Thủy Tiên Thánh Mẫu sự tích văn

Thảo luận trong 'Thánh Mẫu chư vị văn' bắt đầu bởi phucyen, 8/7/11.

Lượt xem: 2,043

  1. phucyen

    phucyen Công thần

    a1aada36f7fdd23d7be26b9135dea644.jpg

    Thủy Tiên Thánh Mẫu sự tích văn



    Bỉ:


    Ba chừng nguyệt hiện hải chung linh
    Anh triệt ngân lưu mãn Động Đình
    Thủy Đế hoa khai sinh Ngọc Nữ
    Sơn giang hồng diệp kết lung linh
    Cương thường hốt biến hàm con lụy
    Tin nhạn thư đề hạnh Liễu sinh
    Phụng chỉ loan xa Tiên phản giá
    Thiên thu lãng kính thủy thanh bình

    Miễu:


    Chiều Đông Hải long lanh sóng bạc
    Nguyệt lầu lầu soi sáng non sông
    Nhớ xưa tích cũ Lạc Hồng
    Có nhà hào kiệt con Rồng cháu Tiên
    Vâng lệnh chỉ trấn miền Hải Thủy
    Tước Long Vương ngự chỉ bể Đông
    Nhờ uy gió lặng sông trong
    Âu ca cổ vũ ân mông tháng ngày
    Điềm ứng mộng rồng bay cửa vũ
    Nguyệt mãn tuần Long Nữ định sinh
    Hoa ghen vóc liễu in hình
    Văn chương nếp đất, thông minh tự trời
    Tài cung kiếm trần ai ví sánh
    Đức vẹn toàn: ngôn, hạnh, công, dung
    Tuổi vừa mười tám trăng trong
    Hay đâu lá thắm chỉ hồng tin trao
    Cũng là bậc anh hào danh ốc
    Tự Kính Xuyên lệnh tộc thế gia

    Thổng:


    Vốn xưa nối dõi nghiệp cha
    Gặp cơn nguy biến cảnh nhà điêu linh
    Một buổi sớm băng trình duyên hải
    Tìm bạn xưa kết nghĩa nương thân
    Thiên duyên đã rắp Châu - Trần
    Long Vương một buổi hành quân trở về
    Thấy khách lạ ngồi kề phía trước
    Ngỡ gian phi quản bước quân nhung
    Bắt về bệ kiến Triều trung
    Hỏi ra mới biết cũng dòng thi hương
    Ngắm dung mạo khác thường tục tử
    Chọn ngày lành định chữ “vu-quy”
    Cho cùng Long Nữ trở về
    Ba năm đèn sách vừa kỳ lập công
    Kể từ buổi mây rồng gặp hội
    Bảng vàng đề chói chói vinh phong
    Quyền ban chấp chới Triều trung
    Vinh hoa bõ lúc nhờ công tài bồi

    Bình:


    Ai hay lẽ thói đời đen bạc
    Mảng vinh hoa đã nhác tình xưa
    Bén mùi rượu sớm trà trưa
    Sênh sang mũ ngọc nhởn nhơ lầu hồng
    Điều ong bướm chập chờn hàng liễu
    Tiếng sơn cầm mát dịu êm tai
    Đế kinh có kẻ sắc tài
    Thảo Mai chữ đặt, lọt trời ai hay
    Nghe tin trạng cũng hay phong nguyệt
    Rắp tâm làm hầu thiếp cầu thân
    Nghề riêng sẵn có băng nhân
    Cũng phường sớm Sở, tối Tần bán mua
    Lệnh phu tướng chua từ lĩnh ý
    Vầy một nhà cát lũy thêm vui
    Đổi thay khôn xiết cơ trời
    Mưu sâu kia đã hại người thủy chung
    Bỗng có bạn cũng dòng thi lễ
    Bước du nhàn bèn rẽ thăm qua
    Kính Xuyên vừa buổi vắng nhà
    Thảo Mai dở thói nguyệt hoa tự tình
    Khách quân tử đinh ninh sau trước
    Công nương từ rảo bước vừa hay

    Dọc nhị cú:


    Mặn nồng dâng miếng trầu cay
    Vô tình bỗng xước cổ tay ai ngờ
    Chau nét liễu thẫn thờ e lệ
    Thiếp vì chàng há dễ như ai
    Tạ từ khách trở gót hài
    Rèm trong đã thấy Thảo Mai vội vàng
    Lời đon đả hỏi han vồn vã
    Cớ sao người khách lại vội đi
    Hay em thất ý điều gì?
    Công nương chỉ giáo việc chi ngại ngần
    Lời ngon ngọt mà lòng đã rắp
    Trá đồ thư một bức trong tay
    Gối hồng lót sẵn tờ mây
    Bình minh phu tướng dở hay chưa tường

    Phú chênh:


    Oanh thỏ thẻ tiếng vàng to nhỏ
    Siêu lòng chàng Quân tử hồ nghi
    Truyền vào Long Nữ tức thì
    Cầm tay ướm hỏi vãn vi sự lòng
    Cơn ghen bỗng đùng đùng nổi dậy
    Lửa hồng bào đốt cháy tâm can
    Tay đập còn vết rõ ràng
    Gối kia phòng kín mấy trang thư tình
    Khải sớ tâu đơn trì tức khắc
    Ruổi ngựa hồng cáo cấp đế kinh
    Sự đâu sóng gió bất bình
    Sui nên hạnh phúc tan tành từ đây

    Dọc nam cung:


    Nỗi oan ức trời hay trăng nhẽ
    Cắn răng đành gót lệ hàm oan
    Thâu canh lồng bóng trăng tàn
    Nghẹn ngào lệ ngọc, chứa chan thảm sầu
    Chợt tỉnh giấc trống lầu đã điểm
    Bỗng đầy nhà ong kiến xôn xao
    Lệnh bài mấy gã bước vào
    Theo sau kỵ mã gươm đao sẵn sàng
    Tuyên án luật hình ban sắc tứ
    Bắt đem đầy Long Nữ mười đông
    Bởi chưng thất tiết cùng chồng
    Làm gương cho khách má hồng mai sau

    Phú giầu:

    Chúa từ buổi dãi rầu sương tuyết
    Đầy non xanh bóng nguyệt hắt hiu
    Thẩn thơ nắng sớm mưa chiều
    Tiếng chim khắc khoải như khơi mạch sầu
    Tưởng nông nỗi dòng châu lã chã
    Trách ai làm hai ngả chia ly
    Từ nay hoa ở xuân về
    Cầu Ô lỡ nhịp, bến Khuê vắng thuyền
    Bứt dứt nhẽ thung huyên nghĩa cả
    Tấm thân này có xã chi đâu
    Lẽ nào nát ngọc trầm châu
    Vùi hao dập liễu bởi câu tam tòng
    Sót vì nỗi má hồng phận bạc
    Âu cũng đành bèo dạt mây trôi
    Sức này há kể chi ai
    Lòng trinh chuyển động đất trời chứng minh

    Nói:


    Cực thi nổi lôi đình phong vũ
    Truyền phép cho Long Nữ hóa thân
    Lốt vàng sáng tỏ xa gần
    Hươu, nai, hổ, báo, long, lân hộ trì
    Bầy điểu thú dâng hoa tiến quả
    Đủ no lòng mát dạ từ nay
    Hè về, thu mãn, đông bay
    Ngày qua tháng lại vừa đầy ba xuân
    Cơ tạo hóa xoay vần ai biết
    Đâu để người trinh tiết hàm oan
    Thanh Hoa bỗng có một chàng
    Long Vân lỡ hội lạc đường lâm chung
    Nghe tiếng khóc mà lòng ngao ngán
    Phải chăng người mắc nạn đâu đây
    Chập chờn như tỉnh như say
    Quanh co rẽ nẻo đường mây nhìn vào
    Chợt thấy khách má đào bối rối
    Chúa mừng mừng, tủi tủi hồ nghi
    Rằng: “tôi còn tỉnh hay mê
    Ba thu héo hắt thấy chi bòng người
    Bây giờ đã trăng soi ác lặn
    Chàng hãy còn thơ thẩn cớ sao”
    Gót tiên bầy tỏ tiêu hao
    An lòng thục nữ má đào hiềm nghi

    Sử thơ:


    Thưa rằng: “Tôi Liễu Nghĩ công danh lỡ hội
    Dặm đường trường thẳng lối quê hương
    Rừng Nga Sơn lỡ bước lạc đường
    Chợt nghe vẳng tiếng người than khóc”
    Ngâm:
    Cơ tạo đa đoan khéo giải người
    Công danh tựa thể nước triều trôi
    Cánh buồm bể hoạn sầu man mác
    Vó ngựa biên cương thỏa trí trời
    Nợ nước đinh ninh thề quyết trả
    Thù nhà nặng gánh dạ chưa nguôi
    Non sông bờ cõi cùng chung một
    Vũ trụ hân hoan tỏa sáng ngời
    Cờn hoặc kể chuyện Kiều:
    Giờ đây ác nặn trang soi
    Dục lòng hàn sĩ ướm lời bên hoa
    Rằng hay: “nàng ở đâu ta
    Sự tình oan khuất phân qua cho tường
    Tôi xin mở lối đưa đường
    Nhân duyên đã định cương thường nơi nao
    Vì đâu liễu ủ phai đào
    Ai ngăn gió các, ai nào thuyền quyên”
    - “Thiếp nay người dưới Thủy Tiên
    Nghiêm từ sớm đã định duyên giai kỳ
    Khăng khăng chọn đạo sướng tùy
    Xa nơi Thủy tộc trở về dương gian
    Nuôi chồng thi đỗ quan sang
    Mua thêm hầu thiếp là nàng Thảo Mai
    Tạo khang phút bỗng biến rời
    Trá đồ thư để hại người thủy chung
    Kính Xuyên chẳng xét sự lòng
    Nỡ đem bỏ Thiếp mười đông chốn này
    Trước sau xin tỏ người hay”

    Sử thơ:


    Nghe bày tỏ nên trang tài đức
    Rõ đục trong đâu phải tầm thường
    Trách ai kia chức trọng quyền sang
    So độ lượng không bằng người áo rách
    Nay thân thế, riêng mỗi người một cảnh
    Nhưng... mối lương duyên như đã định từ lâu
    Muốn cùng ai Ô thước bắc cầu
    Duyên trước lỡ, duyên sau ta lại nối
    Nghe quân tử lòng tơ bối rối
    Lĩnh ý chàng thêm mang tội cùng cha
    Vả còn chi trong ngọc trắng ngà
    Đền đáp lại lòng vàng quân tử
    Xin chớ nghĩ: “hiềm nghi việc nhỏ
    Ai bội lời thề có cao minh
    Nếu cùng ai không đẹp chữ duyên lành
    Xin thề thác giữa nơi rừng thẳm”

    Cờn nhị cú:


    Thôi thôi thiếp đội ơn lòng
    Từ nay ghi tạc chữ đồng giám sai
    Ví bằng nguyện được như lời
    Xá chi bể rộng sông dài quản bao
    Kim thoa cùng bức thư trao
    Thuận dòng Ngân Hán, ba đào biển Đông
    Cầm thay tay gõ ngô đồng
    Tự nhiên nổi trận đùng đùng phong lôi
    Thư này về đến Long Giai
    Tình can giãi tỏ, duyên hài sánh đôi

    Vãn:


    Chàng từ lĩnh ý vâng lời
    Cầm thoa rảo bước phương trời hải tân
    Thoa như có phép thần kỳ lạ
    Rút đường gần chửa quá năm canh
    Trăng tàn vừa lúc bình minh
    Ngô đồng đã thấy hiện hình xa trông
    Cầm thoa gõ ngô đồng tức tốc
    Thấy quân thần Thủy tộc hiện ra

    Hãm:


    ầm ầm nổi trận phong ba
    Rước chàng Liễu Nghị về tòa Thủy tinh
    Kim quy sứ tâu trình Ngọc bệ
    Bước ra mời Liễu Nghị vào trong
    Chàng bèn tâu trước bệ rồng
    Dâng thư bày tỏ sự lòng khúc nhôi
    Long Vương bỗng bồi hồi hoảng hốt
    Dao cắt lòng, lửa đốt tâm can
    Lệnh truyền tướng sĩ hai hàng
    Kíp theo Hoàng tử băng ngàn cứu ngay
    Nổi hiệu lệnh đan trì tức tốc
    Xuất binh kì Thủy tộc ruổi rong
    Mây bay gió cuốn đùng đùng
    Sấm sét vang, mưa sa, bão dật
    Quỷ cùng tà tán thất mọi nơi

    Dồn:


    Rước tiên về tới Long giai
    Kính Xuyên bắt tội, Thảo Mai đem đầy
    ốc bám cỏ phơi bày mặt nước
    Xá chi loài bạo ngược cường hung
    Liễu sinh thật đáng anh hùng
    Ra ban “Quốc Tế” vinh phong lộc tài
    Cõi thủ phủ quyền cai Hà Bá
    Tước “Không Hành” sứ giả Long cung
    Từ nay nước chảy suôi dòng
    Thuyền quyên có một, anh hùng không hai
    Nay Tiên Chúa đức tài gồm vẹn
    Chữ trinh tòng biến cố mới cao
    Ngẫm câu: “sắc bất ba đào”
    Hãy đem gương trước soi vào mình ta
    Trồng cây đức nở hoa mãi mãi
    Chữ “hại nhân - nhân hại” xưa nay
    Ngẫm xem thế sự cuộc cờ
    Đốt hương chúc mấy vần thơ trần tình
    Cầu Tiên Chúa anh linh giáng thế
    Ban phúc lành bốn bể chiêm ân
    Ngưỡng trông hộ quốc tỷ dân
    Sơn hà cẩm tú thiên xuân thọ trường.

    Thơ Mẫu

    (thơ cổ)

    Thư thư gửi lại, tuệ nhỡn soi cho
    Phận nữ nhi là gái viết vô
    Ân Thánh Đế xuống lòng trọng nữ
    Sinh làm đế tử, bởi hại thiên cơ
    Kể từ khi trứng nước ngây thơ
    Ân cúc dục xem bằng non nước
    Nhớ đến nỗi nguồn cơn sau trước
    Đức cù lao cám cảnh thung huyên
    Trách trăng già khéo cợt nhân duyên
    Dứt chỉ thắm mà giam vàng đá
    Đạo thương phu phụ
    Ước trăm năm chăn ấm gối êm
    Nghĩa đoạn sắt cầm
    Bỗng phút chốc hoa tan nguyệt nhạt
    Trách Thảo Mai ra lòng bội bạc
    Giả oan tình một bức đồ thư
    Giận Kính Xuyên đem dạ cả nghe
    Đầy dương thế mười đông sương tuyết
    Non xanh, nước biếc, núi cỏ, ngàn cây
    Bạn hươu nai, điểu thú, xum vầy
    Lấy gió mát trăng thanh làm bạn
    Ruột tầm vấn vít dạ én bồi hồi
    Đêm năm canh một bóng một người
    Tủi với nguyệt, mực bôi má phấn
    Ngày sáu khắc nửa sầu nửa hận
    Thẹn vì duyên lửa bỏ tay hồng
    Sự duyên này bởi tại hóa công
    May lại gặp một chàng nho sĩ
    Tên là Liễu Nghị, chức gọi tài trai
    Cửa vũ môn tam cấp bất hài
    Xin tạm kết tơ Tần chỉ Tấn
    Nghĩ duyên kiếp trăm năm an phận
    Hay đâu là cá nước rồng mây
    Chốn am thanh thề có cỏ cây
    Dạ khăn khăn về chầu Thượng Đế
    Nơi rừng thẳm nhuộm sa giọt lệ
    Lòng khăng khăng về chốn thủy quan
    Ngửa trôn ơn chỉ xích thiên nhan
    Xin mãn kiếp ba sinh hương hỏa
    “Mạc sử trần ai thương nguyệt hạ
    Tự vô băng thán đao hung chung” (*)
    Tổng số dòng: 287
    Tác giả: Phạm Văn Kiêm
    Nghệ sĩ: Trần TrungTiến
    Sáng tác: Ngày 22 - 9 - 1974 (tức ngày 7 - 8 - Năm Giáp Dần)​
    ______________________________________________________________________________
    Chú thích:
    (*) Dịch là:
    “Dưới trăng mờ mịt tang thương
    Tấc lòng băng tuyết không vương bụi hồng”
     
    Quan tâm nhiều
    NÓN TÀY CỔ TẠI HÀ NỘI
    NÓN TÀY CỔ TẠI HÀ NỘI bởi Mẹ đốp, 4/11/19 lúc 20:49
    Bài viết mới
    Last edited by a moderator: 24/10/17

    Bình Luận Bằng Facebook

  2. hoidongcacchua

    hoidongcacchua New Member

    bản văn hay nhưng hơi buồn đúng như thánh mẫu Đệ Tam...cảm ơn bạn nghe
     
  3. phucyen

    phucyen Công thần

    Bài viết đã cập nhật bản văn do cố nghệ nhân Phạm Văn Kiêm sáng tác. Mời quý vị tham khảo
     
  4. Soạn giả Phúc Yên như nghệ nhân Phạm Văn Kiêm thứ 2 vậy!
    Cảm ơn soạn giả !
     

Chia sẻ trang này