái, huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng.Thái công họ Lê tên húy là Đức Chính, thái bà hiệu là Phúc Thuần. Tới tuổi trưởng thành Tiên Chúa kết duyên cùng chàng Đào Lang họ Trần ở thôn An Thái (sau đổi là Tiên Hương).Tiên Chúa sinh được một người con trai đặt tên là Trần Nhâm.Ở kiếp này Tiên Chúa tại thế hai mốt tuổi thì về trời.

    Lần thứ ba Mẫu giáng trần tại Kẻ Sóc, lấy chồng họ Mai (là tái hợp với hậu thân của Đào Lang), sinh được một con trai (Có tài liệu nói là hai người con trai), được hơn một năm mẫu quay gót trở về thiên cung. Sau Ngọc hoàng ân chuẩn cho Mẫu được trắc giáng xuống cõi trần thường xuyên tiêu dao khắp nơi, được miễn vòng sinh tử luân hồi.Trong dân gian vẫn truyền tụng Thánh Mẫu Liễu Hạnh là một trong tứ bất tử của dân tộc.

    Thánh Mẫu giáng sinh lần thứ hai ngày rằm tháng tám (có nơi nói là mười ba tháng tám) tại làng Vân Hương.Trong lần này ngài đã ngao du khắp nơi và tới Tây Hồ. Sau khi đối thơ với Phùng Khắc Khoan ngài đã để lại bài thơ tiên tiết lộ danh tính. Nhân ngày tiệc đản sinh lần thứ hai : rằm tháng tám, Phúc Yên xin giới thiệu với các bạn bài thơ tiên và các dị bản thường thấy .

    Đoạn văn chầu giới thiệu từ lúc Thánh Mẫu gặp Phùng Khắc Khoan ở xứ Lạng tới lúc đối thơ ở Tây Hồ và để lại bài thơ tiên:

    Có phen xứ Lạng dong chơi

    Văn nhân lạc bước gặp người tài danh

    Chốn cảnh thanh vịnh thơ ngâm đối

    Bốn chữ đề như gợi sứ quan

    Gỗ đâu thời để nằm ngang

    “Băng mã dĩ tẩu” sửa sang Linh Từ

    Sai dân lập đền thờ Tiên Chúa

    Phùng sứ quân giục ngựa lai kinh

    Tây Hồ nước biếc long lanh

    Thảnh thơi dạo gót cảnh thanh tiêu sầu

    Ngắm hoa cỏ muôn màu khoe sắc

    Thoảng hương sen ngào ngạt gần xa

    Bỗng đâu mây khói nhạt nhoà

    Lầu thơ quán rượu xa xa tới gần

    Lạc bước chân tây hồ phong nguyệt

    Thoảng mặt hồ gió quyện hương sen

    Văn nhân lạc lối cảnh tiên

    Thoáng trông chủ quán đôi bên cô hầu

    Nước trong xanh một màu biêng biếc

    Tràn ý thơ ngọc tuyết ngâm nga

    Thú vui nhấp rượu thưởng trà

    Bóng chiều xê xế gió là là bay

    Phút từ biệt chia tay chủ khách

    Để nỗi niềm cảm kích bâng khuâng

    Chạnh lòng quán cũ hỏi thăm

    Gió đâu hiu hắt lăn tăn mặt hồ

    Quán đâu thấy nhấp nhô gợn sóng

    Rặng liễu bồ vắng bóng Tiên nhân

    Gốc cây thơ hoạ đôi vần

    Khách tiên kỳ ngộ duyên trần biết chăng.

    Thơ:

    Vân tác y thường phong tác xa

    Triêu du Đâu Suất mộ yên hà

    Thế gian dục thức ngô danh tính

    Nhất đại sơn nhân ngọc quýnh hoa

    Tạm dịch bài thơ là:

    Mây làm xiêm áo, gió làm xe

    Sáng chơi Đâu Suất, chiều mây khói

    Người trần muốn hỏi tên ta nhỉ

    "Nhất đại sơn nhân ngọc quýnh hoa"


    Câu cuối của bài thơ "nhất đại sơn nhân ngọc quýnh hoa" Phúc Yên để nguyên tác tiếng hán mà không dịch thành câu thơ nôm dễ hiểu như bao người đã dịch.Có lẽ dịch bằng văn xuôi cũng đá khó nói tiên ý của Thánh Mẫu huống chi là gò ép nghĩa lý trong bảy chữ của bài thơ. Bài thơ được viết theo thể chữ nho như sau:


    [​IMG]


    [​IMG]


    Vậy danh tính của Tiên Chúa được tiết lộ là "Thiên Tiên Quỳnh Hoa"

    Chữ 'nhất" ghép với chữ "đại" thành chữ "thiên", chữ "sơn" ghép với chữ "nhân" thành chữ "tiên", chữ "ngọc" ghép với chữ "quýnh" thành chữ quỳnh

    "Thiên tiên quỳnh hoa" là danh hiệu Thánh Mẫu mà đời đời truyền tụng, và từ xưa đến nay việc đọc trực tiếp danh hiệu của tiên thánh được coi là tối kị, là phạm húy vì vậy phải đọc chệch, đọc tránh đi.

    Vốn dĩ câu thơ này có nhiều dị bản như" nhất đại sơn nhân ngọc quỳnh hoa"; hay "nhất đái sơn nhân ngọc quỳnh hoa"(trích trong sách "đạo mẫu ở việt nam" do Ngô Đức Thịnh chủ biên) vì vậy cũng nhiều cách dịch nghĩa như "một người trên núi lớn tên là Ngọc Quỳnh Hoa"; hay một Ngọc Quỳnh Hoa trên núi lớn, hay một người đáng tôn kính trên núi tên là Ngọc Quỳnh Hoa ( đái sơn nhân: từ đái có nghĩa là tôn kính).Như vậy ba chữ cuối bài thơ " Ngọc Quỳnh Hoa" được nhiều người hiểu lầm, bởi có lẽ là thừa chữ ngọc và đọc như vậy có thể coi là phạm húy.Thơ tiên tất nhiên có ý Tiên, người phàm đâu dễ thấy, đâu dễ hiểu. Vậy cuối cùng ta đi đến kết luận cách đọc hợp lẽ của bài thơ tiên với câu cuối cùng cần hiểu rõ là " nhất đại sơn nhân ngọc quýnh hoa" với "tiên ý" tiết lộ danh hiệu của Thánh Mẫu là "Thiên Tiên Quỳnh Hoa"
     

    Bình Luận Bằng Facebook

Chia sẻ trang này