Bản Văn Chầu Bát: Điển Tích Lịch Sử, Ý Nghĩa Tâm Linh Và Nội Dung Đầy Đủ Chi Tiết Nhất

Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ – Tứ phủ là một di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được UNESCO công nhận. Trong hệ thống thần điện đồ sộ của Đạo Mẫu, hàng Chầu Bà giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Các vị Chầu Bà là những bậc thánh hiền từng có công lao to lớn với dân với nước, khi thác hóa linh ứng phò vua giúp dân, bảo hộ cho bờ cõi bình an. Trong đó, Chầu Bát Tiên La (hay còn gọi là Chầu Tám Bát Nàn, Đông Nhung Đại Tướng Quân) là một trong những vị Thánh Chầu tối linh, mang đậm dấu ấn lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam từ thời kỳ khởi nghĩa Hai Bà Trưng.Để giúp bạn đọc, các thanh đồng, đạo quan và những người yêu thích văn hóa tâm linh có một cái nhìn toàn diện, sâu sắc và chính xác nhất, bài viết này sẽ cung cấp đầy đủ về điển tích lịch sử, ý nghĩa tâm linh, nghi thức hầu đồng và đặc biệt là trọn bộ Bản văn Chầu Bát đầy đủ, chuẩn xác theo các nguồn tư liệu cổ truyền.

1. Điển Tích Lịch Sử Về Chầu Bát Tiên La
Thân Thế Của Nữ Tướng Vũ Thị Thục
Theo các tài liệu thần tích, thần sắc còn lưu giữ tại đền Tiên La (huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) và miếu thờ tại xã Phượng Lâu (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) do Đông Các Đại Học Sĩ Nguyễn Bính soạn năm Nhâm Thân (1572) thời Hậu Lê, Chầu Bát chính là Bát Nàn Công Chúa Vũ Thị Thục. Bà sinh ngày 15 tháng 8 năm Giáp Tuất (năm 14 Công Nguyên) tại trang Phượng Lâu, quận Giao Chỉ (nay thuộc xã Phượng Lâu, Việt Trì, Phú Thọ).Bà là con gái duy nhất của thầy thuốc Vũ Công Chất và bà Nguyễn Thị Hạnh – một gia đình có truyền thống nho y, giàu lòng nhân ái, luôn bốc thuốc cứu người và được dân làng kính trọng. Từ nhỏ, Vũ Thị Thục không chỉ nổi tiếng là người con gái có dung nhan tuyệt mỹ, hiền thục, nết na mà còn bộc lộ tư chất thông minh hơn người. Bà ham mê đọc sách bách gia chư tử, sớm tinh thông binh pháp và có võ nghệ cao cường, bắn cung bách phát bách trúng. Khi đến tuổi trưởng thành, bà bén duyên và đính hôn với danh sĩ Phạm Danh Hương, một người con trai khôi ngô, tuấn tú cùng chí hướng ở trang bên.
Nợ Nước Thù Nhà Và Ngọn Cờ Khởi Nghĩa Mê Linh
Thời bấy giờ, nước ta đang bị nhà Đông Hán đô hộ dưới ách thống trị tàn bạo của Thái thú Tô Định. Hắn là một kẻ tham lam, tàn bạo và hiếu sắc. Nghe danh tiếng về sắc đẹp và tài năng của Vũ Thị Thục, Tô Định đã cho quân lính đến ép duyên bắt bà làm thiếp. Nhận thấy bộ mặt xảo quyệt và dã tâm của kẻ thù, Vũ Thị Thục cùng gia đình đã thẳng thừng cự tuyệt.Tức giận trước sự phản kháng đó, Tô Định đã hạ lệnh cho quân lính sát hại dã man cha mẹ và vị hôn phu Phạm Danh Hương của bà, đồng thời san phẳng dinh cơ trang Phượng Lâu. Đứng trước cảnh mất mát đau thương tận cùng, lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí trả thù nhà, đền nợ nước đã rực cháy trong lòng người con gái đất Phượng Lâu. Vũ Thị Thục phá vòng vây của quân giặc, một mình một ngựa mang theo thanh gươm báu chạy về vùng cửa biển đa dạng bãi bồi ven sông Hồng để mưu cầu đại sự.Bà dừng chân tại vùng đất Tiên La (nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Nơi đây lúc bấy giờ là một vùng sình lầy, rừng rậm rạp, lau sậy um tùm nhưng lại có vị trí chiến lược quân sự vô cùng quan trọng, thuận lợi cho việc công lẫn thủ. Tại đây, Vũ Thị Thục đã lập đàn tế trời đất, dựng cờ khởi nghĩa mang bốn chữ vàng “Bát Nàn Tướng Quân”. Bà chiêu mộ binh sĩ, ngày đêm luyện tập võ nghệ, rèn đúc vũ khí. Tiếng tăm của nữ tướng Bát Nàn vang lừng khắp một vùng xuôi, nghĩa quân tìm về tụ nghĩa ngày một đông đảo.Vào năm 40 Công Nguyên, cuộc khởi nghĩa Mê Linh do Hai Bà Trưng (Trưng Trắc và Trưng Nhị) phát động bùng nổ, nhận được sự hưởng ứng mãnh liệt của các hào kiệt khắp nơi. Nhận thấy đây là thời cơ ngàn năm có một để quét sạch bóng thù, nữ tướng Vũ Thị Thục đã đem toàn bộ nghĩa quân từ Tiên La về hội quân dưới ngọn cờ của Hai Bà Trưng tại Mê Linh.Trưng Trắc vô cùng mến phục tài năng, đức độ và ý chí của bà, đã phong cho bà chức vụ Đông Nhung Đại Tướng Quân, giao trọng trách làm tiên phong thống lĩnh cánh quân tiến đánh các tụ điểm của quân nhà Hán. Trong các trận chiến ác liệt, Đông Nhung Đại Tướng Quân luôn là người đi đầu, chỉ huy quân sĩ dũng mãnh tiến lên, đánh tan nhiều đạo quân sừng sỏ của địch, khiến kẻ thù nghe danh đã phải khiếp sợ. Cuộc khởi nghĩa thành công vang dội, đập tan chính quyền đô hộ, Tô Định phải cắt tóc cạo râu chạy trốn về nước. Trưng Trắc lên ngôi vua, phong thưởng cho các công thần, Vũ Thị Thục được phong là Bát Nàn Công Chúa.

Sự Hy Sinh Anh Liệt Và Sự Hiển Thánh
Niềm vui độc lập chưa kéo dài được bao lâu thì vào năm 42 Công Nguyên, Vua Hán Quang Vũ đã cử viên tướng lão luyện, mưu mô và tàn bạo bậc nhất là Phục Ba Tướng quân Mã Viện cùng hàng vạn quân tinh nhuệ, trang bị vũ khí tối tân sang xâm lược nước ta một lần nữa. Trước sức mạnh áp đảo của quân thù, Hai Bà Trưng cùng các tướng lĩnh đã kiên cường chống trả nhưng do chênh lệch lực lượng quá lớn, quân ta phải rút lui dần.Đông Nhung Đại Tướng Quân Vũ Thị Thục nhận lệnh rút quân về cố thủ tại căn cứ địa Tiên La (Thái Bình) để bảo toàn lực lượng và tiếp tục cuộc chiến đấu trường kỳ. Mã Viện đã tập trung một lực lượng quân đội khổng lồ, bao vây tứ phía vùng Tiên La, quyết tâm tiêu diệt bằng được cánh quân tinh nhuệ của bà. Dù bị vây hãm trong điều kiện lương thực cạn kiệt, vũ khí thiếu thốn, nữ tướng cùng các binh sĩ vẫn chiến đấu dũng cảm, kiên cường đến giọt máu cuối cùng, giữ vững trận địa qua nhiều tháng trời.Vào ngày 17 tháng 3 năm Nhâm Dần (năm 43 Công Nguyên), trong một trận chiến giáp lá cà vô cùng ác liệt tại gò Kim Quy bên bờ sông Tiên La, nhận thấy thế trận không thể cứu vãn, để giữ trọn khí tiết của một nữ tướng anh hùng, không chịu rơi vào tay giặc, Đông Nhung Đại Tướng Quân Vũ Thị Thục đã quỳ lạy tạ trời đất, cha mẹ rồi gieo mình tự tiết xuống dòng sông Tiên La xanh thẳm. Sự hy sinh anh dũng của bà là một khúc tráng ca bất tử về tinh thần yêu nước, bất khuất của người phụ nữ Việt Nam.Sau khi bà thác hóa, anh linh của bà không tan mà kết tụ thành khí thiêng sông núi, luôn hiển linh che chở, phù hộ độ trì cho nhân dân vùng châu thổ sông Hồng được mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, tai qua nạn khỏi. Các vương triều phong kiến Việt Nam về sau, từ thời Lý, Trần, Lê đến Nguyễn, ghi nhận công đức to lớn và sự linh ứng của bà, đã ban tặng nhiều sắc phong Thượng Đẳng Thần, suy tôn bà là “Ý Đức Đoan Trang Chiêu Kính Thượng Đẳng Thần”. Trong tâm thức dân gian Đạo Mẫu, bà được tôn vinh làm Thánh Chầu Đệ Bát, hay Chầu Bát Tiên La, ngự quản bản đền Tiên La tối linh.
2. Hệ Thống Các Đền Thờ Chầu Bát Tiên La
Để ghi nhớ công lao trời biển của vị nữ tướng anh hùng dân tộc, nhân dân đã lập đền thờ bà ở nhiều nơi, trong đó hai ngôi đền quan trọng và linh thiêng nhất gắn liền với cuộc đời bà là:
Đền Tiên La (Tỉnh Thái Bình)
Đây là ngôi đền chính, nơi thờ tự tôn nghiêm nhất, tọa lạc tại thôn Tiên La, xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Đền nằm trên một gò đất cao có hình dáng như một con rùa (gò Kim Quy), hướng mặt ra dòng sông Tiên La thơ mộng. Đền Tiên La được xây dựng theo lối kiến trúc “Tiền nhất, Hậu đinh” bề thế, từ kiến trúc gỗ đến các hệ thống cột đá, xà đá đều được chạm khắc vô cùng tinh xảo các họa tiết long, ly, quy, phụng, tùng, cúc, trúc, mai.Nơi đây lưu giữ nhiều cổ vật quý giá có giá trị lịch sử cao như các sắc phong thời Lê, Nguyễn, hệ thống hoành phi, câu đối cổ ca ngợi công đức của Đông Nhung Đại Tướng Quân. Hằng năm, lễ hội đền Tiên La diễn ra từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 3 âm lịch (chính hội vào ngày 17 tháng 3 – ngày hóa của Chầu) thu hút hàng vạn khách thập phương, thanh đồng, đạo quan về chiêm bái, dâng hương, hầu bóng xin lộc Chầu.
Đền Phượng Lâu (Tỉnh Phú Thọ)
Ngôi đền nằm tại xã Phượng Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, chính là nơi Chầu Bát sinh ra và lớn lên. Đền Phượng Lâu (hay còn gọi là miếu thờ Bát Nàn Công Chúa) được xây dựng ngay trên nền đất cũ của gia đình cụ Vũ Công Chất ngày xưa. Ngôi đền mang đậm kiến trúc vùng trung du Bắc Bộ, nép mình dưới những tán cây cổ thụ quanh năm rợp bóng mát. Đây là nơi nhân dân địa phương tổ chức ngày lễ kỷ niệm ngày sinh của Chầu vào ngày 15 tháng 8 âm lịch hằng năm để bày tỏ lòng thành kính đối với người con ưu tú của quê hương đất Tổ.
3. Nghi Thức Hầu Đồng Giá Chầu Bát Tiên La
Trong nghi lễ thờ mẫu Tam phủ – Tứ phủ, Chầu Bát đứng hàng thứ tám trong Thập Nhị Chầu Bà. Mặc dù đứng thứ tám, nhưng giá Chầu Bát rất hay được các thanh đồng mở khăn ngự đồng, đặc biệt là trong các ngày tiệc vui, lễ hội tháng Ba hoặc khi về bái yết tại bản đền Tiên La.Khi ngự đồng, Chầu Bát mặc y phục màu vàng (hoặc có một số nơi mặc màu xanh thắt dải lưng hồng, tùy theo phong tục của từng bản hội và vùng miền, tuy nhiên màu vàng là phổ biến nhất vì thể hiện cho sắc áo hành quân của nữ tướng). Đầu Chầu đội mũ tướng hoặc chít khăn củ ấu, thắt dải lưng hồng, chân đi hài thêu hoa. Sau khi làm lễ khai quang, dâng hương chứng sớ, trắc giáng điện tiền, Chầu Bát thường thể hiện điệu múa song kiếm (múa đôi kiếm) vô cùng oai hùng, dứt khoát nhưng không kém phần uyển chuyển, mềm mại. Điệu múa này nhằm tái hiện lại hình ảnh Đông Nhung Đại Tướng Quân oai phong lẫm liệt trên lưng ngựa ra trận đánh đuổi quân thù năm xưa.Sau khi múa kiếm, Chầu ngự tọa để nghe cung văn dâng văn ca ngợi công đức, dâng trà, dâng nước và tiến hành ban tài phát lộc cho các con nhang đệ tử, bách gia trăm họ có mặt tại bản đền. Lộc của Chầu Bát thường là những chiếc oản vàng, hoa quả, tiền tài và đặc biệt là những lá bùa bình an, cầu sức khỏe, tài lộc và sự hanh thông trong công việc.
4. Tổng Hợp Các Bản Văn Chầu Bát Tiên La Đầy Đủ Và Chuẩn Xác Nhất
Dưới đây là nội dung trọn bộ các bản văn Chầu Bát Tiên La được các nghệ nhân cung văn lưu truyền và sử dụng phổ biến nhất trong các khóa lễ hầu đồng hiện nay.
Bản Văn 1: Bản Văn Sử Thi Chầu Bát (Bản Dâng Hương Cổ)
Chân tâm thành kính dâng nhang
Khói bay nghi ngút thấu sang thiên đình
Thỉnh mời Chầu Bát anh linh
Tiên La hiển tích hiển thánh độ sinh độ người.
Nước Nam có bậc nữ tài
Phượng Lâu sinh hạ một mai hoa thần
Nghĩa nhân, tài sắc mười phân
Vũ gia tích đức sinh dân phụng thờ.
Trời se duyên thắm ước mơ
Phạm gia sánh ngọc đợi giờ kết tơ
Nào ngờ giặc Hán tàn ty
Tô Định bạo ngược nỡ di hại nhà.
Sát phu, hại mẫu, hại gia
Thù nhà nợ nước xông pha chẳng nề
Tiên La cửa bể đi về
Dựng cờ khởi nghĩa lời thề sắt son.
Đàn tràng tế cáo giang non
Bát Nàn Tướng Quân lòng son rạng ngời
Mê Linh dậy tiếng gọi mời
Hai Bà Trưng nữ rạng ngời chính chuyên.
Hội quân dưới trướng vương quyền
Đông Nhung Đại Tướng cầm quyền tiên phong
Đánh cho giặc Hán kinh hoàng
Tô Định chạy trốn bỏ hoàng thành đi.
Nước nhà độc lập duy trì
Nào ngờ Mã Viện gian ty kéo sang
Binh hùng tướng mạnh tràn lan
Tiên La cố thủ gian nan chẳng sờn.
Gươm thiêng vung oán căm hờn
Máu loang chiến địa nhuộm hồng cỏ cây
Mười bảy tháng Ba định ngày
Gieo mình tự tiết giữa ngày phong ba.
Khí thiêng kết tụ Tiên La
Sắc phong Thượng Đẳng nguy nga đền thờ
Trải bao cát bụi cuộc đời
Danh thơm Chầu Bát đời đời khói hương.
Hôm nay đệ tử dâng hương
Cúi xin Chầu Bát xót thương độ trì
Độ cho gia đạo hanh thông
Tài lộc vượng tiến, thọ trường an khang.
Bản Văn 2: Bản Văn Thỉnh Chầu Bát Cổ Truyền (Bản Cung Văn Hay Dùng)
Sử trung hoa đất Thái Bình
Hưng Hà thắng cảnh hữu tình bao la
Có con sông nhỏ Tiên La
Có đền Chầu Bát nguy nga đời đời.
Đông Nhung Đại Tướng giáng trần
Hóa thân phụ nữ vì dân trừ tà
Năm xưa giặc Hán gian tà
Đô hộ bờ cõi nước nhà lầm than.
Chầu bèn lập chí vẻ vang
Chiêu binh mãi mã dựng giàn luyện quân
Tiên La rừng rậm mười phân
Lòng dân hướng bái, nghĩa quân rợp trời.
Gươm thiêng vạch đất chỉ trời
Thề không chung sống cùng người phương Bắc
Mê Linh cùng với Trưng Vương
Cất quân dẹp loạn sa trường xông pha.
Thanh gươm yên ngựa xông ra
Đánh tan giặc dã quốc gia thanh bình
Trưng Vương phong tặng anh linh
Bát Nàn Công Chúa hiển vinh đời đời.
Gió mây chuyển vận đổi dời
Mã Viện gian xảo cậy thời binh đông
Kéo sang bờ cõi Lạc Hồng
Chầu bèn trấn thủ giữ dòng sông tiên.
Trận tiền dốc sức hai bên
Nữ trung oai liệt không nền kém ai
Nhưng vì vận nước thiên tai
Thất thế Chầu đã định bài thủy sinh.
Sông xanh gửi thác anh linh
Mười bảy tháng Ba hiển thánh về trời
Nhân dân thương tiếc khôn nguôi
Lập đền phụng sự đời đời khói hương.
A ha hải sái mười phương
Độ cho thiên hạ bốn phương thanh bình
Cúi xin Chầu Bát anh linh
Ngự về bản điện chứng minh lễ này.
Bản Văn 3: Đoạn Văn Múa Kiếm Khi Chầu Ngự Đồng
Khi cung văn gảy đàn tỳ bà, trống trận nổi lên dồn dập, Chầu Bát bắt đầu lấy kiếm để múa. Lúc này cung văn sẽ hát dọc hoặc hát gióng dồn dập để trợ hứng cho điệu múa của Chầu:
Nữ nhi chi chí can trường
Vung gươm sắc bén chiến trường xông pha
Ngựa hồng sải bước xa xa
Đông Nhung Đại Tướng thật là oai phong.
Kiếm vàng vung tựa rồng bay
Tả xông hữu đột giữa ngày gian nguy
Quân reo ngựa hí uy nghi
Đánh cho giặc Hán tan thây chạy dài.
Dưới cờ lệnh truyền một mai
Ba quân nghe lệnh lệnh bài tiến lên
Giữ vững bờ cõi bề trên
Tiên La oai vũ vững bền muôn năm.
Bản Văn 4: Văn Xá Chầu Bát (Hát Khi Chầu Chuẩn Bị Xe Giá)
Sau khi dâng trà, ban lộc xong, cung văn sẽ hát điệu xá để đưa tiễn Chầu về tòa:
Chầu Bát anh linh đã chứng tòa
Ban tài phát lộc cho gần xa
Con nhang đệ tử vui mừng quá
Cảm tạ ân thâm Thánh Chầu Bà.
Chầu huê xe giá phụng xa về
Tiên La cổ tích cảnh sơn khê
Nhớ ngày mười bảy tháng Ba tiệc
Bách gia trăm họ lại cùng về.
Xá sai Chầu Bát trắc giáng điện tiền
Chứng minh công đức, chứng lòng thiền
Xe giá hồi cung!
5. Giá Trị Văn Hóa, Tâm Linh Và Ý Nghĩa Giáo Dục Sâu Sắc
Tín ngưỡng thờ phụng Chầu Bát Tiên La không đơn thuần là một hoạt động tôn giáo, tâm linh mang tính chất mê tín, mà nó chứa đựng những giá trị văn hóa, lịch sử và giáo dục sâu sắc đối với các thế hệ người Việt Nam:
Tôn Vinh Tinh Thần Yêu Nước Và Sức Mạnh Của Người Phụ Nữ Việt Nam
Hình ảnh Đông Nhung Đại Tướng Quân Vũ Thị Thục là minh chứng hùng hồn cho truyền thống “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” của dân tộc ta. Trong dòng chảy lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, người phụ nữ Việt Nam không chỉ đảm đang, thục hiền trong gia đình mà khi tổ quốc cần, họ sẵn sàng gác lại tình riêng, cầm gươm ra trận, lập nên những chiến công hiển hách không thua kém gì các bậc tu mi nam tử.
Thể Hiện Đạo Lý “Uống Nước Nhớ Nguồn”
Việc nhân dân lập đền thờ phụng Chầu Bát suốt hơn hai ngàn năm qua, các triều đại liên tục ban sắc phong và ngày nay lễ hội đền Tiên La được tổ chức trang trọng hằng năm chính là sự cụ thể hóa của đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên ơn những người đã hy sinh xương máu để bảo vệ độc lập, tự do cho tổ quốc.
Sự “Lịch Sử Hóa Thần Linh” Trong Đạo Mẫu
Chầu Bát Tiên La là một nhân vật lịch sử có thật, có công trạng rõ ràng được ghi chép trong chính sử và thần tích. Việc bà được đưa vào hệ thống thần điện Đạo Mẫu Tứ phủ (hàng Chầu Bà) thể hiện xu hướng “lịch sử hóa thần linh” rất đặc trưng của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Người Việt đã thần thánh hóa những anh hùng dân tộc, biến họ thành những vị thánh bất tử để tiếp tục dựa dẫm về mặt tinh thần, cầu mong sự bảo hộ, che chở trong cuộc sống hằng ngày.
Góp Phần Gìn Giữ Và Phát Huy Nghệ Thuật Hát Văn, Hầu Đồng
Các bản văn Chầu Bát với thể thơ lục bát, song thất lục bát giàu nhạc điệu, kết hợp với các làn điệu hát văn như dọc, phú, xá, hãm… cùng các điệu múa cổ truyền khi hầu giá Chầu Bát chính là môi trường diễn xướng tuyệt vời để bảo tồn và phát huy các giá trị nghệ thuật truyền thống độc đáo của dân tộc, tránh bị mai một theo thời gian.
6. Những Lưu Ý Quan Trọng Khi Đi Lễ Và Hầu Giá Chầu Bát Tiên La
Để việc chiêm bái, dâng hương hay thực hiện khóa lễ hầu đồng giá Chầu Bát được trọn vẹn, trang nghiêm và đắc tài sai lộc, các thanh đồng và du khách thập phương cần lưu ý một số điểm sau:
- Thời Gian Đi Lễ Thích Hợp Nhất: Bạn có thể đi lễ đền Tiên La quanh năm, nhưng thời điểm đông vui, linh thiêng và là chính tiệc của Chầu là từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 3 âm lịch (ngày hóa của Chầu là 17/3 âm lịch). Ngoài ra, ngày 15 tháng 8 âm lịch (ngày sinh của Chầu) cũng là dịp thích hợp để về đền Phượng Lâu (Phú Thọ) hoặc đền Tiên La để dâng hương.
- Sắm Lễ Dâng Chầu: Lễ vật dâng Chầu Bát không cốt ở mâm cao cỗ đầy mà cốt ở lòng thành kính. Bạn có thể chuẩn bị lễ chay gồm: hương, hoa tươi (nên chọn hoa hồng vàng hoặc hoa cúc vàng), quả chín, oản đường màu vàng, trầu cau, chai nước. Nếu dâng lễ mặn, có thể chuẩn bị gà luộc, thịt lợn chín xôi trắng. Nếu làm đàn mã hầu đồng, người ta thường sắm một tòa mã màu vàng (áo, nón, hài, ngựa hoặc thuyền rồng màu vàng) để dâng tiến Chầu.
- Trang Phục Và Tâm Thế Khi Đi Lễ: Khi đến đền chùa nói chung và đền thờ Chầu Bát nói riêng, cần ăn mặc quần áo kín đáo, lịch sự, không mặc váy ngắn, quần cộc, áo hở hang. Khi hành lễ cần giữ tâm thế thanh tịnh, tôn nghiêm, không nói tục chửi bậy, không làm ồn ào ảnh hưởng đến không gian tâm linh của đền.
- Khi Hầu Đồng: Các thanh đồng khi ngự giá Chầu Bát cần chú ý thực hiện các động tác múa kiếm một cách oai nghiêm nhưng phải an toàn, tránh va quệt vào người xung quanh. Việc ban lộc, phán truyền cần trang nghiêm, đúng mực, thể hiện được cốt cách của một vị nữ tướng thánh hiền, bài trừ các hành vi lợi dụng đồng bóng để trục lợi hoặc phán truyền mê tín dị đoan.
7. Tổng Kết
Bản văn Chầu Bát cùng với điển tích về Đông Nhung Đại Tướng Quân Vũ Thị Thục là một tài sản văn hóa tinh thần vô cùng quý báu của dân tộc ta. Qua từng lời văn, tiếng đàn, giọng hát, hình ảnh vị nữ tướng anh hùng khôn nguôi sắc son với non sông đất nước lại hiện về mồn một trong tâm thức mỗi người con đất Việt. Việc tìm hiểu, gìn giữ và lưu truyền các bản văn Chầu Bát chính là hành động thiết thực góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, làm giàu thêm kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.Bạn đọc muốn tìm hiểu sâu hơn, tham gia thảo luận hoặc tham khảo thêm các dị bản hát văn cổ, các bản dịch chữ Nôm chuẩn xác của giá Chầu Bát cũng như các vị thánh khác trong hệ thống Tứ phủ, có thể truy cập và tham gia trực tiếp tại Diễn đàn Hát Văn Việt Nam. Đây là không gian uy tín, nơi kết nối những người có cùng niềm đam mê với nghệ thuật chầu văn và tín ngưỡng thờ Mẫu tại Việt Nam.