Tín ngưỡng dân gian của người Mường Hòa Bình

Thảo luận trong 'Phong tục Việt Nam' bắt đầu bởi sen việt, 10/8/12.

Lượt xem: 3,146

  1. sen việt

    sen việt Super Moderator


    [​IMG]

    Đối với người Mường cư trú tại Hòa Bình, tín ngưỡng giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần. Theo quan niệm truyền thống Mường, vũ trụ chia làm ba tầng, ba khu vực, phân bố trên một trục dọc. Ở giữa là Mường Pưa (mường bằng phẳng), thế giới của người sống. Ở đây, người sống tập hợp lại thành noóc (nóc nhà, tiểu gia đình), quêl (xóm), mường (địa vực gồm nhiều xóm) dưới sự cai quản của lang, đẳng cấp thống trị và âu (ậu), tay chân của lang. Mường Pưa là thung lũng và núi đồi, ruộng nước và nương rẫy, xóm và mường, nhưng cũng là Ke Chơ (kẻ chợ), vì người Mường không hoàn toàn loại trừ địa bàn của những tộc người khác, đặc biệt những tộc người đã sống cạnh họ từ lâu đời, như con T’đáo (tức người Kinh).

    Mường K’Lơi (mường trời), ở bên trên Mường Pưa, là nơi ngự trị của Bua K’lơi (vua trời) có các kem *** tá. Xã hội Mường cổ truyền không có vua, nhưng vì nhiều lý do lịch sử nên khái niệm vua rất quen thuộc với người Mường. Vua trời và các kem không thể chết, thời gian ở mường trời là vô tận. Nhưng không gian ở đây lại hữu hạn. Đấy là tận cùng của mường trời, nơi cao nhất trong hệ thống trục dọc của vũ trụ. Còn nơi thấp nhất của mường trời giáp với Mường Pưa là ở đâu, không ai xác định được, chỉ biết rằng đâu đó ngoài mường trời, trên đường xuống Mường Pưa có một con sông, khi lên trời, người chết phải vượt qua. Như vậy, giữa mường trời - thế giới siêu nhiên và Mường Pưa thế giới tự nhiên, có sẵn lối dành cho hồn người chết.

    Tầng thấp nhất có hai thế giới: dưới đất và dưới nước. Thế giới dưới đất là mương pưa tin (mường bằng dưới), không phải thế giới siêu nhiên. Ở đó có người, súc vật, nhà cửa, xóm mường, lang ậu, duy có một khác biệt: con trâu chỉ bằng con chó, con bò chỉ bằng con mèo, người lớn bằng trẻ con mười ba, mười bốn tuổi. Xưa kia Mường Pưa và Mường Pưa Tín có lối thông thương với nhau, đấy là một cái rông (lối thông miệng tròn) nối liền mặt đất với thế giới bên dưới, rồi một hôm, rông bị lấp đi và quan hệ giữa hai thế giới bị cắt đứt.

    Cũng ở tầng thấp nhất còn có mương pưa khu (mường vua khú), khác với mường bằng dưới ở chỗ nó được đặt dưới quyền trị vì của một ông vua. Khú là nhân vật huyền hoặc thường xuất hiện trong cổ tích và truyền kỳ Mường dưới dạng rắn lớn ở nước.

    Đến đây, có thể nói rằng: hệ thống vũ trụ của người Mường lấy Mường Pưa, thế giới của người sống, làm trung tâm. Mọi đường đi đều xuất phát từ đây, mọi thế giới khác đều quy tụ về đây. Tuy ở trong những không gian hữu hạn cả, mỗi thế giới đều có một bản chất riêng, sự thông thương giữa các thế giới bị hạn chế. Mường Pưa là cõi sống của người Mường. Mường Pưa Tín, vốn thông thương với Mường Pưa, cũng là thế giới tự nhiên, nhưng thấp kém hơn. Mường K'lơi là thế giới siêu nhiên hoàn chỉnh nhất, thời gian ở đây là vô tận. Mường Pưa Khu, mang nặng tính chất cổ tích hơn tôn giáo, cũng là một thứ thế giới siêu nhiên.

    Vũ trụ ba tầng bốn thế giới không nhằm đề ra một lời giải đáp nào cho thân phận cuối cùng của người vừa mất. Nó được sử dụng làm khung cho tư duy thần thoại để đặt ra vấn đề số kiếp của con người giữa trời và đất, giữa tư duy và bản năng.

    Người Mường Hòa Bình ngoài tục thờ thổ công, thổ địa và thành hoàng làng... còn có tín ngưỡng đa thần với quan niệm vạn vật hữu linh. Trong quan niệm xưa của họ, thần linh có thể là bất cứ thứ gì xung quanh cuộc sống hàng ngày như: mưa, gió, sấm, chớp, dòng sông ngọn suối, cây rừng đá núi... Điều này cho thấy đời sống tâm linh của người Mường gắn bó chặt chẽ với môi trường địa lý tự nhiên và đời sống xã hội mà họ sinh sống.

    Tín ngưỡng thờ đá: Người Mường thường thờ những hòn đá có hình thù kỳ lạ, liên tưởng đó là các vị thần, thánh đã giúp con người chinh phục thiên nhiên. Tục thờ đá được thể hiện rõ nét nhất ở trong lễ mừng nhà mới với các ông đầu rau (hòn nục chủ và hai hòn nục treo), thờ các vị chư thần thổ địa tại chùa Khánh (Cao Phong).

    Người Mường Tre (Văn Nghĩa, Lạc Sơn) thờ thần đá (bụt mọc). Khi khơi dòng lấy nước làm ruộng gặp phải hòn đá chắn dòng, dân bẩy đi chỗ khác để nước tiêu thông, hôm sau đá lại về chỗ cũ. Lại tiếp tục đẩy xa hơn nữa nhưng đá vẫn trở lại chỗ cũ. Dân lấy làm lạ bèn xem thấy đá giống hình người bèn mang về thờ. Từ đó dân làm ăn được, mưa thuận gió hòa nên họ lập miếu thờ thần đá.

    Tín ngưỡng thờ quả: Các loại quả có vị trí quan trọng khi con người còn tồn tại trong hình thái kinh tế săn bắt, hái lượm. Vị trí đó đã in dấu sâu đậm vào thế giới tâm linh, tín ngưỡng của người Mường, do đó họ có tục thờ quả. Họ đã chọn bầu, bí làm những linh vật để thờ cúng, như trong lễ mừng nhà mới, quả bí trắng để ông mo làm vật tế lễ tổ tiên.

    Tín ngưỡng thờ cây: Cho rằng có những loài cây có tính linh thiêng, là nơi trú ngụ của các lực lượng siêu nhiên, người Mường coi việc thờ cây có ý nghĩa quan trọng. Các loại cây được tôn làm vật thiêng và thờ cúng là si, chu đồng, đa, gạo... Các loại cây này xuất hiện rất sớm trong các tác phẩm văn học dân gian Mường, điển hình như mo Đẻ đất, đẻ nước, hoặc thường xuyên xuất hiện trong các lễ thức quan trọng của vòng đời người như lễ làm mụ kéo si để cầu mong cho người già sống lâu trăm tuổi.

    Người Mường còn có tục thờ mía trong các lễ nạ mụ (giả mặt người giữ vía), lễ tế nhà xe trong các đám tang cổ truyền hay trở thành lễ vật trong đám cưới truyền thống.

    Trong các ngày lễ mừng cơm mới, người Mường có tục thờ lúa nương. Họ quan niệm rằng cây lúa cũng có linh hồn, nếu chăm chỉ cầu khấn, lúa mẹ sẽ gọi vía các lúa con về sinh sôi nảy nở, giúp cho cuộc sống của dân mường thêm no đủ.

    Tín ngưỡng thờ mó nước (vó rác): Xuất phát từ nền văn hóa lúa nước và sống ở miền núi, nên các nguồn nước, mạch nước có vị trí đặc biệt quan trọng đối với đời sống của người Mường. Tại xã Mỹ Hòa, huyện Tân Lạc xưa có tục thờ thần mưa (ma khú). Hàng năm cứ vào dịp cấy lúa hoặc khi thời tiết không thuận lợi, người dân lại tổ chức lễ cúng cầu mưa thuận gió hòa để việc trồng cấy, canh tác được thuận lợi.

    Tín ngưỡng thờ động vật: Người Mường cho rằng thú rừng như hổ, báo, hươu, nai... đều là những con vật linh thiêng, vừa là nguồn thức ăn quý giá, vừa là vật tế lễ, chứa đựng những sức mạnh siêu hình, nếu con người thờ cúng chúng sẽ tránh được tai họa khi đi rừng và được tiếp thêm sức mạnh. Ngoài động vật trong rừng, các vật nuôi trong nhà như trâu, bò, lợn, gà... đều được cho là những con vật có linh hồn. Các bài mo trong đám tang cổ truyền có những đoạn kể tạ ơn các con vật đã gắn bó thân thiết với con người.

    Bên cạnh đó, người Mường còn thờ cả cóc (chàng hạc) là loài đã có công gọi mưa và đem lại sự sinh sôi nảy nở cho dân Mường... Hình tượng cóc đã được đúc trên mặt các trống đồng ở Hòa Bình còn được lưu giữ đến nay.

    Trong các đám tang còn thấy xuất hiện các hình tượng cờ con cá (đại diện cho động vật dưới nước), cờ con hươu (đại diện cho động vật trên cạn) để dẫn đường cho linh hồn người chết về với Mường trời.

    Tín ngưỡng thờ vật kiêng: Trong cộng đồng người Mường, tùy theo từng vùng hoặc từng dòng họ, có tục thờ các vật kiêng kỵ. Chẳng hạn người Mường ở Mường Bi, Tân Lạc kiêng đốn củi phi (si) vì cho rằng cây phi đã cứu cụ tổ Mường Bi trong nạn hồng thủy... Một dòng họ quan lang tại xóm Bắp, xã Xuất Hóa, huyện Lạc Sơn hay xóm Kem, xã Địch Giáo, huyện Tân Lạc không ăn thịt chó vì theo truyền thuyết, bà cụ tổ của dòng họ nhờ bú sữa chó nên mới tồn tại và gây dựng được sự nghiệp. Hay các vùng mường ở tỉnh Hòa Bình đều kiêng ăn thịt rùa vì quan niệm con rùa có ơn với tộc người, đã chỉ cách làm nhà sàn, mách cho con người biết vua trời xử kiện...

    Tín ngưỡng thờ nhân thần và thành hoàng: Thành hoàng, được coi là vị thần bảo trợ chung cho cả bản mường, là những nhân vật được thần thánh hóa hoặc những người có công khai sinh lập đất, xây dựng bản mường. Thành hoàng mường có thể là một hay nhiều vị, được thờ tại quán, miếu hay đình.

    Ngoài Thánh Tản Viên là một nhân vật nổi tiếng được thờ khắp vùng người Mường, các thành hoàng cụ thể ở từng nơi đều có lý lịch phong phú và đa dạng. Điểm qua một số vị thần được thờ sẽ thấy rõ điều đó:

    Bà chúa Thác Bờ, tên thật là Đinh Thị Vân, con gái một gia đình tộc trưởng người Mường ở Kim Bôi, Hòa Bình. Chúa xưa vốn là tiên nữ, giáng sinh vào nhà họ Đinh, sau này, đất nước gặp cơn loạn lạc, bà đã tập hợp dân Mường đánh đuổi quân xâm lược. Sau, bà được giao cho cai quản vùng đất Mường Hòa Bình. Bà giúp dân ổn định cuộc sống, dạy dân lên rẫy làm nương, xuống sông Đà thả lưới đánh bắt cá.

    Dân Mường Vang thuộc xã Cộng Hòa, Lạc Sơn thờ ông Quách Đốc, xưng là Vua Dù đất Mường Vang nên bị triều đình tức giận tìm cách lừa lên kinh thành và chặt đầu. Ông ôm đầu chạy về đất Mường Vang mới tắt thở. Vì thế dân lập đền thờ ông.

    Người Mường Chiềng, Mường Tôm (Tân Lập, Lạc Sơn) lại thờ một cái đầu lâu không rõ tung tích, trôi theo dòng suối lũ, trẻ chăn trâu nhặt được đặt lên gò thờ. Bọn trẻ thách đố nhau, một bên cầu khấn và ứng nghiệm mà thắng. Sau đó nhà lang biết chuyện bèn lập miếu thờ ở đầm Đụn, trung tâm cả vùng.

    Người Mường Tre (Văn Nghĩa, Lạc Sơn) lại thờ ả Đắng (thần đánh dơi), là con gái nhà lang đi vào hang Đắng bắt dơi, chẳng may bị kẹt trong hốc đá rồi chết. Do nàng rất thiêng nên dân lập miếu thờ.

    Hầu hết nhân dân các vùng Mường Hòa Bình đều xác nhận, xưa kia ở làng, xóm đều có miếu thờ thành hoàng. Một số nơi thờ những vị thần có những điểm tương đồng như vết tích của người Kinh như: ở Đền Vó Xăm (Yên Trị, Yên Thủy) thờ hai vị thần Trương Hống - Trương Hát. Điều đó chứng tỏ sự gần gũi giữa người Mường và người Việt.

    Tín ngưỡng thờ tổ tiên: Người Mường cũng thờ tổ tiên, tuy nhiên nghi lễ cúng không thường xuyên như người Kinh. Họ chủ yếu tổ chức cúng lễ vào các dịp tết Nguyên đán, mừng cơm mới, ngày làm vía, ngày cầu mát.

    Người Mường lập bàn thờ và đặt các bát hương cho đến bốn đời. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế của mỗi gia đình mà người ta làm bàn thờ, đồ thờ to nhỏ, cầu kỳ hay đơn giản. Bàn thờ được bố trí ở vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà. Ngoài bàn thờ chính thờ tổ tiên, bên trái có thể có bàn thờ khác thờ những người chết không con. Điều kiêng kỵ là không được nằm hướng chân về phía bàn thờ từ các phía trong nhà. Ngày giỗ là ngày chôn cất, không phải ngày chết.

    Với ước vọng sinh tồn gắn kết với tâm linh, trong cuộc sống gia đình truyền thống người Mường từ xa xưa đã hình thành một số nghi lễ sau:

    Lễ nạ mụ: Người Mường quan niệm mỗi đứa trẻ sinh ra đều có một bà mụ đỡ đầu, nếu là con gái thì ở cành si thứ 9, con trai ở cành si thứ 7. Khi đứa trẻ sinh ra, họ làm lễ nạ mụ. Lễ vật bao gồm: 1 cành si, 1 ngọn mía, 2 ống cơm lam, 2 đôi đũa bông, 1 lá đu đủ, 1-2 củ chuối, 1-2 củ khoai, 1 cái áo của con trẻ, 1 con gà (hoặc cá nướng), rượu, xôi, 2 bát cơm tẻ có lá chuối cuốn thành nón úp lên bát cơm, 1 cái nạ (được đan từ những thanh tre nhỏ).

    Thày mo làm lễ xong, gia đình lấy lá chuối, 2 đôi đũa, 1 ngọn mía dắt vào nạ và treo trên mái nhà, từ đây coi như hồn vía ở tại nạ. Ý nghĩa của lễ nạ mụ là làm nơi ăn chốn ở ổn định cho bà mụ để bà chăm lo cho con cháu hay ăn chóng lớn. Lễ nạ mụ không được thực hiện trong ngày tết. Khi rơi 1 trong các vật tại nạ mụ là điềm không lành nên phải làm lại. Nạ mụ chỉ được vứt đi khi người đó chết, không được vứt lung tung mà phải vứt lên các ngọn cây trong vườn.

    Lễ cầu mát: Dùng cho việc cầu phúc lộc, bình an cho gia đình, cầu cho con cái học hành, công tác tiến bộ, được tiến hành tại cửa voóng tôông (nơi cửa sổ chính, quan trọng nhất trong ngôi nhà sàn Mường). Lễ vật gồm 1 con gà, 1 con vịt luộc (hoặc cá nướng, trừ cá mè, cá trê, cá quả), 3 bát xôi, rượu, nước, trầu cau, đũa. Một mâm phụ gồm: 1 ấm, 3 chén, thuốc lào, chè, bên cạnh để 1 thớt, lá chuối, dao. Thày cúng làm lễ mời anh em Chàng Vàng về hưởng lễ và phù hộ cho gia đình làm ăn tấn tới, con cháu khỏe mạnh.

    Lễ nhóm lửa: Tổ chức khi một gia đình vừa xây cất xong nhà mới. Khi mới dựng các cột bếp, gia chủ lấy một bẹ chuối dài hình 3 con cá, dùng 1 cây nứa kẹp lại rồi buộc lên cột bếp để tránh hỏa hoạn, đồng thời đó cũng là lễ vật để cúng các ông đầu rau. Tại cửa bếp, gia chủ đặt một quả bí xanh, bốn góc bếp và giữa bếp bỏ vài miếng vỏ cây lúc lắc (núc nác).

    Trước khi đun nấu ở nhà mới, gia chủ làm lễ nhóm lửa, xin thần bếp cho đặt ba hòn đầu rau, trong đó một hòn tượng trưng cho vía chủ nhà. Chủ nhà mời một người già có uy tín, giỏi việc bếp núc tới nhóm lửa. Nếu lửa cháy ngay là điềm lành, gia chủ sẽ ăn nên làm ra, chẳng may lửa tắt thì phải mo một chặng dài, xin thần bếp cho nhóm lại lửa. Khi lửa cháy, gia chủ mời thày cúng và người già ra ăn một bát cơm, một quả trứng, sau đó bảo con cháu trải chiếu mời cụ vào nghỉ ngơi. Đêm đến, dưới ánh sáng bếp lửa, gia chủ mời láng giềng và họ hàng đến uống rượu, rang thóc cho lũ trẻ ăn và chuẩn bị một rổ ốc luộc để thết đãi các bà, các chị. Sáng hôm sau, khi cụ già thức dậy, người nhà làm cơm ăn và bắt đầu một ngày mới. Người Mường tin rằng, làm như vậy gia chủ sẽ gặp nhiều may mắn khi đến ở nhà mới, bếp núc sẽ luôn vui vẻ, quanh năm có thức ăn để nấu.

    Lễ làm mụ kéo si (mụ thố): Khi trong nhà có người già, sức khỏe yếu, gia đình sẽ chọn ngày để làm lễ. Người con dâu trưởng trong gia đình sẽ phải mặc quần áo vá, đầu đội nón rách, đeo một chiếc bị, tay chống gậy đến các gia đình trong làng để xin mỗi gia đình một ít, gọi là xin thố, các đồ lễ cần phải xin là: gạo, muối, trứng và vải.

    Trong lúc đó, người nhà chuẩn bị một bó rạ (lúa), cắm cành si lên đó, buộc một sợi chỉ vào ngọn cành si. Sau khi đi xin thố về, người con dâu trưởng cắt một cành si, tốt nhất là cành mọc ở hướng đông. Đồ cúng lễ được bày ra một cái nia, lấy một cái cuốc con đặt vào nia cho thày mo hành lễ. Người nhà chuẩn bị thịt lợn, bày ra 5 mâm, một mâm riêng cho thày cúng. Thày cúng bắt đầu cúng lễ, khi cúng đến phần kéo si, con cháu sẽ ra cầm lấy sợi chỉ và kéo, thường là 2 lần và chỉ kéo ngược lại. Cúng lễ xong, con cháu hạ cỗ xuống và tổ chức ăn uống.

    Lễ cúng nhà ông công (thờ thổ công, thổ địa): Trong Mường Bi (Tân Lạc) nhà nào cũng phải có nhà thờ ông công, ông táo, chỉ duy nhất một mái. Nhà ông công chỉ đặt ở cổng, mục đích là để canh cổng, giữ nhà, không cho ma quỷ vào nhà. Nếu được làm trên đống mối xông là tốt nhất, nếu không có, người ta thường đắp đất tượng trưng. Mỗi tháng một lần, muộn nhất là 3 tháng 1 lần, người Mường tổ chức cúng lễ cho ông công, ông táo. Lễ vật là gà, xôi, rượu hoặc cá, nhưng không được dùng cá mè và chỉ nướng khô chứ không được nấu.

    Lễ tảo mộ (mát mả): Hàng năm vào tiết tháng 3 âm lịch, mỗi gia đình chuẩn bị 1 con lợn, gạo, rượu, xôi mời thày cúng mang ra khu mộ của gia đình, con cháu tổ chức rẫy cỏ, thay nước tại vò sành trên đầu mộ, sau khi cúng, hạ lễ và ăn uống ngay tại ruộng, công việc này do người con trưởng đảm nhiệm, các con thứ có trách nhiệm đóng góp.

    Ngoài ra, người Mường Hòa Bình có những tín ngưỡng liên quan đến vòng đời người, như: thờ cúng những vị thần bảo vệ thân thể, linh hồn cho người sống, những tín ngưỡng liên quan đến hôn nhân, tang tế, sinh nở... của con người, dòng họ.

    Về nhân vật thực hành tín ngưỡng của người Mường, có hai loại phổ biến nhất là ông tlượng và bà mỡi. Ông tlượng là người chữa các bệnh do ma dữ ám hại, xua đuổi, diệt trừ ma dữ, đồng thời thực hành nghi lễ và kể mo trong đám ma. Ngoài ra ông có thể làm ở một số nghi lễ khác, cũng có trường hợp chỉ làm nghề mo chứ không làm tlượng. Còn bà mỡi (đôi khi cũng có ông mỡi) là người thực hành các nghi lễ cúng chữa bệnh co vía của con người (giống như lên đồng của người Kinh). Khi nhà có người ốm, người dân mời mỡi đến cúng để chữa bệnh. Người làm mỡi phải từ 30 tuổi trở lên, thường trải qua một số sự kiện như ốm đau, tai nạn... Số người làm mỡi ít hơn làm mo. Mo có thể học được nhưng mỡi thì không thể. Người làm mỡi thường là người cao số và không truyền lại được cho con cháu.

    Khi làm mỡi, có bàn thờ riêng. Bàn thờ của mỡi thấp, đặt trước mặt bà mỡi. Có người vừa là mo vừa là mỡi. Người làm mỡi mệt hơn làm mo vì mỡi phải liên tục, xuất thần, còn mo có thể nghỉ khi mệt. Mỡi kiêng người chết, ít tiếp xúc, ăn uống ở nhà có người chết.

    Trong khi tín ngưỡng rất phong phú thì các tôn giáo chính thống lại nghèo nàn. Người Mường bảo lưu nhiều quan niệm và thực hành tín ngưỡng nguyên thủy, nhưng chưa phát triển cao và hoàn thiện về mặt giáo lý để trở thành tôn giáo. Đạo Phật và đạo Thiên chúa đã xâm nhập vào người Mường nhưng ảnh hưởng còn rất mờ nhạt. Có thể nói người Mường vẫn cơ bản sống với các tín ngưỡng nguyên thủy của họ.

    Tín ngưỡng dân gian đã tác động vào mọi mặt đời sống của người Mường, hình thành một hệ thống nghi lễ, phong tục tập quán bền vững trong sản xuất, đời sống xã hội và tâm thức, tình cảm, nếp nghĩ của mỗi người dân Mường. Tín ngưỡng đã đóng vai trò thiết yếu trong cuộc sống của con người và cộng đồng dân tộc. Sinh hoạt lễ hội diễn ra thường xuyên đã làm cho đời sống văn hóa tinh thần trở nên phong phú, góp phần quan trọng xây dựng kho tàng văn hóa dân gian đặc sắc của người Mường.

    Tuy nhiên, trong đời sống của người Mường còn nhiều yếu tố lạc hậu, hủ tục tồn tại, ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân, thậm chí trở thành tệ nạn có nguy cơ lan rộng trong sinh hoạt xã hội.

    Những năm gần đây, sự du nhập, tiếp thu thiếu chọn lọc các giá trị văn hóa, trong khi giáo dục văn hóa dân tộc tỏ ra bất cập, khiến việc quản lý văn hóa còn bị động và yếu kém. Mặt khác, do đời sống được nâng cao, người miền xuôi về đây du lịch, hành hương ngày càng nhiều. Các cơ sở tín ngưỡng cũ không đáp ứng nổi nên nảy sinh nhu cầu tu sửa, làm mới. Đó là một thực tế mà địa phương cần chú ý.

    Một số tín ngưỡng dân gian của người Mường mất dần đi, thay vào đó là những tín ngưỡng mới, pha trộn và không còn nguyên bản. Đặc biệt là tín ngưỡng nông nghiệp không còn như xưa, nhiều tập tục đã phai nhạt và chỉ đọng lại trong ký ức của người già. Đã có nhiều thay đổi trong lễ nghi thờ thần thánh của làng, bản. Việc trang trí nơi thờ cúng cũng đã có những yếu tố mới mang dấu ấn của xã hội công nghiệp. Chẳng hạn những ban thờ treo bóng điện màu, tạo nên màu sắc lung linh hấp dẫn, thậm chí có nơi còn dùng nến điện, cây hương điện để thờ.

    Để giữ gìn và phát huy những giá trị đặc sắc trong tín ngưỡng dân gian của người Mường Hòa Bình, xin đưa ra một số giải pháp.

    Nghiên cứu thêm về mối quan hệ giữa các tín ngưỡng của các dân tộc khác với tín ngưỡng của người Mường. Dưới tác động lẫn nhau giữa các tôn giáo, tín ngưỡng đã làm cho đời sống tâm linh của người Mường Hòa Bình phát sinh nhiều vấn đề mới cần được nghiên cứu như: tác động của tín ngưỡng trong các phong tục tập quán, trong các sinh hoạt văn hóa dân gian, trong các lễ hội, tín ngưỡng và luật tục; việc phát huy các mặt tích cực của tín ngưỡng truyền thống.

    Duy trì, bảo vệ và phát triển làng cổ người Mường một cách vững chắc. Có thể ví làng như nền tảng sân khấu lớn để trình diễn các sắc thái văn hóa, mất nền tảng này là mất tất cả. Cần có quan điểm nhìn nhận khoa học và thiết thực hơn đối với đời sống tín ngưỡng của người Mường thì mới phát huy được những mặt tích cực cũng như hạn chế các mặt tiêu cực của tín ngưỡng trong giai đoạn hiện nay.

    Việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, trong đó có tín ngưỡng dân gian của người Mường, cần phải có chương trình hành động cụ thể. Khẩn trương tuyển chọn, xây dựng, in sao các đĩa VCD, DVD, CD về các loại hình tín ngưỡng văn hóa dân gian để phục vụ cho việc giới thiệu, trưng bày, nghiên cứu, phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Đặc biệt quan tâm và có chính sách đãi ngộ đối với những nghệ nhân dân gian.

    Cần chú trọng hơn nữa việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật quy định cụ thể về các hoạt động tín ngưỡng.

    Gắn văn hóa tín ngưỡng vào việc xây dựng nếp sống văn hóa gia đình, mường bản. Kế thừa có chọn lọc những phong tục tập quán, những hình thức văn hóa tín ngưỡng truyền thống với việc xây dựng một nếp sống văn minh hiện đại đảm bảo được tính tiên tiến và giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc.

    Nguồn: Tạp chí VHNT số 334
     

    Bình Luận Bằng Facebook

  2. lsc

    lsc Member

    tlương, mỡi, ông mo. ông mo: tương đương thầy cúng ( không trừ ta, bắt ma. chỉ kêu thay lạy đỡ). chỉ những việc đơn giản.tluong: tuong đương thầy pháp. đi học phép, học cúng. có thiên binh thiên tướng. trong đám ma mời ông nàymỡi: đồng thầy nữ được thần linh bản địa chấm, không hầu đồng, chỉ lập thờ. khi làm viec thánh nhập trực tiếp. không đến đám ma. tru tà, giải oan, trừ trùng, xem bói, làm bùa....ông đồng: mỡi nam. tương tự mỡi nhưng là con trai..
     
  3. linkmiu

    linkmiu New Member

    tôi cảm nhận được nơi đất Mường này tồn tại một hệ thống tâm linh rất lâu đời, mạnh mẽ và hấp dẫn, cuốn hút.
     
  4. lsc

    lsc Member

    còn có nhà truyền đời nuôi âm binh, hại người. làng nào cũng có 1,2 nhà. chỉ khổ mấy nhà xung quanh. mà người trước biết, chết đi thì con cháu tự biết. nếu nhà này không hại người khác thì trong nhà ốm đau.có nhà nướng cá, cá chín lấy ra trong cá có bọ hung. có nhà rắn chui vào.có nhà vật nuôi trong nhà chết hết.đi ăn cỗ sợ nhất ngồi cùng mâm với những người này. tôi biết mấy truong hop di ăn cỗ về vài ngày sau về âm phủ luôn
     

Chia sẻ trang này