sưu tầm sách " TRẦN ĐOÀN VÀ SÁCH TỬ VI ĐẨU SỐ TOÀN THƯ "

Thảo luận trong 'Chiêm tinh – tướng số - tử vi' bắt đầu bởi nam sơn đạo nhân, 8/7/11.

Lượt xem: 24,677

  1. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    CHÙM SAO ĐI THEO LỘC TỒN


    Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ đưa ra lời giảng vỏn vẹn bằng bài phú ngắn như sau:
    Bác sĩ thông minh lực sĩ quyền
    Thanh long hỉ khí tiểu hao tiền
    Tướng quân uy vũ tấu thư phúc
    Phi liêm chủ cô, hỉ thần diên
    Bệnh phù đới tật, hao thoái tổ
    Phục binh quan phủ khẩu thiệt triền
    Sinh niên tọa thủ thập nhị sát
    Phương cảm đoán nhân họa phúc nguyên.
    Nghĩa là:
    Sao Bác sĩ thông minh, Lực sĩ chủ quyền. Thanh Long là hỉ khí, Tiểu hao là hư hao tiền bạc, Tướng quân tượng trưng uy vũ, Tấu Thư chủ về phúc trạch, Phi Liêm đại biểu cho sự cô độc, Hỉ Thần vui, Bệnh phù có tật bệnh. Đại Hao phá tổ nghiệp, Phục binh quan phụ vạ khẩu thiệt. Phải xét mười hai sát trên đây để đoán nguồn gốc họa phúc con người.
    Chú ý câu:
    Bệnh phù đới tật hao thoát tổ
    An sao theo kiểu Việt thì sao Bệnh Phù không có trong chòm Lộc Tồn chỉ có sao Trực Phù thôi còn sao Bệnh Phù lại bắn sang chòm Thái Tuế. Tiền nhân ta đã căn cứ vào bài phú về chòm sao Lộc Tồn trên đây để phát triển lời giảng đoán kỹ càng như sau:
    - Bác Sĩ: chủ về văn chương bác học, nếu nó đi với sao Thiên Riêu – Thiên y là cách thầy thuốc giỏi. Xin nhớ trong Tử Vi đẩu số toàn thư không có sao nào gọi bằng Thiên Y.
    - Lực Sĩ: là dòng tinh có tác dụng tăng hung họăc tăng cát khi nó đứng bên cạnh sao nào.
    - Thanh Long: Chủ về may mắn, có tốt lành tới, nó sẽ rất hay nếu đi cặp với Long Đức mà đứng tại cung Thìn, Thanh Long gặp Hoá Kỵ ví như rồng mây gặp hội. Thanh Long với Long Đức đồng cư ở Phúc Đức cung là nhà có mồ mã kết phát. Thanh Long đồng cung với sao Lưu Hà (không thấy có trong Tử Vi đẩu số toàn thư cái ngôi sao Lưu Hà này) là rồng vào biển khơi tha hồ vùng vẫy.
    - Tướng Quân: Oai vệ, quyền thế, đi cặp với sao Thiên Tướng là cách lưỡng Tướng càng nhiều quyền thế, Tướng Quân hội với Binh, Hình, Ấn thì võ nghiệp hiển hách. (Không biết Ấn đây là gì? Vì nên nhớ rằng hoá khí của Tướng Quân là Ấn nếu vậy sao không gọi là lưỡng tướng cách cho tiện, còn bảo có sao Quốc Ấn thì Tử Vi đẩu số toàn thư không hề thấy sao này.
    - Tấu Thư: Chủ về sắc phong ấn tín, hội với Hoá Kỵ ở miếu vượng địa là người tháo vát, giỏi giang, gặp Bạch Hổ trong Đại tiểu Hạn thường đắc ý về công danh và hỉ sự, hội cùng với Vũ Khúc, Đào Hoa, Hỉ Thần có thiên tướng về nghệ thuật diễn xuất sân khấu.
    - Phi Liêm: Đóng Thân Mệnh cung, con trai đa số goá vợ, con gái goá chồng, vì sao này chủ về cô độc, Phi Liêm đóng tại Dần cung gặp Bạch Hổ ví như hổ mọc cánh bay. Phi Liêm ngộ Hỏa Linh, Thiên Hình có thể chết trận.
    - Hỉ Thần: Chủ về sự vui mừng, đi cặp với Thiên Hỉ là người phong lưu hồ hết lại có hồ vơi lại đầy, tính tình dễ vui. Đại tiểu hạn có Song Hỉ thường toại ý bất ngờ, may mắn.
    - Bệnh Phù: Chủ bệnh tật nên nay ốm mai đau nếu ở cung Mệnh lại gặp sao Địa Kiếp thì bần khổ cơ hàn.
    - Phục Binh: Chủ về khẩu thiệt quyền biến giảo quyệt ở Mệnh cung thêm sát tinh là một tay thủ đoạn không thực với ai. Nhưng nếu hội với sao Thiên Hình Thiên Tướng thì nên vào võ nghiệp để mà hiển đạt. Gặp Địa Kiếp dễ bị mưu hại ngấm ngầm. Con gái Mệnh có sao Thai gặp Phục Binh ưa ngoại tình hoặc chửa hoang.
    - Quan Phủ: Chủ về miệng tiếng, kiện cáo, nó rất sợ hội với Liêm Trinh, Thiên Hình hay Thái Tuế nằm ở nơi hãm địa nhưng nếu những sao trên cư ở miếu địa thì Quan Phủ lại tốt, người có tài ăn nói.
     
  2. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    ĐẠI TIỂU HAO

    Hai sao này đóng ở đâu hao đấy, chỉ duy hai cung Mão Dậu được Song Hao mỗi sao đóng một cung lại rất hay, nó thuộc cách chúng thủy triều đóng trăm ngọn nước chảy về biển đông nhất là chính diệu của hai cung đó Cự Môn, Thiên Cơ, người giàu sang lắm.
    Tử Vi đẩu số toàn thư trong chương An Sao còn đưa ra Phi Thiên, Tam Sát gây thành thắc mắc không nhỏ. Vì lẽ Tam Sát ấy không phải là sao nào khác lạ mà chỉ là ba sao thuộc chòm Lộc Tồn tức Tấu Thư, Tướng Quân và Trực Phù với cách an như dưới đây:
    Dần Ngọ Tuất niên phi nhập Hợi Mão Mùi cung. Thân Tý Thìn phi nhập Tị Dậu Sửu cung. Hợi Mão Mùi phi nhập Thân Tý Thìn cung, Tị Dậu Sửu phi nhập Dần Tuất Ngọ cung.
    Ý nói người tuổi Dần Ngọ Tuất thì lần lượt theo thứ tự Tấu Thư, Tướng Quân, Trực Phù an vào các cung Hợi rồi Mão, rồi Mùi. Và cứ như thế cho các tuổi khác.
    Về lời giải đoán của Phi Thiên Tam Sát thì có bài ca rằng:
    Tấu Thư khẩu thiệt họa lai xâm
    Tướng Quân phi nhập hối tâm kinh
    Trực phù quan tai chung bất miễn
    Thử thị lưu niên Tam Sát tinh
    Nghĩa là:
    Sao Tấu Thư có họa khẩu thiệt
    Tướng Quân bay tới làm cho lòng kinh sợ
    Trực Phù gây lôi thôi đáo tụng đình
    Đó là ba lưu niên Sát tinh.
    Khoa Tử Vi Việt Nam không hề nói tới Phi Thiên Tam Sát. Tại sao có sự khác biệt như vậy? Lấy lý mà đoán thì có thể Tử Vi đẩu số toàn thư sai bởi lẽ nó tạo rắc rối vô cớ và thừa thải vô ích. Biết đâu chẳng do mấy ông giang hồ thuật sĩ bịa thêm ra.
     
  3. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    CHÒM SAO ĐI THEO THÁI TUẾ


    Theo cách an sao của Tử Vi Việt thì đi theo Thái Tuế có mười một sao khác là: Thiếu Dương, Tang Môn, Thiếu Âm, Quan Phù, Tử Phù, Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ, Phúc Đức, Điếu Khách, Bệnh Phù mỗi cung an một sao cho đủ 12 cung.
    Nhưng ở Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ có 4 sao đi theo Thái tuế mà thôi. Bốn sao ấy là: Tang Môn, Bạch Hổ, Điếu Khách, Quan Phù gọi là Tứ Phi tinh với lối an như sau:

    Tuế Quân tiền nhị thị Tang Môn
    Hậu nhị cung trung Điếu Khách tồn
    Đối chiếu Tang Môn an Bạch Hổ
    Điếu khách đối chiếu an Quan Phù.

    Nghĩa là:

    Trước Thái tuế hai cung an Tang Môn
    Sau Thái Tuế hai cung an Điếu Khách
    Cung đối chiếu với Tang Môn an Bạch Hổ
    Cung đối chiếu với Điếu Khách an Quan Phù

    Tại sao có khác biệt như thế? Cũng chẳng ai hiểu.
    Lấy lý đoán thì Tử Vi đẩu số toàn thư đúng hơn bởi lẽ những sao thêm của Tử Vi Việt không thấy có tác dụng gì cả hình như chúng ngồi cho đủ chỗ vậy thôi, hoặc nếu có lời đoán nào thì đều hoàn toàn gượng ép.
    Ví dụ: Thiếu Âm,Thiếu Dương ảnh hưởng với số ra sao? Chịu.
    Ví dụ: Tử Phù nếu hội với Thiên Lương, Đà La thường bị chứng đau ruột, kiết lỵ? Quá gượng ép.
    Rút lại cũng chỉ còn bốn sao Bạch Hổ, Tang Môn, Điếu Khách, Quan Phù. Tử Vi đẩu số toàn thư không thấy chép lời giải đoán cho bốn sao trên đây. Chỉ Tử Vi Việt có lời giải đoán như sau:

    - Điếu khách: Chủ ngôn luận, văn chương thì phú, hội với Song Hao, Tang Hổ là bộ bại tinh, chủ phá tài sản, gia trang, gây tật bệnh hình thương.
    Cư hãm địa, nói năng không cẩn trọng, ham mê chơi bời nhất là bài bạc và ly khắc tổ tông. Hội với Mã, Khốc lâm mệnh là người học vấn có tài hùng biện, mẫn tiếp rất khéo léo về ngoại giao.
    Mã Khốc Khách ví như ngựa có đủ bộ yên cương và nhạc.
    (trích Tử Vi Áo Bí của Việt Viêm Tử)

    Quan Phù: Chủ thông minh, cơ mưu, quyền bính, Quan Phù rất hợp với Thái tuế, Tuế phá hay hội với Cơ lương, Tang Hổ Hình miếu địa tăng thêm phần rực rỡ tốt đẹp về văn chương, binh nghiệp và tính chất của các sao này. Hội với Tuế Đà Hình Kỵ cư hãm địa thì khó tránh được ngục hình hoặc thị phi nơi công môn.

    Quan Phù Thái Tuế một đoàn
    Đêm ngày chầu chực cửa quan mỏi mòn
    (Trích Tử Vi Áo Bí của Việt Viêm Tử).

    - Bạch Hổ: Chủ oai hách quyền uy nếu ở miếu địa. Chủ hình thương tai họa nếu rơi vào hãm địa. Miếu địa của nó là cung Dậu vì theo Ngũ hành Bạch Hổ thuộc Kim, Dậu cung là chính vị của Kim cho nên gọi bằng hổ khiếm tây phương cách (con hổ gầm thét ở phía tây), Bạch Hổ cư Dần có người thì cho rằng rất tốt vì hổ cư hổ vị có người lại nói rằng không tốt vì cư Dần khác nào hổ đã xuất sơn lâm dễ gây hiểm nguy. Rồi lại thêm thắt các cách khác như:

    - Bạch Hổ hàm kiếm: nó hội Thiên Hình tại Dần cung nên càng tăng thêm sức mạnh.
    - Bạch Hổ Tấu Thư: là con hổ đội hóm sắc phong tặng.
    - Bạch Hổ Kình Dương: là cách văn chương oai hùng.
    - Giáp Hổ giáp Long: là bên cạnh cung Mệnh trước sau có cả Thanh Long lẫn Bạch Hổ.
    - Phượng Long Cái Hổ: là tứ linh tức Phượng Các, Long Trì, Hoa Cái, Bạch Hổ. Hội đủ bốn sao này cho Mệnh Thân thì sẽ không còn sợ hung sát tinh nữa.
    - Tang môn: Không có lời giải đoán riêng cho sau này chủ về những gì. Chỉ thấy rải rác tại vài câu phú đoán.
     
  4. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    LONG TRÌ - PHƯỢNG CÁC


    Tử Vi đẩu số toàn thư không có lời giải đoán cho Long Trì, Phượng Các. Tử Vi Việt giải đoán Long Trì, Phượng Các là những sao chủ về sự cao sang, đài các và vui mừng. Chúng đi với Nhật Nguyệt rất hợp cách.
    Tiền nhân ta đặt những câu phú nôm như sau:

    Phượng Long Mão Dậu đôi miền
    Vượng thì Kim bảng đề tên ở đầu
    Long Trì, Phượng Các hai sao
    Cung Mùi, cung Sửu đóng vào vượng thay
    Riêu, Hỉ, Khốc rồng mây gặp hội
    Chốn thi đình danh vọi vọi cao
    Cái cùng Long Phượng Hồng Đào
    Chủ quyền nội tướng anh hào hàng hai
    Phượng Long giáp mệnh có tài
    Trước sau vinh hiển ra ngoài nổi danh
    TAM THAI – BÁT TỌA


    Tử Vi đẩu số toàn thư không có lời giải đoán cho hai sao Tam Thai, Bát Tọa.
    Tử Vi Việt giải đoán Tam Thai, Bát Tọa là những sao nếu ở miếu địa chủ về văn chương, cát khánh, thanh quí dễ hiển đạt, nếu vào lạc hãm địa thì cô đơn, âm thầm.
    Tiền nhân ta đặt những câu phú nôm như sau:

    Giáp Bát Tọa, giáp Tam Thai
    Thiếu niên sớm dự lâu đài nghênh ngang
    Hỏa, Linh, Kình, Tấu đồng ban
    Tung hoành bút phượng trong làng văn nhân
    Bút hoa vùng vẫy văn phòng
    Tài riêng thiên phú người Tân Tốn Đoài
    Càn Hợi ngọn bút vẽ vời
    Mão Dậu bùa ấn bút người pháp sư.
    HỒNG LOAN – THIÊN HỈ


    Tử Vi đẩu số toàn thư không có lời giải đoán cho hai sao Hồng Loan, Thiên Hỉ.
    Nhưng trong “Mệnh học huyền vi trạch bí” có bài ca về Hồng Loan, Thiên Hỉ rằng:

    Thiên Hỉ, Hồng Loan nhập Mệnh cung
    Xuất nhập cầu tài sự sự thông
    Thả khán đào hoa khai diệm sắc
    Trùng trùng tương ngộ quí nhân phùng
    Hồng Loan Thiên Hỉ đa
    Đảm tửu hựu đảm nga
    Hữu thê sinh quí tử
    Vô thê thú cá nộn kiều nga

    Nghĩa là:

    Mệnh có Thiên Hỉ, Hồng Loan
    Làm việc gì cũng dễ trót lọt, con người tài hoa
    Nếu lại thấy cả hoa Đào nở
    Thì sẽ gặp nhiều quí nhân
    Nhưng đồng thời cũng là người ưa tửu sắc
    Có vợ, vợ sinh cho quí tử
    Chưa vợ lấy vợ đẹp tựa Hằng Nga.

    Lời giải đoán về hai sao Hồng Loan, Thiên Hỉ của tiền nhân ta có nhiều nét hay mà kỹ càng hơn như sau:
    Hồng Loan tại Dần, Mão, Tý, Hợi là miếu địa chủ sự thông minh, hoà nhã đẹp đẽ hội với sao Tử Vi tất trai lấy vợ hiền, gái lấy chồng sang. Hồng Loan hãm địa là dâm tà đa đoan. Các cụ có bài thơ phú rằng:

    Sao Hồng Loan hội cùng Tử Phủ
    Gái chính chuyên thục nữ ngàn xưa
    Hồng Loan ngộ Kỵ cung Phu
    Gái ngồi quạt mà lòng dạ xôn xao
    Hồng Cơ Tấu Vũ Hỉ Đào
    Câu ca điệu vũ nghề nào cũng tinh

    Sao Thiên Hỉ tiền nhân ta coi nó chủ về dung mạo tuấn mỹ hoặc là con người rất có duyên.

    Sao Thiên Hỉ chủ mừng vui
    Thiên Hỉ thủ mệnh miệng cười có duyên
    Hỉ Thần, Thiên Hỉ, Hồng Loan
    Ba sao đem lại hân hoan cho đời.
     
  5. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    THIÊN ĐỨC - NGUYỆT ĐỨC - ĐẨU QUÂN


    Không có lời đoán ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư. Chỉ có lời của tiền nhân ta rằng:

    Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào Hồng
    Trai lấy vợ đẹp, Gái chồng giàu sang
    Thiên Nguyệt Đức tọa chiếu phương
    Cùng là Quan Phúc trừ hung cứu người.

    Những sao sau đây không có sự hiện diện trong Tử Vi đẩu số toàn thư: Cô Thần - Quả Tú – Hoa Cái – Ân Quang – Thiên Quí - Kiếp Sát – Phá Toái.
    Theo Tử Vi Việt: Cô Thần, Quả Tú, chủ về sự đơn côi, cô quả nếu chúng ở Thân Mệnh mà không có Cát tinh. Hoa Cái miếu vượng Thân Mệnh cung ví như đã ngồi ngựa mà thêm lọng che, Hãm Địa cô bần. Ân Quang, Thiên Quí chủ về án phong và quí hiển nếu chúng vào cung Thân Mệnh thêm sang trọng hơn người.


    SAO ĐẨU QUÂN


    Cả Tử Vi đẩu số toàn thư lẫn lý thuyết truyền khẩu của khoa Tử Vi Việt đều không thấy nói rõ về sao Đẩu Quân.
    Tuy nhiên, trong thập nhị cung luận, Tử Vi đẩu số toàn thư lại thường nhắc đến sao này ở mỗi cung. Theo đẩu số mệnh lý của Vô Muộn thì Đẩu Quân là sao coi về nguyệt lệnh cho nên nó rất ảnh hưởng đến tiểu hạn.

    NHÀN CUNG


    Ta thường thấy từ ngữ Tử Vi những danh từ Nhàn Cung hoặc Lạc Nhàn như câu:

    Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất
    Gái bạc tình Tham Sát nhàn cung

    Vậy nhàn cung là gì? Nhàn cung là nơi đất đắc địa cho một số sao. Tử Vi đẩu số toàn thư định nghĩa nhàn cung như sau:

    Tử Vi tại Tý Thìn Hợi là nhàn cung
    Tham Lang tại Dần Thân là nhàn cung
    Thiên Tướng tại Thìn, Tuất là nhàn cung
    Thất Sát tại Thìn Hợi là nhàn cung
    Thiên Lương tại Tị là nhàn cung
    Thiên Cơ tại Tị là nhàn cung
    Phá Quân tại Tị Thân là nhàn cung
    Vũ Khúc tại Thân là nhàn cung

    Như thế chỉ có nhàn cung cho tám vị mà thôi, còn Thiên Đồng, Thiên Phủ, Thái Âm, Thái Dương, Liêm Trinh, Cự Môn không thấy ghi nhàn cung, chắc câu thơ trên bị thất lạc.
    Vào nhàn cung khả năng tốt sẽ bị giảm đến 80% hoặc nó sẽ gây thành tính kỳ quái mà hỏng việc, nhàn cung nghĩa bóng của thất vị thất nghiệp.
    VÒNG TRÀNG SINH

    Vòng tràng sinh không phải là những tinh đẩu cho nên chúng tôi sẽ nói trong chương luận về ngũ hành của Tử Vi.

    (đăng luận về ngũ hành lên trước cho liền mạch)
     
  6. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    CÁI LÝ NGŨ HÀNH TRONG TỬ VI

    Mở lá số Tử Vi ra, người ta thấy lý của Ngũ Hành tràn ngập. Trước hết là mạng Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ tính theo nạp âm thư tượng như: Sa Trung Kim, Lộ Bàng Thổ, Thiên Thượng Hỏa... Rồi đến cực để tìm Tử Vi như Thủy Nhị Cục, Mộc Tạm Cục... Rồi đến mỗi sao đại biểu cho một hành như Thiên Cơ thuộc Mộc, Vũ Khúc thuộc Kim... Rồi đến mỗi cung là nơi đóng của mỗi hành như Thân Dậu thuộc Kim, Dần, Mão thuộc Mộc... Quan trọng hơn nữa là vòng tràng sinh nói về sự thành truởng và hủy diệt của Ngũ Hành. Nói tóm lại, Tử Vi nếu xét kỹ ra là sự luận đoán tinh vi số mệnh con người bằng biện chứng của Ngũ Hành.
    Tiếc thay cách luận đoán số Tử Vi qua biện chứng Ngũ Hành này gần như hoàn toàn bị mai một không uyển chuyển kỹ càng bằng số Tử Bình. Việc áp dụng lý Ngũ Hành cho số Tử Vi vì bị thất truyền cho nên nó quá đơn sớ nếu không muốn nói là ngờ nghệch, lại khi đoán dù tán hươu tán vượn gì thì tán rút cuộc vẫn phải trở về những câu phú, những cách cục đã làm sẵn căn cứ trên các sao mà quên hẳn biện chứng Ngũ Hành.
    Số Tử Bình tức Bát Tự luận đoán Ngũ Hành như thế nào?
    Xin kể dưới đây câu chuyện số của hai nữ tài tử chiếu bóng nổi danh tại Trung Quốc là Lâm Đại và Nguyễn Ngọc Linh.
    Cả hai nàng tuy ngày, tháng, năm, giờ sinh khác hẳn nhau nhưng cuộc đời có 8 điểm giống nhau:
    1). Cùng là mỹ nhân, trời cho nhan sắc tú lệ.
    2). Cùng mất tình thương của Cha từ thuở nhỏ, sống đơn côi với Mẹ.
    3). Cùng theo nghề điện ảnh từ nhỏ.
    4). Cùng trở thành minh tinh danh tiếng.
    5). Cùng tự kết liễu đời mình giữa lúc vàng son chói lọi.
    6). Cùng vì chuyện vợ chồng bất hoà mà tự sát
    7). Cùng đã từng uống thuốc ngủ để tự tử nhưng thoát chết.
    8). Cùng được có một đám tang to lớn.
    Lâm Đại sinh năm Giáp Tuất (1934) tháng 12, ngày 26, giờ Ngọ.
    Tính Bát tự sẽ ra tám chữ sau đây:
    - Giáp Tuất (Niên)
    - Đinh Sửu (Nguyệt)
    - Bính Ngọ (Nhật)
    - Giáp Ngọ (Thời)
    Tám chữ trên Hành Mộc và Hành Hỏa chiếm đến bảy chữ
    Bính Hỏa của nhật chủ quá cường liệt, chung quanh lại toàn mộc hỏa làm cho nàng trở thanh người ương ngạnh, nóng nảy vô cùng. Ở trường hợp này chỉ có hai kết quả hoặc tự mình thành hung thủ hoặc bị thành khổ chủ.
    Năm nàng tự sát chết là năm Giáp Thìn cũng đầy Mộc Hỏa, lại thêm vào tháng 6 (Mùa Hè), ngày Đinh Mão (Hỏa), giờ Ngọ (Hỏa).
    Số bị hỏa vượng như vậy rất cần có Hành Thủy, Kim để tiết chế hỏa khí. Nếu Hỏa Mộc lại ồ ạt kéo tới thì cái hoá phần thân (đốt mình) làm sao tránh khỏi.
    Vì Ngũ Hành cần Thủy nên đại hạn Ất Hợi (mười năm) của nàng từ 17 đến 27 tuổi là hạn Thủy nên cuộc đời ví như đại hạn gặp cơn mưa lũ. Làm Đại đóng vai cô bé trong phim “Thúy Thúy” được hoan nghênh nồng nhiệt rồi lần lượt đến “Điêu Thuyền”, “Kim Liên Hoa Thiên Kiều Bách Mị”, “Bất liễu tinh” cứ thế mà lên đến tột đỉnh vinh quang của nghề nghiệp và được bầu làm ảnh hậu. Năm 27 tuổi nàng lấy chồng.
    Sang 28 tuổi đại hạn sang Giáp Tuất, lại chuyển về Mộc Hỏa, năm Giáp Thìn trong hạn Giáp Tuất thì Mộc hỏa trùng trùng. Lâm Đại chán cảnh chồng con sau một cuộc cãi vã kịch liệt.
    Trước Lâm Đại 30 năm, minh tinh Nguyễn Linh Ngọc cũng kết liễu cuộc đời như Lâm Đại, để lại cho người đời 29 bộ phim với đủ các vai của một đào thương tài tình từ người đàn bà thôn dã đến nàng kỹ nữ, ni cô, trà nữ, hoa nữ đến tiểu gia bích ngọc, thật đáng là một thiên tài điện ảnh.
    Nguyễn Linh Ngọc quê quán Quảng Đông, sinh năm Canh Tuất (1910) tháng 1, ngày 26, giờ Hợi. Tính Bát Tự ra 8 chữ sau đây:
    - Canh Tuất (Niên)
    - Tân Tị (Nguyệt)
    - Kỷ Hợi (Nhật)
    - Ất Hợi (Thời)
    So với ngày sinh Bính Ngọ của Lâm Đại, dương tinh hỏa cực vượng còn ngày Kỷ Hợi của Nguyễn Linh Ngọc là âm tinh thổ, cực nhược. Bởi vậy tính tình hai người khác hẳn nhau. Lâm Đại nóng nảy ngang ngạnh bao nhiêu thì Linh Ngọc nhuyễn nhược, yếu đuối bấy nhiêu. Do đó cái nguyên nhân tự sát cũng bất đồng Lâm Đại giận chồng mà chết. Linh Ngọc buồn chồng mà chết.
    Người chồng của Linh Ngọc tên Trương Đạt Dân cũng trong giới điện ảnh đã lợi dụng cái thế đàn anh trong nghề để mà dụ dỗ Linh Ngọc vì tính tình nhu nhược rơi vào cái bẫy của Đạt Dân. Về sau Đạt Dân sa đọa bê tha sống bám vào Linh Ngọc, rồi vì ghen tuông sau đó Đạt Dân chửi rủi, bêu xấu vợ khiến nàng mắc cỡ buồn tủi mà tự sát.
    Xem số Nguyễn Linh Ngọc ta thấy nàng sinh ngày Kỷ Hợi, nhật chủ âm tinh thổ quá nhược. Cứu cái nhược này, ngũ hành cần phải có hoá Thổ, như Bính Đinh, Tuất Kỷ. Khốn nỗi giờ sinh của nàng lại là Ất Hợi, một thứ âm Mộc được Thủy nuôi dưỡng rất khỏe đã khắc vào bản thân nàng vốn đã yếu càng làm cho yếu thêm, đã thế kỷ (nhật chủ) còn phải tiết thân nuôi sinh cho Canh Tân, rồi còn cố gắng để khắc hai chữ Hợi Thủy hành chi, cho nên những chữ Tuất mới Tị không đẻ để cứu nữa.
    Cuộc đời ngắn ngủi của Linh Ngọc (26 tuổi chết) có ba biến cố trọng đại gây đau khổ đều xảy ra vào những năm mang chữ Ất. Thứ nhất là năm Ất Mão lúc nàng lên 6 tuổi thì Cha chết. Thứ hai là năm ấy Linh Ngọc 16 tuổi. Thứ ba là năm Ất Hợi năm 26 tuổi. Linh Ngọc tự sát.
    Nàng nổi danh vào những năm 17 và 18 tuổi tức Bính Dần, Đinh Mão niên hai năm đều thuộc Hỏa. Từ 19 tuổi đến 21 tuổi nàng vẫn tiếp tục tiến trên đường danh vọng là những năm Mậu Thìn, Kỷ Tị, Canh Ngọ đều thuộc Thổ Hỏa.
    Qua hai số Bát Tự của Lâm Đại và Nguyễn Linh Ngọc, ta thấy lối tính Tử Bình bám rất sát vào vận động biện chứng Ngũ Hành.
    Trong khi Tử Vi thường rời bỏ vận động biện chứng ấy để trở về với cách cục định sẳn của các bộ sao, bám vào sự kết hợp (combination) giữa sao này với sao nọ, bám vào vị trí đắc địa, hãm địa của từng vị sao. Ví dụ:
    - Lộc cư nô vị túng hữu quan đã bôn trì.
    - Tý Ngọ Cự Môn thạch trung ẩn ngọc.
    - Âm Dương hội Xương Khúc xuất thế vinh hoa.
    Hay là Xương Khúc mà gặp Liêm Trinh. Ở cung Tý Hợi tàn sinh khó tròn.
    - Cơ Lương, Lộc Mã đồng cung
    Phú kham địch quốc của dùng hết đâu
    - Mệnh Đào thân lại Hồng Loan
    Hạn gặp Tuế Kiếp phụng hoàng rẽ duyên.
    Đôi khi Tử Vi cũng đưa ra vài lý luận như: Cục khắc mệnh hay mệnh khắc cục, khắc xuất khác với khắc nhập, mệnh và chính diệu, cùng đóng sinh khắc chế hoá... Tuy nhiên, chẳng thấy có nguyên tắc gì cả. Nói vậy không có nghĩa là khoa Tử Vi thiếu căn bản lý luận Ngũ Hành mà chỉ muốn nói vì thất truyền cho nên lý luận đã trở thành gò ép để ngụy biện xuôi ngược thế nào cũng xong. Nhất là đối với các ngài ưa tán láo.
    Chúng ta có thể lần lượt nêu ra những thắc mắc về tính vô nguyên tắc ấy như dưới đây. Xin nhắc lại chỉ là tính vô nguyên tắc trên vấn đề không thể giảng giải bằng biện chứng Ngũ Hành mà thôi, chứ không phải khoa Tử Vi bất lực trong việc đi tìm hiểu số mệnh con người. Kinh nghiệm cho biết qua phối hợp cách sao, qua cách cục từng đám sao, Tử Vi đã phát hiện khá nhiều điều lạ lùng của số mệnh. Chẳng hạn câu:

    Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất
    Gái bạc tình Tham Sát nhàn cung

    hầu như chẳng bao giờ sai.
    Trước hết đề cập đến tính Ngũ Hành của nạp âm thủ tượng. Ở trên đã nói mỗi lá số tùy theo mệnh thuộc hành gì còn căn cứ vào sự trộn lẫn của hai hành chi can năm đó để tính nạp âm. Ví dụ: Mệnh hỏa nhưng hỏa nào: Sơn Dầu Hỏa? hay Tých Lịch Hỏa?
     
  7. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    Về nạp âm thủ tượng, sách “Tam Mệnh Thông Hội” viết: “Ngày xưa, Vua Hoành Đế đem Giáp Tý phân biệt khinh trọng để phối thành 60 ký hiệu gọi là thập hoa giáp, chữ hoa ở đây thật ảo diệu, thánh nhân mượn ý của nó để làm biểu tượng. Từ Tý đến Hợi đều có Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ, khởi đầu bằng Tý làm nhất dương và Hợi làm lục âm. Ngũ Hành sở thuộc ở trên trời là ngũ tinh, ở dưới đất là ngũ nhạc, ở đạo đức là ngũ thường, ở trong thân thể là ngũ tạng. Số mệnh cũng là ngũ hành cho nên những gì thụôc Giáp Tý đều ứng vào mệnh. Mệnh là gì? Mệnh là những việc trong đời. Bậc thánh nhân dùng nạp âm thủ tượng để ví nó như nhất thế chi sự (những việc trong một đời)”.
    Giáp Tý là một giáp gồm 60 năm, nạp âm thành Ba mươi tượng (hình ảnh) như sau:
    Hành Kim có 6 tượng khác nhau:
    - Hải Trung Kim – Sa Trung Kim - Bạch Lạp Kim – Thoa Xuyến Kim - Kiếm Phong Kim – Kim Bá Kim.
    Hành Mộc có 6 tượng khác nhau:
    - Đại Lâm Mộc – Bình Địa Mộc – Tùng Bách Mộc - Thạch Lựu Mộc – Dương Liễu Mộc – Tang Đố Mộc.
    Hành Thủy có 6 tượng khác nhau:
    - Tuyền Trung Thủy - Đại Khê Thủy – Giang Hà Thủy – Thiên Hà Thủy - Trường Lưu Thủy - Đại Hải Thủy.
    Hành Hỏa có 6 tượng khác nhau:
    - Sơn Dầu Hỏa – Phúc Đăng Hỏa – Lư Trung Hỏa – Sơn Hạ Hỏa – Tých Lịch Hỏa – Thiên Thượng Hỏa.
    Hành Thổ có 6 tượng khác nhau:
    - Ốc Thượng Thổ - Sa Trung Thổ - Thành Đầu Thổ - Đại Dịch Thổ - Lộ Bàng Thổ - Bích Thượng Thổ.
    Ý nghĩa của 30 tượng trên thế nào?
    Sách “Tam Mệnh Thông Hội” giảng rằng:

    1. HẢI TRUNG KIM tượng nạp âm của Giáp Tý và Ất Sửu là những báu vật giấu dưới Long cung cần phải mượn xung phá để phát hiển, chữ Hỏa lực chẳng giúp ích gì cho nó. Lan Đài diệu tuyển phú có câu: “Châu tàng uyên hải” chính là ý nói Hải Trung Kim đã được phát hiện bằng xung phá vậy... Khi nó đã được phát hiện rồi thì bấy giớ mới cần đến một thế cực vượng hỏa để nung luyện. . . . . . .
    2. KIM BÁ KIM tượng nạp của Nhâm Dần và Quí Mão là thứ Kim đã hoá thành chất lỏng để đánh bóng những cột trụ đồ dùng trong cung thất Kim Bá Kim cần dựa vào Mộc nhất là thứ Bình Địa Mộc, rất sợ Lư Trung Hỏa vì nó thể chất bạc nhược không thể hoàn nguyên, nếu hỏa đốt nó sẽ thành than, nhưng lại ưa hỏa mặt trời làm nó sáng bóng lên chói lọi. . . . . . .
    3. BẠCH LẠP KIM tượng nạp âm của Canh Thìn, Tân Tị vốn là Côn Sơn phiếu ngọc Lạc phố di châu (phiến ngọc ở núi Côn Sơn, ngọc quí ở đất Lạc Phố) ngưng tụ Nhật Nguyệt chi tinh, âm dương chi khí cho nên hình nó sáng thể nó sạch, sắc rất đẹp. Bạch Lạp Kim cần Lư Trung Hỏa nhưng với điều kiện phải có thủy trợ, nếu chỉ Lư Trung Hỏa mà thiếu thủy tất nó sẽ yểu tiết bần hàn. . . . . . .
    4. SA TRUNG KIM tượng nạp âm của Giáp Ngọ Ất Mùi là chất kim qui giấu dưới cát, cần phải đãi rửa rồi dùng lửa lò nung luyện. Nếu cát khô quá tức là thổ tháo, chất kim không tốt lại nhờ mộc để đất rắn nuôi dưỡng kim chất cho hoàn hảo, rồi tìm thanh thủy mà lọc. Được như thế thì thiến niên đã vinh quí. . . . . . .
    5. KIẾM PHONG KIM tượng nạp của Nhâm Thân, Quý Dậu là chất kim cực quí cực rắn chắc đã từng qua bách luyện cho nên hồng quang của nó ánh lên đến ngưu đẩu có thể ngưng đọng ở sương tuyết. Nó cần thủy để nhuận sắc nhưng phải là loại Đại Khê Thủy. Nó cần hỏa để tôi luyện nhưng phải là loại Tých Lịch Hỏa lửa sấm sét để tạo linh khí. . . . . . .
    6. XOA XUYẾN KIM tượng nạp âm của Canh Tuất, Tân Hợi là bảo vật để điểm trang cho mặt thêm đẹp, thêm xinh, đem hồng quang cho da dẻ, nó được cất giấu nơi khuê các nên cần tĩnh thủy nước trong u tích để trau chuốt như loại nước khe suối giếng khơi tốt nhất, nếu bị nước mưa nguồn nước biển sẽ làm nó yểu chiết bần hàn chìm rơi mất tích, bị hỏa liệt sẽ tàn thương. . . . . . .
    7. TĂNG ĐỐ MỘC tượng nạp âm của Nhâm Tý, Quý Sửu là cây dâu nuôi dưỡng loài tằm cho tằm nhả tơi óng chuốt để may quần áo dân gian thánh hiền. Nó cần Sa Trung Thổ mà xanh tốt, ưa Thiên Hà Thủy đem mưa ngọt, sương trong thấm nhuần gốc rễ, các loại thổ và thủy khác giảm hiệu lực đi nhiều. . . . . . .
    8. TÙNG BÁCH MỘC tượng nạp của Canh Dần,Tân Mão, cây tùng cây bách chịu đựng được tuyết sương giá lạnh, cao vòi vọi cành lá rộng mở che đất, gió thổi nghe rì rào như muôn ngàn ống sáo. Nó ưa đất vùng núi Vũ Lộ Thủy và Đại Khê Thủy. Tùng Bách Mộc rất sợ Lư Trung Hỏa đốt cháy nó. Thiếu thủy nó sẽ yểu chiết. . . . . . .
    9. ĐẠI LÂM MỘC tượng nạp âm của Mậu Thìn, Kỵ Tị. Cây lớn trong rừng ngọn lên đến từng mây, lá che cả ánh mặt trời. Nó cần Thổ nhiều và ưa Kiếm Phong Kim cưa xẻ, đẽo gọt thành dụng cụ. Nó cần lửa thái dương nuôi nấng. Nó cần thủy nhưng nếu gặp Đại Khê Thủy hay Đại Hải Thủy sẽ bị úng rễ mà chết yểu. . . . . . .
    10. DƯƠNG LIỄU MỘC tượng nạp âm của Nhâm Ngọ, Quý Mùi là loại cây yếu đuối lả lướt trước gió như cây liễu bên đê. Nó cần Sa Trung Thổ, nếu gặp Đại Dịch Thổ thì khó sống mà gặp Lộ Bàng Thổ tất mất vẻ cao sang. Nước nuôi dưỡng nó phải là thứ nước toàn trung thủy, nhẹ nhàng thấm xuống như nước suối mát. . . . .
    11. THẠCH LỰU MỘC tượng nạp âm của Canh Thân, Tân Dậu, vị nó cay như gừng, hoa đỏ chót, trái đầy những hạt tượng trưng cho đa tử (lắm con). Nó chính là cây Thạch lựu, can chi thuần kim mà nạp âm lại thành mộc ấy bởi tại nó là mộc biến ra vậy. Cho nên Thạch Lựu Mộc ưa thổ đã thành khí như Thành Đầu Thổ hay Ốc Thượng Thổ. . . . . . .
    12. BÌNH ĐỊA MỘC tượng nạp âm của Mậu Tuất, Kỷ Hợi là cây non mới đâm cành trổ lá, cần đến công trình của thủy mưa móc, rất sợ tuyết sương tác hại, cần hỏa thái dương làm ấm áp. Nếu đa hỏa vô mộc tất sẽ yểu chiết lại ngại kiếm phong sát phạt. Kim Bá Kim rất hợp với Bình Địa Mộc vì thứ kim này khiến cho màu lá non thêm sáng đẹp nõn nà. . . . . . .
    13. BÍCH THƯỢNG THỔ tượng nạp âm của Canh Tý, Tân Sửu là đất che nắng mưa rét nóng phòng sương ngự tuyết chuyên nhờ cậy vào kèo rột và cửa giả. Bích Thượng Thổ rất mừng được gặp mộc nhất là Đại Lâm Mộc chắc chắn sợ hỏa thiêu đốt biến nó thành bần tiện, sợ Đại Hải Thủy chan hoà lụt lội gây đổ nát. . . . . . .
    14. THÀNH ĐẦU THỔ tượng nạp âm của Mậu Dần Kỷ Mão là thiên kinh ngọc lũy của vua của tướng với cái hình rồng nằm dài thiên lý, hổ ngồi theo thế tứ duy. Nó đã xong rồi thì cần Lộ Bàng Thổ bao quanh phù trợ cho địa thế rộng lớn mà không cần hỏa nữa, nhưng nếu không có Lộ Bàng Thổ tất phải cần hỏa để khai phá. Sơn và Thủy làm cho Thành Đầu Thổ mang vẻ oai nghiêm. . . . . . .
    15. SA TRUNG THỔ tượng nạp âm của Bính Thìn, Đinh Tị là đất bồi do sông biển, do chiều nước, do lớp lớp sóng dội (Lãng hồi sở tích, ba chủ nhi thánh), chỗ trù ngụ của long sá, nơi biến thiên của hang hốc, Sa Trung Thổ tính chất thanh tú cần tất cả các loại kim nuôi dưỡng cho nó thành đất tốt. Nó cần Thiên Thượng Hỏa chiếu xuống thêm mầu thêm mỡ và thủy làm cho nó quyện dẻo. . . . . . .
    16. LỘ BÀNG THỔ tượng nạp âm của Canh Ngọ, Tân Mùi rộng rãi bao la bình điền vạn khoảnh, đại địa liên đồ, giống ngũ cốc sống nhờ trên đó, thảo mộc nhờ nó mà xanh tươi nơi có lửa trời sưởi ấm, chất đất ôn hoà để nuôi dưỡng vạn vật. Lộ Bàng Thổ cần nhất là nước, nước phải có nguồn tưới đều đều rồi đến nước trời vũ lộ (thiên hà thủy) nhưng không ưa đại hải thủy vì đại hải thủy không có năng tưới thấm mà chỉ phá phách kéo trôi đi tất cả mầu mỡ. . . . . . .
    17. ĐẠI DỊCH THỔ tượng nạp âm của Mậu Thân, Kỷ Dậu là đường đường đại đạo, đất bằng phẳng nối liền chín châu, giao thông vạn quốc. Nó cần lộ bàng thổ phù trì, cần thủy sông nước bao quanh và núi cao để tạo quí. . . . . . .
    18. ỐC THƯỢNG THỔ tượng nạp âm của Bính Tuất, Đinh Hợi là thứ thổ gạch ngói nhờ hỏa nung mộc đốt để thành tác dụng che tuyết che sương ngăn mưa ngăn gió. Ốc thượng thổ tốt hỉ mộc vì nếu không có mộc làm cái giá chống thì gạch ngói đứng đâu? Cần Bình địa mộc cho nhà thêm vẻ phong phú, trang nhã. . . . . . .
    19. GIANG HÀ THỦY tượng nạp âm của Bính Tý, Đinh Sửu là nước nguồn chảy thành thác vòng ngàn ngọn núi, băng vạn dậm rừng. Nước thác rất trong sạch tinh khiết, cần kim dưỡng như Sa trung kim tốt nhất, cần đất làm thành thác nhưng chỉ đất sa trung mới hay, chứ đất lộ bàng hay đại dịch sẽ làm cho nó bị đục. . . . .
    20. ĐẠI KHÊ THỦY tượng nạp âm của Giáp Dần, Ất Mão, nước dòng sông lớn cuồn cuộn, sóng cả nhấp nhô, quanh ánh vạn lý tối hỉ hữu qui (có nơi để nó chảy về) hữu dưỡng có nguồn nuôi dưỡng, sợ sự xung đột khiến nó thành phiêu lãng kỵ sấm sét, bão phong. . . . . . .
    21. TRƯỜNG LƯU THỦY tượng nạp âm của Nhâm Thìn Quý Tị nước chảy thao thao vô cùng bất tận xuôi về biển đông. Nó cần kim nuôi nguồn, cần thổ dựng đê thành lòng sông. . . . . . .
    22. THIÊN HÀ THỦY tượng nạp âm của Bính Ngọ, Đinh Mùi là nước trên trời thành mưa đổ xuống chan hoà khắp nơi tuới cho vạn vật tốt tươi, thổ không khắc được nó nên thiên hà thủy không sợ thổ, thiên thượng thổ chẳng làm cho địa kim sinh cho nên gặp kim vô ích. Thiên hà thủy thường đi với tích lịch hỏa để mà biến hoá ra vân vũ. . . . . . .
    23. TOÀN TRUNG THỦY tượng nạp âm của Giáp Thân, Ất Dậu là nước suối nước mạch mát lạnh trong vắt, trăm vạn nhà đào giếng múc nước suối mà uống. Thứ nước này do kim tiết và nhờ mộc phát xuất nên hỉ gặp kim mộc, tuy nhiên kim chất phải ôn hoà chớ sát phạt như kiếm phong kim nó cần gặp bình địa mộc chứ tang đố mộc hay thạch lựu mộc vô ích. . . . . . .
    24. ĐẠI HẢI THỦY tượng nạp âm của Nhâm Tuất, Quí Hợi là biển rộng mênh mông dung nạp tất cả nước sông ngòi đổ xuống, cần thiên thượng hỏa ánh chiếu dương xuống làm thành cách thủy bổ dương quang. . . . . . .
    25. TÍCH LỊCH HỎA tượng nạp âm của Mậu Tý Kỷ Sửu đó là lửa hiệu lệnh của chín tầng trời chớp nhoáng như con kim sà nhanh như ngựa sắt phi bôn. Tých lịch hỏa là sấm sét cho nên cần thiên hà thủy. Tých lịch hỏa có khả năng dưỡng mộc (theo khoa học bây giờ sấm sét làm chất cho azote thấm xuống lòng đất tạo mầu mỡ, nhờ vậy nó mới đủ chất bổ dưỡng. . . . . . .
    26. LƯ TRUNG HỎA tượng nạp âm của Bính Dần, Đinh Mão. Sách có câu trời đất là cái lò, âm dương là than. Lư trung hỏa để nung nấu càn khôn rất ưa mộc sinh hỏa và lấy kim làm chỗ ứng dụng, có kim thì hỏa mới tỏ uy quyền, nhưng nếu vô mộc mà gặp kim đa tất hỏa lao khổ. . . . . . .
     
  8. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    27. PHÚ ĐĂNG HỎA tượng nạp âm của Giáp Thìn, Ất Tị là ánh lửa đèn đựng trong kim khí để tỏa chiếu ngọc quang vào những nơi mà nhật nguyệt không soi vào, để làm sáng lúc trời đất chưa sáng. Thường gọi là nhân gian dạ minh chi hỏa, lấy mộc làm tâm, lấy thủy làm dầu gặp âm thì tốt, gặp dương bất lợi, rất sợ xung phá vì xung phá là gió táp thổi tắt ngọn đèn. Thủy của phú đăng hỏa là thứ thủy đào lên chứ chẳng phải đại khê thủy hay đại hải thủy hoặc thiên hà thủy. . . . . . .
    28. THIÊN THƯỢNG HỎA tượng nạp âm của Mậu Ngọ, Kỷ Mùi là thứ hỏa ấm áp khiến sông núi sáng sủa bởi dương đức lệ thiên chiếu xuống và âm đức xuất hải sáng ra. Thiên Thượng Hỏa cần phang và mộc nhất là Đại Lâm Mộc. . . . . . .
    29. SƠN ĐẦU HỎA tượng nạp âm của Giáp Tuất, Ất Hợi là thứ lửa khai hoang hay lửa rừng, đốt cháy thành biển lửa thiêu rụi cỏ cây một vùng. Tại sao gọi là sơn đầu hỏa? Vì sắc của nó đỏ rực chan hoà như lúc mặt trời lặn, còn đang lấp ló ngoài đầu ngọn núi. Thiêu xong sơn đầu hỏa cần thủy để đất khỏi khô, hỏa này phải nhờ mộc đa mới cháy nếu chỉ có thổ không thì sơn đầu hỏa thành vô dụng. . . . . . .
    30. SƠN HẠ HỎA tượng nạp âm của Bính Thân, Đinh Dậu là thứ hỏa lập lòe của đom đóm cho nên “Lan đài diện tuyển” có đưa ra cách gọi là huỳnh hỏa chiếu mộc, gặp mùa thu càng quí. Sơn hạ hỏa hỉ thủy để nhờ thủy phản chiếu hào quang, nhưng rất sợ gặp tích lịch hỏa làm tiêu diệt ánh sáng của nó. . . . . . .
    Những dấu chấm sao mỗi tượng đó nghĩa là sự giảng giải về tượng đó còn dài, nhưng ở đây chỉ dịch lại ít thôi vì lẽ nó không ăn nhập gì đến khoa Tử Vi của chúng ta, mà ứng dụng nhiều cho khoa Tử Bình, dịch hết rườm rà, vô ích.
    Qua lời giảng sơ của “Tam Mệnh Thông Hội” ta thấy nạp âm thủ tượng những gì?

    a). Quá văn vẻ hệt như một lối bí ngữ cốt để cao thân giá của khoa mệnh học, thật ra nó không đi ra ngoài biện chứng vận động ngũ hành.

    b). Tượng nạp âm ghi trong lá số Tử Vi chỉ ghi để mà ghi thôi chứ chẳng dùng để mà đoán được bởi lẽ không hề tìm thấy liên lạc ngũ hành của nó với các hệ thống sao hay với cục: bởi lẽ đã gọi là nạp âm tất phải đủ cả hai hàng can chi trộn lại trong khi ở Tử Vi của chúng ta không thấy có sự phân định rõ ràng ngũ hành theo can chi. Có thể vì thất truyền mà mất đi chăng?

    c). Không nên ngụy biện gán ghép tượng nạp âm của mình tính theo niên chủ với ảnh hưởng của các sao trong lá số nếu không biết chắc và biết rõ. Như vậy chỉ gây rối thêm.

    Bây giờ chúng ta bàn đến Ngũ Hành và các sao Tử Vi đẩu số toàn thư ghi ở cuối chương chỉ cách an sao mấy dòng chữ sau đây:

    “Luận tinh thần sinh khắc chế hoá”.
    Xem tinh diệu trước hết phải biết rõ cái cơ của sự sinh khắc chế hoá; thứ đến an vị tại cung nào tỉ như Liêm Trinh thuộc hỏa mà an tại cung Dần, cung Dần là Mộc vậy Mộc có thể sinh ra Hỏa của Liêm Trinh, nếu có Vũ Khúc đồng cung với Liêm Trinh, Vũ Khúc thuộc Kim, Mộc với Kim khắc tài tinh Vũ Khúc thành vô dụng. Các sao khác cũng cứ thế mà đoán.

    Kim nhập hỏa hương
    Hỏa nhập thủy hương
    Thủy nhập thổ hương
    Câu ví thụ chế.

    Tiếp đến là bảng kê tổng quát các sao thuộc hành gì, như:
    Tử Vi thuộc Thổ &nb sp; Thiên Cơ thuộc Mộc
    Lộc Tồn thuộc Thổ Thái Dương thuộc Hỏa
    Thiên Đồng thuộc Thủy Kim Liêm Trinh thuộc Hỏa
    Vũ Khúc thuộc Kim Thiên Phủ thuộc Thổ
    Thái Âm thuộc Thủy Tham Lang thuộc Thủy Mộc
    Cự Môn thuộc Thủy Thiên Tướng thuộc Thủy
    Văn Khúc thuộc Kim Phụ Bật thuộc Thổ
    Thiên Lương thuộc Thổ Thất Sát thuộc Hỏa
    Phá Quân thuộc Thủy Văn Xương thuộc Kim
    Tả Phụ thuộc Thổ
     
  9. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    Ở trên là 18 ngôi sao chính diệu, các sao khác không kể làm chính diệu như:

    Khôi Việt thuộc Hỏa Kình Dương thuộc Kim
    Đà La thuộc Kim Hỏa Tinh thuộc Hỏa
    Linh Tinh thuộc Hỏa Không Kiếp thuộc Hỏa
    Thương Sứ thuộc Thủy Hoá Lộc thuộc Thổ
    Hoá Quyền thuộc Mộc Hoá Khoa thuộc Thủy
    Hoá Kỵ thuộc Thủy Hồng Loan Thiên Hỉ Thủy
    Thái Tuế thuộc Hỏa Bác Sĩ thuộc Thủy
    Lực Sĩ thụôc Hỏa Thanh Long thuộc Thủy
    Tấu Thư thuộc Kim Phi Liêm thuộc Hỏa
    Hỉ Thần thuộc Hỏa Phục Binh thuộc Hỏa
    Tang Môn thuộc Mộc Bạch Hổ thuộc Kim
    Quan Phù thuộc Hỏa Điếu Khách thuộc Hỏa
    Thiên Mã thuộc Hỏa Riêu Y thuộc Thủy

    Ngoài ra, còn một số sao khác không thấy ghi trong Tử Vi đẩu số toàn thư, nhưng các sách Tử Vi của người Việt đều có như:

    Long Trì thuộc Thủy Phượng Các thuộc Mộc Kim
    Tam Thai thuộc Thổ Bát Tọa thuộc Thổ
    Âm Quang thuộc Hỏa Thiên Quí thuộc Thổ
    Thai Phu thuộc Thổ Phương Cao thuộc Thổ
    Thiên Quang qui nhàn Hỏa Thiên Phúc qui nhàn Thổ
    Đào Hoa thuộc Mộc Thiên Khốc thuộc Kim
    Thiên Hư thuộc Thủy Cô Quả thuộc Hỏa.

    Rồi đến vòng sao Tràng Sinh cũng có phân định Ngũ Hành cho mỗi đoạn trong vòng như:

    Tràng Sinh thuộc Thủy Mộc Dục thuộc Thủy
    Quan Đới thuộc Kim Lâm Quan thuộc Mộc
    Đế Vương thuộc Kim Suy thuộc Kim
    Bệnh thuộc Hỏa &nb sp; Tử thuộc Hỏa
    Tuyệt thuộc Thổ &nb sp; Mộ thuộc Thổ
    Thai thuộc Thổ &nb sp; Dưỡng thuộc Mộc.

    Chúng ta hãy gạt ra ngoài vấn đề có nhiều sách chép khác nhau về hành của mỗi sao, sách này bảo sao X thuộc Thủy, sách khác bảo sao đó thuộc mộc... Chúng ta cứ kể là vấn đề “hành” của các sao đã được hoàn toàn thống nhất, sự khác biệt chẳng qua là do chép sai của tác giả nào đó mà thôi.
    Ở đây chỉ bàn thuần túy vấn đề tác dụng Ngũ Hành của các sao như thế nào?
    Thứ nhất là nguyên tắc thụ chế mà Tử Vi đẩu số toàn thư nêu trên:

    Kim nhập Hỏa hương
    Hỏa nhập Thủy hương

    Vậy tại sao Cự Cơ Mão Dậu lại tốt?
    Đành rằng sao Cự Môn thuộc Thủy vào cung Mão tạm được vì nó chỉ tiết khí chứ không thụ chế, vào cung Dậu thì được Kim sinh nó. Nhưng sao Thiên Cơ thuộc Mộc đóng Dậu cung rõ ràng Mộc nhập Kim hương thụ chế mà không vô dụng. Rồi hai sao Liêm Tham Tị Hợi cũng ở trường hợp tương tự. Liêm thuộc Hỏa cư Tị là Hỏa Địa, vẫn bị vào Hãm Địa. Tham Lang thuộc Thủy Mộc cư Hợi là thủy địa vẫn bị vào hãm địa. Hỏi rằng hãm với miếu còn căn cứ trên nguyên tắc thụ chế hay không, hay là căn cứ trên một nguyên tắc nào khác nữa?
    Chúng ta sẽ giảng ra sao câu sau đây:

    Liêm Trinh Thất Sát đồng viên
    Ở cung Tị Hợi chiếu miền Thiên Thương
    Đặng Thông đói suốt năm trường
    Hạn hành phải sợ tai ương đến mình.

    Cả Liêm Trinh Thất Sát đều là Hỏa, lại lâm nguy tại cung Tị là Hỏa hương?
    Thứ hai, mỗi cung trong tất cả 12 cung của lá số, cung nào cũng có đủ Ngũ Hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ kể chung chính diệu với phụ tinh. Theo thói thường chỉ thấy căn cứ vào tính chất hung cát của các vị sao đồng thời căn cứ vào sự kết hợp thành từng bộ để giảng đoán chứ không thấy căn cứ vào cái lý vận động của Ngũ Hành. Đôi khi cũng có các vị vẻ suy tư nói sang chuyện Ngũ Hành thì cũng chỉ nói sơ sài, nếu không muốn bảo là gượng, là ngụy biện.
    Thứ ba là Ngũ Hành nếu theo Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ thấy nói đến mặt thụ chế mà không lưu ý đến toàn bộ vận động biện chứng sinh khắc chế hoá biến ảo vô cùng sau đây:
    - Kim vượng đựơc Hỏa mới thành khí cụ; Hỏa vượng được Thủy thành sức mạnh của hơi nước tức là Thủy Hỏa tương tế, Thủy giúp Hỏa; Thủy vượng được Thổ mới thành ao hồ, Thổ vượng được Mộc mới sơ thông thổ không bị bí; Mộc vượng được Kim mới ra kèo cột chống đỡ.
    - Kim nhờ Thổ sinh nhưng Thổ đa thì Kim bị chôn vùi; Thổ nhờ Hỏa sinh nhưng Hỏa nhiều Thổ cháy, Hỏa do Mộc sinh nhưng Mộc nhiều Hỏa bị ngạt; Mộc nhờ Thủy sinh nhưng Thủy trận thì Mộc trôi; Thủy nhờ Kim sinh nhưng Kim đa Thủy trọc (đục dơ bẩn).
    - Kim có thể sinh Thủy nhưng Thủy đa tất Kim chìm. Thủy có thể sinh Mộc nhưng Mộc đa thì Thủy kiệt. Mộc có thể sinh Hỏa nhưng Hỏa nhiều Mộc cháy tiêu. Hỏa có thể sinh Thổ nhưng Thổ đa làm Hỏa ngạt. Thổ có thể sinh Kim nhưng Kim đa Thổ biến.
    - Kim khả dĩ khắc Mộc nếu Mộc cứng Kim sẽ sứt mẻ. Mộc khả dĩ khắc Thổ, nếu Thổ chắc rắn Mộc gẫy. Thổ khả dĩ khắc Thủy nếu Thủy nhiều quá Thổ sẽ trôi. Thủy khả dĩ khắc Hỏa nếu Hỏa nhiều sẽ làm sôi Thủy. Hỏa khả dĩ khắc Kim nếu Kim nhiều Hỏa tắt.
    - Kim suy gặp Hỏa bị chảy tan. Hỏa nhược gặp Thủy Hỏa tất diệt. Thủy yếu gặp Thổ, Thủy ứ tắc. Thổ suy gặp Mộc Thổ bị nát vụn. Mộc nhược gặp Kim, Mộc bị sát phạt.

    - Cường Kim được Thủy mới tiết bớt sức mạnh.
    - Cường Thuỷ được Mộc mới tiết bớt thế mạnh.
    - Cường Mộc được Hỏa mới bớt ngan ngạnh.
    - Cường Hỏa được Thổ mới ngừng hoành hành.
    - Cường Thổ được Kim mới chế được hại.

    - Mộc sinh Hỏa tuy nhiên Hỏa cũng có thể sinh Mộc, Thủy sinh Mộc là tưới cho đất bớt khô, còn Hỏa sinh Mộc là làm cho trời nóng ấm cây khỏi cóng rét.
    - Hỏa sinh Thổ tuy nhiên Thổ cũng có thể sinh Hỏa, Mộc sinh Hỏa nhờ cái khô của cây vào mùa đông, còn Thổ sinh Hỏa là do đất nóng trong tháng hạ.
    - Thổ sinh Kim tuy nhiên Kim cũng có thể sinh Thổ, Hỏa sinh Thổ bằng cách đốt bớt chất ẩm, còn Kim sinh Thổ bằng cách làm chắc đất lại.
    - Kim sinh Thủy tuy nhiên Thủy cũng có thể kinh Kim, Thổ sinh Kim bằng sự thấm bớt nước còn Thủy sinh Kim bằng sự chế ngự tính khốc liệt của Hỏa.
    - Thủy sinh Mộc tuy nhiên Mộc cũng có thể sinh Thủy, Kim sinh Thủy bằng cách ngăn chặn sự tiết lậu còn Mộc sinh Thủy bằng cách khơi thông ứ tắc...
    Nói tới vận động biện chứng của Ngũ Hành thật hết sức miên man, bao la, không phải chỉ có thụ chế mà thôi. Chắc hẳn Hi Di Trần Đoàn tiên sinh cũng đặt Tử Vi vào trong vận động biện chứng đó nay chỉ vì thất truyền nên không có giảng giải chính xác vậy. Chẳng phải cứ khơi khơi đặt toẹt ra rằng Liêm Tham Tị Hợi mệnh đóng đấy thì để bị tù tội nhưng nếu gặp Triệt hay Tuần lại trở thành hay. Chẳng phải cứ khơi khơi đặt câu phú:

    Mão cung Cơ Cự Vũ Khúc phùng
    Tân Ất sinh nhân phúc khí long

    Chúng ta hy vọng một ngày nào đó sẽ có một vị sở học uyên thâm giảng được lý do tại sao, hoặc sẽ tìm thấy cổ thư có lời giảng ấy.
    Sau cùng là vấn đề Ngũ Hành của vòng tràng sinh. Vấn đề này có sự khác biệt hẳn như trắng với đen giữa sách Tử Vi đẩu số toàn thư với sách Tử Vi của người Việt.
    Theo Tử Vi đẩu số toàn thư cũng như theo toàn thể các sách khác về khoa âm dương học thì vòng tràng sinh là sự thành trưởng, vượng thịnh và hủy diệt của một hành trong Ngũ Hành. Không có chỗ nào trong Tử Vi đẩu số toàn thư gọi tràng sinh mộc dục quan đới, lâm quan, đế vượng, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt, thai dưỡng là một vị sao.
    Trong khi thói quen từ trước tới giờ của Khoa Tử Vi lại gọi 12 giai đoạn trưởng thành hủy diệt của vòng tràng sinh là sao. Đặc biệt hơn nữa là mỗi sao ấy lại đại biểu cho một hành kim mộc thủy hỏa thổ, ấy mới là lạ. Xin nhắc lại:

    Tràng Sinh thuộc Thủy Mộc Dục thuộc Thủy
    Quan Đới thuộc Kim Lâm Quan thuộc Kim
    Đế Vượng thuộc Kim Suy thuộc Thủy
    Bệnh thụôc Hỏa Tử thuộc Thủy
    Mộ thuộc Thổ Tuyệt thuộc Thổ
    Thai thuộc Thổ Dưỡng thuộc Mộc.

    Đầu hết chúng ta hãy đi tìm hiểu quan niệm của khoa âm dương học về vòng tràng sinh ra sao đã. Sách nào cũng đều nói vòng tràng sinh là những giai đoạn (thập nhị vận) thành trưởng, vượng thịnh, suy yếu và hủy diệt.
    Số Tử Bình giảng nhập nhị vận ấy như sau:
    - Trường Sinh là đất sông của Ngũ Hành, gặp tràng sinh là người nhiều tài cán, sớm thành công, hạnh phúc vô cùng.
    - Mộc dục là giai đoạn của sự tắm rửa, đứa trẻ vào đất sống đang được ở chuồng còn non nớt yếu đuối cho nên gặp Mộc Dục số đàn ông cô độc khắc cha mẹ, con cái; số đàn bà bại nhà mình cũng như nhà chồng, đẻ con khó nuôi.
    - Quan Đới là giai đoạn biết đội nón chít khăn để hưng gia lập nghiệp. Ban đầu bần hàn càng về sau càng quí hiển, nếu lại ở ngôi bản vị quí nhân thì tuổi trẻ đã đắc lộ thanh vân
     
  10. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    - Lâm Quan – Đế Vượng là giai đoạn ví như con người vào tuổi bốn năm mươi, công đã thành danh đã toại đang hưởng vinh hoa. Mệnh gặp đựơc Lâm Quan - Đế Vượng thì gia nghiệp hưng long, dục vọng công danh thỏa chí. Dù cho có thất vị thì danh cũng đã nhiều người biết đến.
    - Suy - Bệnh - Tử là giai đoạn già nua suy yếu của Ngũ Hành. Lực không còn theo tâm nữa, cần phải được sự phù giúp mới có thể hanh thông.
    - Mộ là giai đoạn đem chôn vùi, đòi hỏi một sự xung phá thì uất kết của chôn vùi mới vỡ bung ra để chuyển thành một sự nghiệp mới.
    - Tuyệt là giai đoạn đi sau Mộ, nếu không có sự xung phá kia để phục hồi thì sẽ bị diệt hẳn.
    - Thai là giai đoạn trứng nước nẩy nở, lúc này còn ở tình trạng ngu si dễ bị bóp chết.
    - Dưỡng là giai đoạn thai đã thành hình bây giờ phải dưỡng dục nuôi nấng. Giai đoạn này hung cát thường đi đôi.
    Mỗi hành kim mộc thủy hỏa thổ đều phải có một cuộc đời trải qua 12 giai đoạn kể trên theo nguyên tắc sinh diệt diệt sinh mà thành một vòng tròn bất tận gọi là Vòng Tràng Sinh.
    Nó được phân định như sau:
    Giáp can: Tràng sinh tại Hợi, Mộc dục Tý, Lâm quan Sửu, Lâm quan Dần, Đế vượng Mão, Suy Thìn, Bệnh Tị, Tử Ngọ, Mộ Mùi, Tuyệt Thân, Thai Dậu.
    Ất can: Tràng sinh tại Ngọ, Mộc dục Tị, Quan đới Thìn, Lâm quan Mão, Đế vượng Dần, Suy Sửu, Bệnh Tý, Tử Hợi, Mộ Tuất, Tuyệt Dậu, Thai Thân, Dưỡng Mùi.
    Bính Mậu can: Tràng sinh tại Dần, Mộc dục Mão, Quan đới Thìn, Lâm quan Tị, Đế vượng Ngọ, Suy Mùi, Bệnh Thân, Tử Dậu, Mộ Tuất, Tuyệt Hợi, Thai Tý, Dưỡng Sửu.
    Đinh Kỷ can: Tràng sinh tại Dậu, Mộc dục Thân, Quan đới Mùi, Lâm quan Ngọ, Đế vượng Tị, Suy Thìn, Bệnh Mão, Tử Dần, Mộ Sửu, Tuyệt Tý, Thai Hợi, Dưỡng Tuất.
    Canh can: Tràng sinh tại Tị, Mộc dục Ngọ, Quan đới Mùi, Lâm quan Thân, Đế vượng Dậu, Suy Tuất, Bệnh Hợi, Tử Tý, Mộ Sửu, Tuyệt Dần, Thai Mão, Dưỡng Thìn.
    Tân can: Tràng sinh tại Tý, Mộc dục Hợi, Quan đới Tuất, Lâm quan Dậu, Đế vượng Thân, Suy Mùi, Bệnh Ngọ, Tử Tị, Mộ Thìn, Tuyệt Mão, Thai Dần, Dưỡng Sửu.
    Nhàn can: Tràng sinh tại Thân, Mộc dục Dậu, Quan đới Tuất, Lâm quan Hợi, Đế vượng Tý, Suy Sửu, Bệnh Dần, Tử Mão, Mộ Thìn, Tuyệt Tị, Thai Ngọ, Dưỡng Mùi.
    Quí can: Tràng sinh tại Mão, Mộc dục Dần, Quan đới Sửu, Lâm quan Tý, Đế vượng Hợi, Suy Tuất, Bệnh Dậu, Tử Thân, Mộ Mùi, Tuyệt Ngọ, Thai Tị, Dưỡng Thìn.
    Như vậy trừ Bính Mậu đi cùng một vòng và Đinh Kỷ đi cùng vòng thành ra có tám vòng bốn dương can và bốn âm can. Dương đi thuận âm đi nghịch.
    Trong khi khoa Tử Vi tính theo năm Cục là: Thủy nhị cục - Mộc tam cục – Kim Tứ cục - Thổ ngữ cục - Hỏa lục cục.
    Thủy và thổ cục đi cùng một vòng còn Hỏa lục cục, Kim tứ cục, Mộc tam cục mỗi cục một vòng, tổng cộng chỉ có bốn vòng.
    Nếu đem so sánh thì thấy vòng tràng sinh của Tử Vi thuần là tính theo Dương can chứ không có Âm can như:
    Thủy và Thổ cục tràng sinh ở Thân (Nhâm can)
    Hỏa lục cục tràng sinh ở Dần (Bính Mậu can)
    Kim tứ cục tràng sinh ở Tị (Canh can)
    Mộc tam cục tràng sinh ở Hợi (Giáp can)
    chỉ thấy nói thêm Dương can tính thuận, Âm can tính nghịch.
    Tính Dương thuận Âm nghịch qua Cục ngũ hành của Tử Vi, đem so với Tử Bình thì thấy Âm can hoàn toàn không thấy có vị trí đúng cho 12 giai đoạn của vòng tràng sinh. Bởi vì tràng sinh của Giáp can tràng sinh khởi từ cung Hợi còn tràng sinh của Ất can khởi từ cung Ngọ. Vậy không thể dùng danh từ Âm Dương Can được nữa mà phải dùng danh từ Âm Dương Cục mới chính xác. Còn như hỏi Cục tại sao mà thành thì chúng ta chỉ biết Tử Vi dạy rằng:
    “Gọi cung Dần là tháng giêng tính thuận đến tháng sinh rồi lại từ cung đó tính nghịch đến giờ sinh an mệnh vị. Xong đâu đó tìm hành Can của năm sinh kết hợp với vị trí thập nhị chi của mệnh vị mà thành ra Cục”.
    Tại sao tính thế? Căn cứ trên nguyên tắc nào của Ngũ Hành? Thì lời giảng đã theo Hi Di Trần Đoàn tiên sinh nằm dưới lòng đất cả ngàn năm rồi.
    Có một vài vị trên một vài cuốn sách đã định giảng, nhưng người đọc chẳng thấy gì cả. Chúng ta cứ phải tiếp tục chờ.
    Có điều bảo Tràng sinh thụôc Thủy, Mộc dục thuộc Thủy, Quan đới thuộc Kim.... Tuyệt Hỏa... Bệnh và Tử Hỏa.... thì quả là chướng, là ngang đối với nguyên lý Ngũ Hành.
    Vòng tràng sinh còn có một liên hệ khá quan trọng là liên hệ với sao Lộc Tồn.
    Vậy Lộc Tồn là gì?
    Là giai đoạn phát triển cực thịnh của hàng can ngũ hành, tức là giai đoạn Lâm quan trong vòng tràng sinh, Lâm quan còn có tên gọi khác là Lộc Kiến.
    Tử Vi an sao Lộc Tồn căn cứ vào hàng can của năm sinh như sau:

    Giáp Lộc tại Dần Kỷ Lộc tại Ngọ
    Ất Lộc tại Mão Canh Lộc tại Thân
    Bính Lộc tại Tị Tân Lộc tại Dậu
    Đinh Lộc tại Ngọ Nhâm Lộc tại Hợi
    Mậu Lộc tại Tị Quý Lộc tại Tý.
    Chú ý: Bính Mậu Lộc cùng ở một chỗ và Đinh Kỷ Lộc cùng ở một chỗ.
    Lật trở lại trang trên, tìm những chỗ Lâm quan của các vòng tràng sinh của thập can trong Khoa Tử Vi đều là chỗ an Lộc Tồn trong Khoa Tử Vi.
    Điều trên đây chứng tỏ rằng:
    a). Vòng tràng sinh rất quan trọng đối với lá số mà nay chúng ta chỉ có rất ít mấu cứ để nói chuyện về nó.
    b). Sao chỉ là một cách nói, tên mỗi sao chỉ là những ký hiệu, tất cả số mệnh con người đều xuất phát từ vận động biện chứng của ngũ hành. Nhưng nay bởi lẽ nguyên lý đã bị mất từ lâu đời nên chúng ta chỉ có thể giải đoán qua một số những công thức làm sẵn chứ không thể giải đoán bằng lý ngũ hành. Đấy là sự thiệt thòi lớn cho Tử Vi học khiến cho nhiều lúc chúng ta cứ nghĩ nó như một thuật không phải là một học khoa. Những lời giảng của các thuật sĩ nghe khó chịu chẳng hạn: Thanh long cư Thìn là Long cư Long vị. Bạch Hổ cư Dần là Hổ cư Hổ vị.
    Trong Tử Vi đẩu số toàn thư, người ta chỉ thấy có một đoạn nói đến vận động ngũ hành, đoạn ấy lấy tựa đề là: “Tinh Viên Luận” viết như sau:
    “Tử Vi đế toà lấy Phụ Bật làm tướng tá là chủ tinh, là nguyên lưu là tất cả qui tụ nam bắc đẩu tinh mà thành vạn vật chi linh. Dùng thủy để tẩy rửa tất âm dương ký tế. Thủy thịnh, khiến dương thương, hỏa thịnh thì âm diệt. Cả hai phải dung hoà không được thiên lệch. Cho nên đắc kỳ trung mới thật là mỹ mãn. Dần là viên địa của Mộc, lúc tam dương giao thái nên cây cỏ mầm sống nẩy sinh, sang Mão vi mộc càng vượng làm thành miếu địa cho Thiên Cơ, Tham Lang, Thiên Tướng, là thủy đến cung Dần gọi là vượng tướng. Cự Môn thủy được Mão mộc sơ thông rất hay cần thổ để nuôi mộc lại cần thủy để tưới cho mộc tươi tốt, nên tam Lộc Tồn thổ càng đẹp. Cự Môn thủy đến cung Sửu, Thiên Lương thổ đến cung Mùi, Đà La kim vào tự mộ địa nếu gặp Kình Dương lấy thổ làm kim mô tất kim thông không bị ngưng trệ, có Thiên Phủ thổ Thiên Đồng kim sinh tức gọi là cách kim quí thổ mầu mỡ (kim châu thổ phi) thuận đức mà sinh. Mùi Tý Ngọ là hỏa vị nơi tuyệt địa của thủy, hỏa viên nơi cung Ngọ có dư khí lưu tại Tị Thủy...”.
    Bài này cứ thế kéo dài thêm 2 trang nữa, nhưng cũng tiếp tục rắc rối khiến người đọc chẳng hiểu gì cả. Tuy nhiên, Tinh Viên Luận cho ta thấy những dấu tích chứng tỏ khoa Tử Vi có đặt trên nguyên tắc vận động biện chứng Ngũ Hành.
     
  11. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    THẬP NHỊ CUNG LUẬN

    Thập nhị cung trên là số mang ba nhiệm vụ.
    Thứ nhất, chúng ta đại biểu cho mười hai hàng chi để định ngũ hành hợp xung.
    Thứ hai, chúng là những nơi phân định miếu địa và hãm địa cho các sao.
    Thứ ba, chúng là ý nghĩa của đời sống một con người qua những liên hệ công danh, tiền bạc, bạn bè, vợ con, phúc đức, cha mẹ... và quan trọng nhất là bản mệnh.
    Hai nhiệm vụ một và hai đã nói rõ ở Chương Chủ tinh vấn đáp luận rồi. Ở Chương này chỉ nói tới nhiệm vụ thứ ba thôi.
    Số mỗi người đều chia ra làm 12 cung:
    a). Mệnh cung nói đến dung mạo, tài năng, nhân cách và trình độ phát triển.
    b). Phụ Mẫu cung nói đến sự cát hung của Cha Mẹ, duyên phận mình với Cha Mẹ, và ân huệ của Cha Mẹ đối với mình.
    c). Huynh Đệ cung nói đến anh em ruột thịt, bằng hữu thân thiết.
    d). Phu Thê cung nói đến quan hệ vợ chồng, hình dáng vợ chồng, sinh hoạt vật chất và tinh thần của người vợ hay người chồng.
    e). Nam Nữ cung nói đến con cái và sinh hoạt về tình dục
    f). Tài Bạch cung nói đến sự mạnh yếu của năng lực kinh tế, tài chính, tình hình thực lợi của sự nghiệp.
    g). Tật Ách cung nói đến thể chất và sức khỏe.
    h). Thiên Di cung nói đến quan hệ của mình với xã hội và đối ngoại quan hệ.
    i). Nô Bộc cung nói đến người cộng tác với mình hoặc gia nhân bộ thuộc.
    k). Điền Trạch cung nói đến gia đình sinh hoạt các loại bất động sản.
    l). Phúc Đức cung nói đến thọ yếu và mức độ hưởng thụ trong đời như thế nào?
    Còn một cung nữa nhưng nó lưu động không có cung dành riêng nhất định là cung Thân, hoặc nó ở Phúc Đức, Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di, và Phu Thê hoặc nó đồng cung với Mệnh.
    Tác dụng của cung Thân là gì?
    Sách Tử Vi đẩu số toàn thư có câu:
    “Mệnh hảo, Thân hảo, Hạn hảo đáo lão vinh xương”.
    Nghĩa là:
    Cung Mệnh, cung Thân đều tốt thì suốt đời vinh xương, yên ổn.
    Mệnh với Thân khác nhau như thế nào?
    Mệnh là Thể mà Thân là dụng.
    Mệnh hảo, Thân hảo là cả thể lẫn dụng đều hay.
    Mệnh hoại, Thân hoại là cả thể lẫn dụng đều dở
    Mệnh tốt, Thân xấu là thể hay mà dụng dở.
    Mệnh xấu, Thân tốt là thể dở mà dụng hay.
    Có thể mà vô dụng thì phát sớm tàn sớm.
    Có dụng mà vô thể thì thành công muộn màng chẳng được hưởng bao nhiêu.
    Trong trường hợp Thân Mệnh đồng cung tốt sẽ tăng tốt, xấu lại càng xấu. Thân ở cung Tài chủ phú, ở Quan Lộc chủ quí, ở Thiên Di chủ dựa vào quan hệ bên ngoài nhiều hơn trong nhà, ở Phu Thê con trai chủ có vợ hiền năng nhưng thường sợ vợ, con gái chủ có chồng cương cường và phục chồng tuyệt đối, ở Phúc Đức bất luận giàu nghèo đều ưa chuyện hưởng thụ, chờ may mắn.
    Cường cung với nhược cung là gì?
    Xem số đàn ông ngoài Thân Mệnh cung còn có ba cường cung là Tài Bạch, Quan Lộc, Thiên Di. Ngoài ra, là nhược cung kể vào hàng thứ yếu.
    Nhưng xem số đàn bà ngoài Thân, Mệnh cung ba cường cung lại là các cung Phu Quân, Phúc Đức và Tử Tức. Các cung khác kể vào hàng thứ yếu gọi là nhược cung.
    Dưới đây là những lời giải đoán cho từng cung mà Tử Vi đẩu số toàn thư và tôi xin nhắc lại cuốn sách này là của La Hồng Tiên biên chép những gì mà Hi Di Trần Đoàn tiên sinh đã dạy.
     
  12. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    NHẤT CUNG MỆNH

    Lần lượt kể ảnh hưởng của từng sao chính cùng sự kết hợp với các sao khác đối với cung Mệnh qua những bài ca. Người ta thấy lời giải đoán ở chương này không khác bao nhiêu so với lời giải đoán từng sao của Chương Chủ tinh vấn đáp luận. Tuy nhiên, cũng có thêm khá nhiều chi tiết cần thiết. Thiết tưởng cũng cần hiểu rằng phương pháp cổ nhân thường lập đi lập lại nhiều lần qua các thể văn khác nhau để cho người học dễ nhập tâm mà xem Tử Vi có nhập tâm bởi đoán thì mới luận số một cách tinh tường được.
    Thi ca giải đoán ở đây chia ra làm ba loại:

    1). Dành cho nam mệnh
    2). Dành cho nữ mệnh
    3). Dành cho vận hạn
    Tôi xin chỉ đưa vào Chương này loại một còn loại hai, ba tôi đưa xuống Chương luận về nữ mạng và Chương về vận hạn, theo thiển ý thì cắt ra như vậy đỡ làm rối người đọc.
    Trước hết là sao Tử Vi


    Nam Mệnh Tử Vi ca

    Tử Vi Thiên Trung đệ nhất tinh
    Mệnh Thân tương ngộ phúc tài hưng
    Nhược phùng Tướng Tá cung trung hội
    Phú Quí song toàn phan lệnh danh
    Tử Vi thủ Mệnh tối vi lương
    Nhị Sát phùng chi thọ bất trường.
    Dương Đà Hỏa Linh lai tương hội
    Chỉ hảo không môn lễ phạn vương
    Tử Vi Thìn Tuất ngộ Phá Quân
    Phú nhi bất quí hữu hư danh
    Nhược phùng Tham Lang tại Mão Dậu
    Vi thần thất nghĩa bát tương ứng
    Hỏa Linh Dương Đà lai tương hội
    Thất Sát đồng cung đa bất quí
    Khi nhàn cô độc cánh hình thương
    Nhược thị Không Môn vi cát lợi

    Nghĩa là:
    Sao Tử Vi đệ nhất tinh trên bầu trời. Cung mệnh có Tử Vi, phúc lộc tiền tài hưng vượng. Nếu thêm tướng tá hội tụ tất phú quí song toàn và tăm tiếng lừng lẫy. Tử Vi thủ Mệnh rất tốt nhưng nếu gặp Kiếp Không (nhị sát) thì không thọ, nếu gặp Dương Đà, Hỏa Linh chỉ nên vào chùa. Tử Vi đóng cung Thìn, Tuất hội càng Phá Quân có thể giàu mà chẳng sang loại hư danh nếu không muốn nói là tăm tiếng xấu. Tử Vi gặp Tham Lang tại cung Mão, Dậu là người làm tôi bất trung. Bị Hỏa Linh Dương Đà vây bọc thêm Thất Sát, người du thủ du thực bất quí, hay lừa dối, cô độc nên đi tu cho bớt nghiệp chướng.

    Nam Mệnh Thiên Cơ ca

    Cơ Nguyệt Thiên Lương hợp Thái Dương
    Thường nhân phú túc trì điền trang
    Quan viên đắc ngộ Khoa Quyền Lộc
    Chức vị cao thiên diện đế vương
    Thiên Cơ Hoá Kỵ lạc nhàn cung
    Túng hữu tài quan diệc bất chung
    Thoái tận gia tài kiêm thọ yểu
    Phiêu bồng tăng đạo trú sơn trung

    Nghĩa là:
    Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Lương hợp cùng với Thái Dương đắc vị thì kẻ tầm thường rồi cũng sẽ giàu sang nhà cửa. Nếu là người chức tước được thêm Khoa Quyền Lộc tất chức vị lên cao diện kiến đế vương Thiên Cơ ngộ Hoá Kỵ lại ở nhàn cung (tức cung Tị) dù có chức vị tiền tài rồi cũng mất hết mà trở thành phiêu bồng tăng đạo.
    Nam Mệnh Thái Dương ca:

    Mệnh lý Dương phùng phúc thọ nùng
    Cánh kiêm Quyền Lộc lưỡng tương phùng
    Khôi Xương Tả Hữu lai tương tấu
    Phú Quí song toàn tỉ Thạch Sùng
    Nhật Nguyệt Sửu Mùi mệnh trung phùng
    Tam phương vô hoá phúc nam phong
    Cánh hữu cát tinh chung bất mỹ
    Nhược phùng Tấu sát nhất sinh cùng
    Thất hãm Thái Dương Cự phản bội
    Hoá Kỵ phùng chi đa kiển muội
    Hựu tao hoành sự phá gia tài
    Mệnh cường Hoá Lộc dã vô hại.

    Nghĩa là:
    Trong cung Mệnh có sao Thái Dương thì phúc thọ nồng hậu, lại được thêm Quyền Lộc và Thiên Khôi, Văn Xương rồi Tả Hữu tất nhiên phú quí ngang với Thạch Sùng.
    Mệnh đóng tại hai cung Sửu, Mùi, Thái Dương thủ, nếu tam hợp và cung xung chiếu không thấy Khoa Quyền Lộc là phúc bại, lại bị thêm Sát tinh xung phá suốt đời bần cùng. Thái Dương Sửu Mùi dù cát tinh trợ lực mà không phải Khoa Quyền Lộc thì kết quả cơ nghiệp hoặc sự nghiệp cũng chẳng ra gì.
    Thái Dương rơi vào hãm địa hội Hoá Kỵ việc gì cũng mờ ám trục trặc có thể gặp những vụ bất ngờ mà phá sản nghiệp. Nếu Mệnh cung không bị khắc chế, vững vàng lại có Hoá Lộc thì đỡ hại.


    Nam Mệnh Vũ Khúc ca:

    Vũ Khúc thủ Mệnh Hoá Vi Quyền
    Cát diệu lại làm phúc thọ toàn.
    Chí khí chánh vinh đa xuất chúng
    Siêu phàm nhập thánh hướng nhân tiền
    Vũ Khúc chi tinh thủ Mệnh cung
    Cát tinh thủ chiếu thủy xương vinh
    Nhược gia Hao Sát lai xung phá
    Nhậm thị tài đa tất cánh không

    Nghĩa là:
    Vũ Khúc thủ Mệnh hoá thành Quyền, chung quanh có sao tốt thì hoàn toàn phúc thọ. Chí khí hơn người tinh thần cũng hơn người. Nếu bị nhiều sát tinh xung phá dù cho giàu có cũng sẽ bị lụn bại.


    Nam Mệnh Thiên Đồng ca:

    Thiên Đồng tọa mệnh tính ôn lương
    Phúc Lộc du du thọ cánh trường
    Nhược thị phúc nhàn cư miếu vượng
    Định giao thực lộc dự truyền dương
    Thiên Đồng nhược dữ cát tinh phùng
    Tính cách thông minh bách sự thông
    Nam tử định nhiên thực thiên lộc
    Nữ nhàn lạc thủ tú phòng trung
    Thiên Đồng thủ mệnh lạc nhàn cung
    Hoả Đà sát hợp cánh vi hung
    Thiên Cơ Lương Nguyệt lai tương hội
    Chi bảo không môn độ tuế trung.

    Nghĩa là:
    Thiên Đồng tọa Mệnh cung, tính tình ôn hoà tử tế người có phúc lộc và đa thọ. Nếu đóng tại miếu vượng chẳng những ăn lộc còn danh tiếng nữa. Gặp Cát tinh phò trợ, thông minh, lanh lợi làm việc gì cũng dễ lọt, đàn ông thực thiên lộc, đàn bà sống trong nhung lụa. Thiên Đồng thủ Mệnh tại nhàn cung (nhàn cung của Thiên Đồng trong ca quyết về nhàn cung ở Chương trên không thấy ghi ở đâu cho nên phải lấy hãm địa mà đoán) thêm Hỏa Tinh, Đà La xung phá là rất hung dù được Nguyệt Lương tiếp ứng cũng chỉ nên an phận.


    Sửa lại bởi TYPN : 21 March 2004 lúc 11:47pm
    Nam Mệnh Liêm Trinh ca


    Liêm Trinh thủ Mệnh diệc phi thường
    Phú tính nguy nguy chí khí cường
    Cách cổ đỉnh tân quan đại quí
    Vị quan thanh hiển tính danh dương
    Liêm Trinh tọa Mệnh hiệu nhàn cung
    Tham Phá Kình Dương hỏa cánh trung
    Túng hữu tài quan Vi bất mỹ
    Bình sinh hà dĩ đắc thung dung
    Liêm Trinh lạc hãm nhập nhàn cung
    Cát diệu tương phùng dã hữu hung
    Yêu túc tai tàn nan thoát ách
    Cánh gia ác sát mệnh coi chung.
    Nghĩa là:
    Liêm Trinh thủ Mệnh vốn con người phi thường chí khí ưa ngang ngược, nếu lên bằng con đường cách cố đỉnh tân (đường đấu tranh) có thể ở bậc đại quí làm việc giỏi giang.
    Liêm Trinh rơi vào nhàn cung (cũng không thấy ghi nhàn cung của Liêm Trinh trong nhàn cung ca quyết Chương trên) gặp Tham Lang, Phá Quân, Kình Dương dù có giàu sang nhưng rất bấp bênh nay còn mai mất.
    Liêm Trinh hãm địa (Tị Hợi) có sao tốt vây quanh vẫn hung, dễ bị tàn tật thương tích nếu ác sát nặng phải chết.


    Nam Mệnh Thiên Phủ ca

    Thiên Phủ chi tinh thủ Mệnh cung
    Gia chi Quyền Lộc Hỉ tương phùng
    Khôi Xương Tả Hữu lai tương hội
    Phụ Phượng Phan Long thượng cửu thiên
    Hỏa Linh Dương Đà tam phương hội
    Vi nhân gian trá đa lao bác
    Không Kiếp đồng viên bất vi giai
    Chỉ tại Không Môn đã hưởng phúc.
    Nghĩa là:
    Thiên Phủ thủ Mệnh hội cung Quyền Lộc và Xương, Khôi, Tả Hữu sẽ được dựa kẻ quyền quí mà có chức tước.
    Nếu Thiên Phủ bị Hỏa Linh Dương Đà vây hãm là người gian trá cuộc đời lận đận. Thiên Phủ bị Kiếp Không phá cũng không hay chỉ có thể hưởng phúc ở chốn thiền môn.


    Nam Mệnh Thái Âm ca

    Thái Âm nguyên thị thủy chi tinh
    Thân Mệnh phùng chi phúc tự sinh
    Dậu Tuất Hợi viên vi đắc địa
    Quang huy dương hiển tính danh hanh
    Thái Âm nhập miếu Hoá Quyền tinh
    Thanh tú thông minh mai đẳng luân
    Bẩm tính ôn lương cung kiêm nhượng
    Vi quan thanh hiển liệt triều thân
    Dầu thượng Cơ Xương Khúc nguyệt phùng
    Túng nhiên cát củng bất phong long
    Nam vi bộc tông nữ vi kỹ
    Gia sát xung sát đáo lão cùng
    Thái Âm hãm địa ác tinh trung
    Đà Hỏa tương phùng định khốn cùng
    Thử mệnh chỉ nghi tăng dữ đạo
    Không môn xuất nhập đắc thung dung.
    Nghĩa là:
    Thái Âm là tinh hoa của hành thủy, đóng ở Thân Mệnh phúc lộc tự sinh, ở Dậu Tuất Hợi là đắc địa sáng rực rỡ và tiếng tăm. Thái Âm nhập miếu biến thành Quyền tinh, con người thanh tú siêu quần, bẩm tính ôn lương cung kiệm khiêm nhường làm quan thanh hiển trong triều.
    Thái Âm tại Dần hội cùng Thiên Cơ, Xương Khúc dù có các sao tốt phù trợ cũng khó lòng làm nên cơ nghiệp, đàn ông đi hầu đàn bà, làm đĩ nếu gặp ác sát xung phá bần cùng đến già.
     
  13. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    Nam Mệnh Tham Lang ca

    Tứ Mộ cung trung phúc khí nùng
    Đề binh chỉ nhập lập biên công
    Hỏa Tinh cũng hội thành vi quí
    Danh chấn chư di định hữu phong
    Tham Lang thủ Mệnh đồng Dương cung
    Đà Sát giao gia tất khốn cùng
    Vũ Phá Liêm Trinh đồng Sát Kiếp
    Bách nghệ phòng thân độ tuế chung
    Tứ mộ Tham Lang miếu vượng cung
    Gia làm Tả Hữu phú tài ông
    Nhược nhiên tái Hoá Khoa Quyền Lộc
    Văn Vũ tài năng hiển đại công

    Nghĩa là:
    Sao Tham Lang ở tứ mộ địa (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) rất hay, nên hội với Hỏa Tinh tất oai quyền danh tiếng chấn động, cầm quân lập đại công.
    Tham Lang thủ Mệnh đồng cung với Kình Dương thêm Đà Sát xâm lấn thì cuộc sống khốn cùng.
    Tham Lang đi với Vũ Khúc rất tốt nhưng lại ngộ Liêm Trinh Phá Quân, Không Kiếp làm ăn nghề nào ra nghề nào suốt đời vất vả.
    Tham Lang cư tú mộ địa gặp Tả Hữu sẽ thành phú ông, có được Khoa Quyền Lộc nữa thì tài năng văn võ đều đủ.


    Nam Mệnh Cự Môn ca

    Cự Môn Tý Ngọ nhị cung phùng
    Cục trung đắc ngộ dĩ vi vinh
    Tam hợp hoá cát Khoa Quyền Lộc
    Quan cao cực phẩm y tử bào
    Thử tính hoá ám bất nghi phùng
    Cánh hội hung tinh dữ tứ hung
    Thần sĩ hữu thương kiêm tính mãnh
    Nhược nhiên nhập miếu khả hoà bình
    Cự Môn thủ Mệnh ngộ Kình Dương
    Linh Hỏa phùng chi sự bất tường
    Vi nhân tính cấp đa điên đảo
    Liêm quyển chân chân tọa tú phòng

    Nghĩa là:
    Cự Môn ở Tý Ngọ hợp với mệnh cục thế nào cũng vinh hiển, nếu tam hợp xung chiếu lại có Khoa Quyền Lộc tất là quan cao cực phẩm, được mặc áo bào đỏ.
    Cự Môn khí hoá thành ám nếu ở Hãm Địa còn bị hung tinh phá phách càng thêm tai họa, tính tình thô lỗ, dễ bị thương tích ở môi miệng, bị hung tinh phá phách mà Cự Môn miếu địa đỡ hại hơn.
    Cự Môn thủ Mệnh gặp sao Kình Dương và Linh Hỏa, mọi việc đều thành bất tường. Con người tính nóng nảy điên đảo, nếu là Nữ Mệnh thì phòng không cô độc.


    Nam Mệnh Thiên Tướng ca

    Thiên Tướng tinh thần mại đẳng luân
    Chiếu thủ Thân Mệnh hỉ vô ngần
    Vi quan tất chủ cư nguyên tể
    Tam hợp tương phùng phúc bất khinh
    Thiên Tướng Cát tinh vi Mệnh chủ
    Tất định, tư nhân đa khắc kỷ
    Tài Quan Lộc chủ vượng gia tư
    Quyền áp đương thời thùy bất mỹ
    Thiên Tướng chi tinh phá Vũ Đồng
    Dương Đà Hỏa Linh cánh vi hung
    Hoặc tác kỹ thuật Kinh Thương bối
    Nhược tại Không Môn hưởng phúc long.

    Nghĩa là:
    Thiên Tướng là một vị tinh tú siêu quần, nó thủ Thân Mệnh là đáng mừng vô ngần, lam quan đến bậc tể tướng, tam hợp chiếu có Thiên Tướng phúc lộ không ít.
    Thiên Tướng làm chủ Mệnh cung là người cả quyết tự chủ ở chức vị giàu sang.
    Thiên Tướng gặp Vũ Khúc, Phá Quân và Dương Đà, Linh Hỏa nếu không làm thợ, làm lái buôn thì đi vào con đường tăng ni.
    Nam Mệnh Thiên Lương ca

    Thiên Lương chi diệu số trung cường
    Hình Thần ẩn trọng tính ôn lương
    Tả Hữu Khúc Xương lại hội hợp
    Quản giao phú quí liệt triều cương
    Thiên Lương tinh tú thọ tinh phùng
    Cơ Nhật Văn Xương Tả Hữu đồng
    Tý Ngọ Dần Thân vi nhập miếu
    Quan tư thanh hiển chí tam công
    Thiên Lương ngộ Hỏa lạc nhàn cung
    Đà Sát trùng phùng cánh thị hung
    Cô Hình đới tật phá gia tài
    Không Môn kỹ thuật khả doanh công
    Thìn Tuất Cơ Lương phi tiểu bổ
    Phá Quân Mão Dậu bất vi lương
    Nữ nhân đắc thử vi cô độc
    Khắc tử hình phu thư lãnh phòng

    Nghĩa là:
    Thiên Lương chính diệu là sao tốt của nó, hình dáng bệ vệ ôn lương, gặp thêm Tả Hữu, Xương Khúc làm quan, phú quí.
    Thiên Lương ngộ Thiên Cơ, Thái Dương, Văn Xương, Tả Hữu ở miếu địa Tý Ngọ Dần Thân quan tư thanh hiển tới bậc tam công.
    Thiên Lương ngộ Hỏa tinh nơi nhàn cung, bị Đà Sát sẽ gây hung họa, tật bệnh hao tán rồi phá nghiệp, đến nổi phải đi làm thuê mướn.
    Hai sao Cơ Lương đóng tại Thìn, Tuất và sao Phá Quân ở Mão Dậu đều xấu. Nữ mệnh cô độc khắc tử hình phu.
     
  14. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    Nam Mệnh Thất Sát ca

    Thất Sát Dần Thân Tý Ngọ cung
    Tây di củng thủ phục anh hùng
    Khôi Việt Tả Hữu Văn Xương hội
    Khoa Lộc danh cao thực vạn chung
    Sát cư hãm địa bất kham ngôn
    Hung họa do như bão hổ miên
    Nhược thị Sát cường vô chế phục
    Thiếu niên ác tử tại hoàng tuyền
    Thất Sát tọa mệnh lạc nhàn cung
    Cự tú Dương Đà cánh chiếu xung
    Nhược bất thương chi tất tổn cốt
    Không Môn tăng đạo khả hưng long.

    Nghĩa là:
    Thất Sát đóng tại cung Dần Thân Tý Ngọ, rợ Tây di phải chắp tay chịu phục người anh hùng thêm Khôi Việt, Tả Hữu tụ hội thì khoa lộc danh cao giàu sang phú quí.
    Thất Sát ở Hãm địa hại vô tả, hung họa ví như ôm Hổ dữ mà ngủ, nếu Thất Sát quá mạnh không bị chế phục có thể chết.
    Thất Sát thủ Mệnh ở nhàn cung, thêm Cự Môn Dương Đà chiếu xung nếu không gẫy tay cũng chẹo xương nên tu tỉnh cho bớt ác nghiệp.


    Nam Mệnh Phá Quân ca

    Phá Quân Thất Sát dữ Tham Lang
    Nhập miếu anh hùng bất khả đương
    Quan Vũ Mệnh phùng vi thương tướng
    Thứ nhân phú túc trí điền trang
    Phá Quân Tý Ngọ hội Văn Xương
    Tả Hữu song song nhập miếu lang
    Tài Bạch phong doanh đa khảng khái
    Quan Lộc chiêu trước tá quân vương
    Phá Quân nhất diệu tối nan dương
    Hoá Lộc Khoa Quyền hỉ dị thường
    Nhược hoàn hãm địa nhưng gia sát
    Phá tổ ly tôn xuất viễn hương
    Phá Quân bất hỉ tại Thân cung
    Liêm Trinh Hỏa Dương Đà hội hung
    Bất kiến thương tàn đích thọ yểu
    Chỉ nghi tăng đạo độ bình sinh

    Nghĩa là:
    Cả ba sao Phá Quân, Thất Sát, Tham Lang cư miếu địa hội tụ vào Mệnh cung tất là con người anh hùng, Quan Vân Trường có số này nên làm thượng tướng, kẻ thôn dã sẽ giàu có ruộng vườn.
    Phá Quân đóng Tý Ngọ gặp Văn Xương có Tả Hữu thì tính tình khẳng khái, tiền bạc đầy kho làm tới bậc công thần khai quốc.
    Phá Quân đóng đơn độc không hay nhưng nếu có Khoa Quyền Lộc hội thì lại tốt dị thường, bị rơi vào Hãm địa sẽ bỏ tổ nghiệp mà đi tha hương cầu thực.
    Phá Quân không nên thủ ở Thân cung (Thân đây Thân Mệnh chứ không phải Thân tính theo hàng chi) lại có Dương Đà, Linh Hỏa xung phá dễ bị thương tàn và yểu triết chỉ nên đi tu.
    Nam Mệnh Văn Xương ca

    Văn Xương tọa Mệnh vượng cung lâm
    Chí đại tài cao để vạn kim
    Văn nghệ tinh hoa tâm tráng đại
    Tu giao binh bộ thương thanh xuân
    Văn Xương thủ Mệnh diệc phi thường
    Hạn bất yểu thương phúc thọ trường
    Chỉ pha hạn xung phùng Hoá Kỵ
    Tu giao yểu chiết đới hình thương

    Nghĩa là:
    Có sao Văn Xương thủ Mệnh ở vượng cung, chí lớn tài cao, văn học tinh thông, đời cứ thênh thang mà tiến lên.
    Văn Xương thủ Mệnh là con người khác thường gặp hạn xấu không sợ, chỉ lo năm xung mà Văn Xương ngộ Hoá Kỵ có thể bị thương hoặc chết non yểu.


    Nam Mệnh Văn Khúc ca

    Văn Khúc thủ Mệnh tối vi lương
    Tướng mạo đường đường chí khí ngang
    Sĩ thứ phùng chi ưng phúc hậu
    Trượng phu đắc thử thụ kim chương
    Văn Khúc thủ viên phùng Hỏa Kỵ
    Bất hỉ tam phương ác sát tụ
    Thử nhân tuy xảo khẩu năng ngôn
    Duy tại Không Môn khả ngộ quí

    Nghĩa là:
    Sao Văn Khúc thủ Mệnh tốt lắm, tướng mạo đường đường chí khí hiên ngang, người sĩ thứ sẽ hưởng phúc hậu, kẻ trượng phu sẽ được phong tặng.
    Văn Khúc thủ Mệnh ngộ Hoá Kỵ, Hỏa Tinh là người biện thuyết tài giỏi nhưng tam phương nên có ác tinh xung phá nữa mới hay, nếu có thì dễ chiêu hung họa.


    Nam Mệnh Tả Phụ ca

    Tả Phụ tôn tinh năng giáng phúc
    Phong lưu đôn hậu thông kim cổ
    Tử Phủ, Lộc Quyền, Tham Vũ hội
    Văn quan vũ chức đa thanh quí
    Dương Đà Hỏa Linh tam phương chiếu
    Túng hữu tài quan phi cát triệu
    Liêm Trinh Phá Cử cánh lai xung
    Nhược bất tàn thương chung thị yểu.

    Nghĩa là:
    Sao Tả Phụ có thể giáng phúc là người đôn hậu thông kim cổ, nếu hội cùng Tử Vi, Thiên Phủ, Lộc Quyền và Tham Vũ, quan văn quan võ đều hiển quí.
    Tam phương Dương Đà Hỏa Linh chiếu, dù tiền nhiều chức trọng cũng không bền. Gặp Liêm Trinh, Phá Quân, Cự Môn xung phá tất bị tàn tật hoặc yểu chiết.


    Nam Mệnh Hữu Bật ca

    Hữu Bật Thiên Cơ thượng tể tinh
    Mệnh phùng trọng hậu tối thông minh
    Nhược vô Hỏa Kỵ Dương Đà hội
    Gia Cát tài quan quán thế anh
    Hữu Bật tôn tinh nhập Mệnh cung
    Nhược hoàn sát tấu chủ thường dung
    Dương Đà Không Kiếp tam phương tấu
    Tu trì đời tật miễn tai hung

    Nghĩa là:
    Hữu Bật là người có cơ mưu thông minh, bệ vệ. Nếu không bị Hỏa Kỵ, Dương Đà xung phá lại được cát tinh phù trợ thì tiền tài, danh vọng dễ tìm.
    Hữu Bật thủ Mệnh gặp nhiều Sát tinh Dương Đà, Không Kiếp, người phải có tật mới mong tránh khỏi tai nạn.
    Nam Mệnh Lộc Tồn ca

    Nhân sinh nhược ngộ Lộc Tồn tinh
    Tính cách cương cường bách sự thành
    Quan viên thiên hề Xương Khúc hội
    Thao thao y lộc hiển môn đinh
    Lộc Tồn thủ Mệnh mạc phùng xung
    Đà Hỏa giao gia phúc bất toàn
    Thiên Cơ Kiếp Không bị tương hội
    Không Môn tăng đạo đắc thanh nhàn.

    Nghĩa là:
    Con người ta may mắn gặp được sao Lộc Tồn tính tình quả quyết làm việc gì cũng thành, có thêm Xương Khúc hội tụ thì y lộc, nhà cao cửa rộng mãi mãi.
    Lộc Tồn thủ Mệnh không nên gặp xung phá lại bị Dương Đà vây hãm, Lộc Tồn rất sợ sao Thiên Cơ với Kiếp Không. Nếu ở hoàn cảnh này chỉ nên vào chùa mới mong thanh nhàn.


    Khôi Việt Nhập Mệnh ca

    Khôi Việt Mệnh Thân hạn ngộ Xương
    Thường nhân đắc thử túc tiền lương
    Quan viên ngộ thử cao thiên được.
    Tất định đương niên diện đế vương

    Nghĩa là:
    Khôi Việt ở Mệnh Thân đáo hạn gặp Văn Xương người chưa danh phận sẽ tiền lương sung túc, người đã có danh phận thì năm ấy sẽ gặp Vua, lên chức cao.
    (Chú ý: Khôi Việt là sao tốt cho cả nam lẫn nữ Mệnh, nên không phân biệt nam hay nữ).


    Nam Mệnh Kình Dương ca

    Lộc tiền nhất vị an Kình Dương
    Thượng tướng phùng chi phúc lộc gia
    Cành đắc quí nhàn tương thủ chiếu
    Binh quyền vạn lý tráng hoàng gia
    Kình Dương thủ Mệnh tính cương cường
    Tứ mộ sinh nhàn phúc thọ trường
    Nhược đắc Tử Phủ lai tương hội
    Tu tri tài cốc phú sương sương
    Kình Dương nhất diệu lạc nhàn cung
    Đà Hỏa xung hề tiện thị hung
    Cánh nhược Thân Mệnh đồng Kiếp Sát
    Định nhiên yểu tuyệt tại đồ trung.

    Nghĩa là:
    Kình Dương an tại trước sao Lộc một cung con nhà võ gặp Kình Dương phúc lộc gia tăng còn được thêm quí nhân thủ chiếu thì binh quyền vạn lý đánh đông dẹp bắc.
    Sao Kình Dương thủ Mệnh tính nết cứng rắn, tứ mộ là nơi miếu địa của Kình Dương, Kình Dương ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi số mới thọ, lại có Tử Phủ hội hợp tiền tài thóc gạo đầy kho.
    Kình Dương một mình rơi vào nhàn cung, bị Đà La, Hỏa Tinh xung phá rất hung hại lại thêm Kiếp Không có thể chết đường.


    Nam Mệnh Đà La ca

    Đà La Mệnh nội tọa trung tồn
    Cánh hỉ nhân sinh tứ mộ trung
    Tái đắc Tử Vi Xương Phủ hội
    Tài Lộc phong danh viễn phan danh
    Đà La tại hãm bất kham văn
    Khẩu thiệt quan phi nhất thế xâm
    Tài tán nhân ly nhập cô độc
    Sở vi sở tác bất như tâm.

    Nghĩa là:
    Đà La thủ Mệnh, tối hỉ tứ mộ vô địa, có Tử Vi, Thiên Phủ hội hợp, tiền tài danh vọng đều hay.
    Đà La ở Hãm địa dễ bị vướng vào thị phi khẩu thiệt, tiền mất người xa, làm việc gì cũng chẳng toại ý.
    Nam Mệnh Hỏa Linh ca

    Hỏa Linh nhị diệu cư miếu địa
    Tham Lang Tử Phủ nghi tương hội
    Vi nhân tính cấp hữu uy quyền
    Chấn áp hương bang chung hữu quí
    Hỏa Linh tại Mệnh lạc nhàn cung
    Tây bắc sinh nhàn tác sự dung
    Phá tận gia tài chung bất cửu
    Tu giao đới tật miễn tai hung.

    Nghĩa là:
    Hỏa Tinh, Linh Tinh đóng miếu địa rất cần có Tham Lang, Tử Vi, Thiên Phủ hội tụ thì mới thành uy quyền, chấn áp hương bang mà quí hiển.
    Hỏa Tinh thủ Mệnh vào nhàn cung, người sinh phía Tây bắc làm việc khó thành dù đã phá hết tổ nghiệp vẫn chưa hết tai ương còn phải có tật mới tránh được hung họa.
     
  15. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    Thiên Không – Địa Kiếp Nhập Mệnh ca

    Mệnh tọa Thiên Không định xuất gia
    Văn Xương, Thiên Tướng thực tham khoa
    Nhược phùng tứ cát đồng Thân Mệnh
    Thụ ấm thừa ân phúc khả giai
    Địa kiếp tòng lai sinh phát tật
    Mệnh trùng tương ngộ đa thu khanh

    Nghĩa là:
    Sao Thiên Không thủ Mệnh là số xuất gia (đi tu) được Văn Xương, Thiên Tướng đáng mừng lại có thêm các sao tốt tụ tập thì được phúc ấm của tổ tiên.
    Sao Địa Kiếp vào Mệnh đã có tật bệnh ngay từ lúc mời ra đời, cuộc sống như sâu bọ, nếu gặp Dương Đà thì tàn khổ chẳng biết đến thế nào (Lời giảng đoán về sao Thiên Không Địa Kiếp trong Tử Vi đẩu số toàn thư còn nhiều thiếu sót vì nó hoàn toàn xấu không có chỗ đắc vị. Theo Tử Vi Việt thì hai sao Không Kiếp sẽ cực hay nếu chúng được đóng vào hai cung Tị Hợi miếu địa).

    Địa Kiếp tối hung thần
    Đóng đâu, hại đó mười phần hiểm nguy
    Hai cung Tị Hợi miếu vi
    Hoạnh phát, hoạnh phá tựa thì sấm ran
    Hoá Lộc Nhập Mệnh ca

    Thập thiên Hoá Lộc tối vi vinh
    Nam Mệnh phùng chi phúc tự thân
    Vũ chức đề danh biên tái thương
    Văn nhân danh dự mãn triều đình
    Lộc chủ Thiên Đồng ngộ Thái Dương
    Thường nhân đại phú túc điền trang
    Tư tài lục súc giai sinh vượng
    Phàm hữu thi vi tận cát tường.

    Nghĩa là:
    Sao Hoá Lộc bao giờ cũng đem đến sự vinh hiển, đàn ông có Hoá Lộc ở Mệnh tự nhiên phúc tới làm về võ tên tuổi dậy biên cương, làm về văn danh tiếng mãn triều đình.
    Hoá Lộc, Thiên Đồng gặp Thái Dương, dân giả cũng trở thành đại phú, nhà cửa ruộng vườn, lục súc đều hưng vượng, làm việc gì cũng hay, cũng tốt.


    Nam Mệnh Hoá Quyền ca

    Quyền tinh tối hỉ cát tinh phù
    Sự nghiệp hiên ngang đảm khí ưu
    Cánh trí Cự Môn kiêm Vũ diệu
    Tam biên chấn thủ trưởng binh phù.

    Nghĩa là:
    Sao Hoá Quyền cần được các sao tốt phù trợ thì sự nghiệp hiên ngang, đảm lượng hơn người. Hội với Cự Môn, Vũ Khúc thì chấn thủ biên cương, nắm quyền vạn binh.


    Nam Mệnh Hoá Khoa ca

    Khoa tinh văn tú tối vi kỳ
    Bao tàng cẩm tú mỹ văn chương
    Nhất được Vũ Môn Long biến hoá
    Quản giao thanh đạt dự triều đường
    Khoa tinh nhập Mệnh khởi tầm thường
    Cẩm tú tài hoa triển miếu đường
    Cánh ngộ Khúc Xương Khôi Việt tú
    Long môn nhất được tính danh dương

    Nghĩa là:
    Sao Hoá Khoa là văn tinh, thủ Mệnh cung là người văn chương cẩm tú, thi đỗ cao như cá vượt vũ môn thành rồng bay, hiển đạt chốn triều đường.
    Sao Hoá Khoa nhập Mệnh không phải loại tầm thường, hội với Xương, Khúc, Khôi Việt công danh sán lạn.


    Nam Mệnh Hoá Kỵ ca

    Chư tinh Hoá Kỵ bất nghi phùng
    Cánh hội hung tinh dữ tứ hung
    Nhược đắc cát tinh lai trợ cứu
    Túng nhiên phú quí bất phong long
    Tham Lang, Phá Quân cư hãm địa
    Ngộ cát, Hoá Kỵ chung bất lợi
    Nam vi gian đạo nữ vi sương
    Gia sát chiếu mệnh vô miên thụy.

    Nghĩa là:
    Hoá Kỵ là sao không nên gặp. Gặp nó rồi lại bị thêm cát hung tinh thì càng hung. Dù có Cát tinh trợ cứu khiến cho giàu sang nhưng cái giàu sang đó thường đi kèm với nhiều lo lắng.
    Hai sao Tham Lang, Phá Quân cư Hãm địa dù có Hoá Kỵ đắc địa cũng bất lợi. Đàn ông trộm cướp, đàn bà đĩ điếm, nếu thêm Sát tinh tất cuộc đời ăn ngủ không yên.
     
  16. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    Thái Tuế Nhập Mệnh ca

    Thái Tuế chi tinh bất khả đương
    Thủ lâm quan hạn yêu suy tường
    Nhược vô cát diệu lai tương trợ
    Vị miễu quan tai náo nhất trường.

    Nghĩa là:
    Sao Thái Tuế vốn mang tính chất hung tai, nếu có nhập hạn hoặc đóng cung Quan hãm địa mà không có cát tinh phù trợ, người chức vị thường gặp lắm chuyện phù trầm.
    Phú đoán của tiền nhân ta về hai cung Thân Mệnh ra sao?
    Xin lược chép dưới đây:

    a). Những người niên thiếu công danh
    Hồng Loan Bát Tọa ở mình không sai.

    b). Phủ phùng Không xứ tài suy
    Chung thân nao bảo tư cơ lưu truyền.

    c). Mấy người bất hiển công danh
    Chỉ vì Nhật, Nguyệt đồng cung Sửu Mùi.

    d). Phượng Long Mão Dậu đôi miền
    Vượng thì kim bảng ghi tên hàng đầu.

    e). Công danh đợi tuổi tác cao
    Giáp Liêm giáp Sát một hào không sai

    f). Dương Đà xâm chiếm Mệnh viên
    Nói năng loạn thuyết những phường điêu ngoa.

    g). Tham Liêm Tị Hợi không bàn
    Chàng Tiêu thuở trước tàn toan ngục hình
    NHỊ THIÊN DI CUNG

    Có sao Tử Vi, Tả Hữu xuất ngoại được quí nhân phù trợ phát phúc, cùng Thiên Phủ xuất nhập thông đạt, cùng Thiên Tướng tại ngoại xuất tài, cùng Phá Quân dễ thân với quí nhân, bị Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp ra ngoài bất an.
    Có sao Thiên Cơ xuất ngoại gặp quí nhân, ở nhà hay mang tiếng thị phi. Cùng Cự Môn cần phải hoạt động mới hay; cùng Thiên Lương xuất ngoại xứng ý; Cùng Thái Âm gặp sự hoang mang thường có may, bị Dương Đà, Linh Hỏa xuất ngoại phải đối đầu với nhiều bất trắc.
    Có sao Thái Dương nên xuất ngoại mới phát phúc là người không thể tĩnh thủ; cùng Thái Âm xuất ngoại lúc cấp bách chuyển thành hay; cùng Cự Môn lao tâm; bị Dương Đà Hỏa Linh, Không Kiếp tại ngoại thân tâm bất thanh nhàn.
    Có sao Vũ Khúc đối phó với bên ngoài cần tĩnh thủ đừng lật đật lúc cấp bách; cùng Tham Lang thường là tay kinh doanh lớn; cùng Thất Sát, Phá Quân là người ưa hoạt động, táo cấp; bị Dương Đà, Linh Hỏa dễ mang tiếng thị phi.
    Có sao Thiên Đồng xuất ngoại có quí nhân phù trợ; cùng Cự Môn lao tâm khổ trí; cùng (đồng cung) Thái Âm tân khổ; cùng Thiên Lương dễ thân với quí nhân; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không tại ngoại bất toại chí.
    Có sao Liêm Trinh xuất ngoại thông đạt cận quí không nên do đó trong nhà; cùng Tham Lang cần thả câu lúc nước đục, cùng Thất Sát ra ngoài làm ăn ra tiền; cùng Thiên Tướng nên luôn luôn hoạt động, bị Dương Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không xung sát có thể chết đường.
    Có sao Thiên Phủ xuất ngoại có quí nhân phù trợ; cùng Tử Vi phát phúc, cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc giữa khi thiên hạ hoang mang thì mình hoạt động dễ phát tài, thường là tay cự thượng.
    Có sao Thái Âm nhập miếu xuất ngoại gặp quí nhân, hoạnh phát tài sản, hãm địa chiếu thị phi; cùng Thái Dương rất tốt; cùng Thiên Đồng miếu vượng địa xuất ngoại ty trắng làm nên cơ đồ.
    Có sao Tham Lang độc thủ tại ngoại lao bác nhưng hay gặp dịp hoạnh tài nếu liều lĩnh; cùng Liêm Trinh thêm Tứ Sát tại ngoại tân khổ; cùng Vũ Khúc là tay doanh thương; có Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp hao sát thường bị họa chiến chinh.
    Có sao Cự Môn ra ngoài lao tâm bất an, luôn luôn gặp chuyện thị phi, thêm Không Kiếp, Dương Đà, Hỏa Linh càng xấu nữa.
    Có sao Thiên Tướng xuất ngoại có người đề bạt, nâng đỡ, cùng Tử Vi càng tốt; cũng Vũ Khúc tại ngoại phát tài; cùng Liêm Trinh thêm Dương Đà, Linh Hỏa chiếu thị phi.
    Có sao Thiên Lương xuất ngoại cận quí; cùng Thiên Đồng phúc hậu; cùng Thiên Cơ thường ra đời bằng khả năng nghệ thuật.
    Có sao Thất Sát sống ở bên ngoài nhiều hơn sống trong nhà; cùng Vũ Khúc nên hoạt động mới hay; cùng Liêm Trinh tại ngoại sinh tài cùng Tử Vi ra ngoài được toại chí; có Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp lênh đênh góc bể chân trời.
    Có sao Phá Quân xuất ngoại lao bác, dù nhập miếu tại ngoại cuộc sống cũng bấp bênh nay khá mai tàn, bị Dương Đà, Linh Hỏa xung bôn tẩu, được Xương Khúc, Vũ Khúc là người rất tháo vát.
    Có sao Văn Xương xuất ngoại ngộ quí phát đạt, kỵ Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp.
    Có sao Văn Khúc tại ngoại tận quí, thêm cát tinh phù trợ đắc tài, bị Dương Đà, Linh Hỏa ít tọai chí.
    Có sao Tả Phụ cần hoạt động luôn mới để gặp quí nhân phù trì; gặp Dương Đà, Linh Hỏa dễ tai tiếng thị phi.
    Có sao Hữu Bật xuất ngoại ngộ quí nhân phát đạt; không nên tĩnh thủ, gặp Dương Đà, Linh Hỏa ra ngoài thường tranh cạnh xung đột với người.
    Có sao Lộc Tồn xuất ngoại y lộc toại tâm, gặp Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thường bị thua thiệt.
    Có sao Kình Dương nhập miếu ra ngoài áo mũ bổng lộc, phát tài bằng sự quấy đảo, ở Hãm Địa chỉ là loại tay sai dao búa.
    Có sao Đà La thêm Cát tinh tại ngoại ngộ quí đắc tài Hãm địa lại bị Kiếp Không, Linh Hỏa, Kình Dương sẽ dính vào nhiều chuyện thị phi, cư nhân hạ.
    Có sao Hỏa Tinh độc thủ xuất ngoại bất an, được Cát tinh phù trì hay hoạnh tài; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp bất tọai chí.
    Có sao Linh Tinh được cát tinh trợ lực xuất ngoại tốt, bị Dương Đà, Hỏa Tinh, Không Kiếp xấu.
     
  17. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    Phú đoán nôm của tiền nhân ta về cung Thiên Di ra sao?
    Xin lược chép dưới đây:


    a). Thiên Di ấy mã binh ngồi
    Đánh đông dẹp bắc pha phôi cõi ngoài
    b). Long đong đông tẩu tây trì
    Chẳng qua Thiên Mã Thiên Di hãm nhàn
    c). Thiên Di Nhật Nguyệt giáp đôi
    Nhất sinh xuất ngoại nhiều nơi thế thần.
    d). Thiên Di, Hoá Kỵ ra ngoài.
    Kẻ thù oán chẳng ai gần mình
    e). Thiên Di Địa Kiếp cơ Liêm
    Hồn qui phách lạc cánh tiên lánh phàm.
    f). Quan cung Hỉ ngộ Hồng Đào
    Thiên Di tối kị Kiếp Không lâm vào.
    g). Thiên Di Hoa cái Hỉ Thần
    Thiên Di Phụ Bật quí nhân yêu vì.
    h). Chơi bời du thủy du san
    Thiên Di ngộ Mã gặp chẳng Đà La
     
  18. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    TAM QUAN LỘC CUNG

    Có sao Tử Vi miếu vượng địa hội Xương Khúc, Tả Hữu, Khôi Việt chức vị đến phong hầu bá; bị Dương Đà, Linh Hỏa tầm thường, cùng Thiên Phủ quyền quí danh lợi lưỡng toàn; thêm Thiên Tướng nội ngoại quyền quí; cùng Phá Quân trong khi thiên hạ sóng gió mà mình yên ổn (náo trung an thân).
    Có sao Thiên Cơ nhập miếu quyền quí hội Văn Khúc làm lương thần có thấy Dương Đà Hỏa Linh mới tốt (kiến Dương Đà Hỏa Linh phương nghi) cùng Thiên Lương tài kiêm văn võ; cùng Thái Âm danh chấn biên di: ở Hãm Địa thoái quan thất chức.
    Có sao Thái Dương nhập miếu văn võ đều hay, miễn là đừng có Hỏa Linh, Dương Đà xung phá; cùng Thái Âm quí hiển; cùng Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt thêm Khoa Quyền Lộc làm tới bậc nhất phẩm tể tướng.
    Có sao Thiên Đồng văn võ đều có khả năng nhưng cần không gặp Dương Đà, Linh Hỏa; cùng Cự Môn làm ăn trước nhỏ sau lớn; hội Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt rất hay; cùng Thiên Lương quyền quí; cùng Thái Âm hãm địa rất xấu.
    Có sao Vũ Khúc nhập miếu đồng cung lại có Tả Hữu, Xương Khúc ở võ chức dễ làm lớn, được thêm Khoa Quyền, Lộc còn giàu sang; cùng Tham Lang thường là tham ô chi quan; cùng Phá Quân là người tạo sự nghiệp trong quân lữ; cùng Thất Sát lập công danh do những trường hợp đặc biệt; ở Hãm địa bị Kình Đà, Linh Hỏa xung phá công danh vô phận.
    Có sao Liêm Trinh nhập miếu thì võ chức quyền quí lâu bền; cùng Tham Lang thường leo lên quyền quí trong thời loạn (nào trung quyền quí).
    Có sao Thiên Phủ nhập miếu văn võ đều hay nếu không bị Dương Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không; cùng Tử Vi văn võ thành danh; cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc quyền quí nếu gặp Không Kiếp bình thường.
    Có sao Thái Âm nhập miếu quí hiển, hãm địa là người kiêu căng phá ngang khó lòng hiển đạt, hội cùng Thái Dương, Xương Khúc, Tả Hữu làm tới bậc tam phẩm; cùng Thiên Đồng văn võ đều hay; cùng Thiên Cơ nào trung tiến thân.
    Có sao Tham Lang nhập miếu ngộ Hỏa Linh thì ở vũ chức nắm đại quyền; cùng Tử Vi có thể quyền quí về văn cũng như võ. Tham Lang hãm địa, làm quan tham ô, bị Dương Đà, Không Kiếp tầm thường.
    Có sao Cự Môn nhập miếu vũ chức quyền quí, văn chức không lâu bền; cùng Thái Dương tấn thoát vô thường; cùng Thiên Cơ tại Mão cung rất tốt, tại Dậu cung tuy hay nhưng khó bền, ở Hãm Địa công danh lận đận thêm Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp càng xấu.
    Có sao Thiên Tướng nhập miếu văn võ đều hay thực lộc thiên chung, hãm địa thành bại vô thường, cùng Tử Vi quyền quí; cùng Xương Khúc, Tả Hữu hiển vinh; cùng Vũ Khúc trấn thủ biên cương, cùng Liêm Trinh quyền quí, bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp dễ mất chức, đày đọa.
    Có sao Thiên Lương miếu địa ở Ngọ cung hội với Tả Hữu, Khôi Việt là văn vũ chi tài; cùng Thiên Đồng quyền quí bất tiểu; cùng Thiên Cơ quí hiển; bị Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp bình thường.
    Có sao Thất Sát miếu vượng vũ chức quyền quí, văn nhân không hay; cùng Vũ Khúc có chức vị; cùng Liêm Trinh công danh hiển đạt.
    Có sao Phá Quân miếu vượng vũ chức hiên ngang; cùng Vũ Khúc thêm quyền lộc, Xương Khúc hiển đạt; bị Dương Đà, Hỏa Linh bình thường; cùng Tử Vi đồng cung có tiếng tăm; cùng Liêm Trinh không tốt cho người theo về đằng văn.
    Có sao Văn Xương nhập miếu cùng hội Thái Dương càng thêm hay; cùng Thiên Phủ, Văn Khúc phú quý song toàn.
    Có sao Văn Khúc miếu vượng văn võ đều tốt, rơi vào hãm cung gặp Thiên Cơ, Thái Âm thường hiển đạt bằng con đường tể lại tức là làm những việc hung dữ, ác độc, hội với Tử Vi và Tả Hữu thường gặp mặt Vua, bị Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp bình thường.
    Có sao Tả Phụ nhập miếu văn vũ chi tài, vũ chức tối vượng, bất lợi văn nhân; gặp sao tốt phù trợ hiển vinh; bị Dương Đà, Không Kiếp, Linh Hỏa thường gặp tai tiếng.
    Có sao Hữu Bật làm nên vũ chức, không hợp với văn nhân, cùng Tử Vi, Xương Khúc tài quan song mỹ; ở hãm địa dễ mất chức; gặp Dương Đà, Linh Hỏa thường bị truất giáng.
    Có sao Lộc Tồn gặp Cát tinh văn vũ đều hay thuộc cách tài quan song mỹ.
    Có sao Kình Dương nhập miếu rất lợi cho võ nghiệp thêm cát tinh quyền quý; ở Hãm địa bình thường nếu có danh chỉ là hư danh.
    Có sao Đà La độc thủ bình thường, toàn chuyện danh hão (Đà La độc thủ đóng Mệnh cung tốt hơn Quan Lộc cung).
    Có sao Hỏa Tinh lớn tuổi công danh mới toại, tuổi trẻ long đong thành bại; hội cùng Tử Vi, Tham Lang rất tốt; hãm địa hư hỏng.
    Có sao Linh Tinh độc thủ vượng cung tốt, hãm địa xấu.

    Phú nôm của tiền nhân ta về cung Quan Lộc ra sao?
    Xin lược chép dưới đây:

    a). Mộ phùng Tả Hữu đồng lai
    Thăng quan tiến chức miếu đài hiển vinh
    b). Đồng, Lương hội chiếu Dần Thân
    Khi xưa tay trắng mà nay sang giàu.
    c). Lộc, Phùng tử mã nhất ban
    Phong vân tế hội Mã Long Hỉ Đồng.
     
  19. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    TỨ TÀI BẠCH CUNG

    Có sao Tử Vi thóc gạo đầy kho; bị Dương Đà, Linh Hỏa bất vượng cùng Phá Quân trước khó sau dễ; cung Thiên Đồng, Tài Bạch súc tích; cùng Thiên Phủ no đủ suốt đời, thêm Tả Hữu phú quí, cùng Thất Sát hoạnh tài.
    Có sao Thiên Cơ lao tâm phi lực tinh toàn mới sinh tài, cùng Cự Môn phải cựa quậy nhiều mới kiếm được; cùng Thiên Lương thường dùng mánh khóe mà sinh ngoại tài; cùng Thái Âm ở hãm địa làm ăn dễ thất bại; gặp Dương Đà, Linh Hỏa vốn phá sản.
    Có sao Thái Dương nhập miếu no đủ sung túc, hãm địa vất vả khốn khó; cùng Thái Âm thêm Tả Hữu phát tài lớn; cùng Lộc Tồn đại phú; cùng Cự Môn thành thành bại bại.
    Có sao Vũ Khúc Hữu Cự vạn gia tư; cùng Phá Quân đông lai tây khứ tiền vào tay phải ra tay trái; cùng Thiên Tướng, Tài Bạch gặp nhiều quí nhân giúp đỡ; cùng Thất Sát tay trắng làm nên; cùng Tham Lang sau ba mươi tuổi mới phát đạt bị Dương Đà, Linh Hỏa tiền tài nan tụ; Vũ Khúc ở Tài Bạch tối kỵ Không Vong.
    Có sao Thiên Đồng tay trắng gây cơ đồ, phát đạt muộn; cùng Cự Môn tài khí lúc tiến lúc thoái, cùng Thiên Lương tiền tài đại vượng.
    Có sao Liêm Trinh tại Dần Thân nước đục buông câu phát tài sinh lợi; hãm địa xấu; cung Tham Lang hoạnh phát hoạnh phá; thấy Dương Đà, Hỏa Linh dễ gặp tiền tài bất ngờ, cùng Thất Sát là người giỏi xoay sở; cùng Thiên Tướng phú túc, thừa ăn thừa tiêu; bị Song Hao, Không Kiếp thường phá nghiệp.
    Có sao Thiên Phúc no ấm, thấy Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thành bại vô thường, cùng Tử Vi có của ăn của để; cùng Liêm Trinh, Vũ Khúc thêm Quyền Lộc là phú ông.
    Có sao Thái Âm nhập miếu tiền bạc đầy kho; ở Hãm địa tiền tài tụ tán nan tụ; cùng Thái Dương trước ít sau nhiều; cùng Thiên Cơ tay trắng làm giàu; cùng Thiên Đồng tài vượng; cùng Lộc Tồn, Tả Hữu chủ đại phú.
    Có sao Tham Lang miếu vượng dễ hoạnh phát, hãm địa bần cùng; cùng Tử Vi nên cố thủ chớ cựa lắm cho sẩy vẩy; gặp Hỏa Tinh tam thập niên hậu hoạnh phát, trước ba mươi tuổi vất vả.
    Có sao Cự Môn tay trắng làm giàu rồi vì thường cao ngạo không tính toán kỹ càng mà hoang phá; cùng Thiên Cơ làm đủ nghề; cùng Thái Dương tiền bạc súc tích; bị Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp phá nghiệp.
    Có sao Thiên Lương nhập miếu thượng đẳng phú quí hãm địa làm ăn vất vả; cùng Thiên Đồng, Bạch Thủ sinh tài; cùng Thiên Cơ lao tâm khổ tứ mà tiền bạc chẳng có bao nhiêu hay biến đổi, bị Dương Đà, Không Kiếp chỉ đủ hai tay vầy lỗ miệng.
    Có sao Thiên Tướng phú túc; cùng Tử Vi tài khí hoạnh phát; cùng Vũ Khúc thêm Tứ Sát làm cả trăm nghề kiếm tiền; cùng Liêm Trinh là lái buôn; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thành bại vô thường tài không tụ.
    Có sao Phá Quân cư Tý Ngọ nhiều tiền bạc súc tích, cư Thìn Tuất tiền bạc dễ kiếm; ở hãm địa bất tụ; cùng Vũ Khúc ở Tị Hợi tiền vào cửa đông đi ra cửa tây; cùng Tử Vi tiền tốn hao nhưng vào nhiều; cùng Liêm Trinh vất vả mới kiếm được; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp nghèo khổ.
    Có sao Văn Xương dầu nếu gặp nhiều cát tinh thì tài khí vượng; cùng Cự Môn miếu địa nhiều tiền; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp chỉ là lại bần sĩ, hàn nho.
    Có sao Văn Khúc miếu địa phú dụ; thêm sao tốt được quí nhân trợ giúp; Tứ Sát và Không Kiếp chủ tiền tài bất tụ.
    Có sao Lộc Tồn tiền bạc đến tự nhiên ít mất công lao khó nhọc; gặp Kình Đà, Không Kiếp làm việc gì cũng khó khăn lúc đầu rồi sau mới có tiền.
    Có sao Kình Dương ở Thìn Tuất Sửu Mùi thường hoạnh tài, hãm địa phải vất vả mới kiếm được thêm Không Kiếp, Kình Đà nghèo khổ.
    Có sao Đà La: cũng như có Kình Dương
    Có sao Hỏa Tinh độc thủ hoạnh phát cũng hoạnh phá, ở hãm cung phải cực nhọc độ nhật nếu được cát tinh phù trợ mới kiếm được tiền.
    Có sao Linh Tinh nhập miếu độc thủ hoạnh phát, hãm địa có hàn tân khổ độ nhật.
    Có sao Khôi Việt sống trong sự thanh cao mà vẫn phong túc, tiền bạc dễ dãi kiếm được.

    Phú nôm của tiền nhân ta về cung Tài Bạch ra sao?
    Xin lược chép dưới đây:

    a). Song Hao hội tại Phúc, Tài
    Tân nhiều tụ ít mấy ai nên giàu.
    b). Ấy ai phúc lộc để da
    Vũ, Lộc, Thiên Mã chiếu hoa Tài cung
    c). Ấy ai địch quốc tiếng đồn
    Bởi vì Thiên Mã hội cùng Tràng Sinh.
    d). Phá Quân đóng ở Tài cung
    Đồng tiền lên xuống tựa dòng nước xuôi.
    e). Nghèo hèn bởi tại Kiếp Không
    Dương Đà, Linh Hỏa long đong bôn trì.
    f). Tứ sát đóng ở Hợi Cung
    Khi hết lại có, khi vơi lại đầy.
    g). Ấy ai danh lợi thong dong
    Bởi vì Tả Hữu hội cùng Đế tinh.
    Tử bình nếu chỉ xem hôn lễ hỉ sự , tang chế , khởi công việc ...thì chính xác nhưng để khảo cứu số mệnh con người cùng những sự thăng trầm , thành bại của đời người thì phải dùng Tử vi thôi .
     
  20. nam sơn đạo nhân

    nam sơn đạo nhân Active Member

    NGŨ PHU THÊ CUNG

    Có sao Tử Vi hôn nhân muộn, vợ hay chồng là người tính cương nghị; cùng sao Thiên Phủ tốt đôi; cùng sao Thiên Đồng vợ trẻ; cùng Phá Quân hình khắc; cùng Dương Đà, Linh Hỏa hình khắc; cùng Tham Lang có cát tinh phò trợ hoà thuận.
    Có sao Thiên Cơ nên lấy vợ ít tuổi; trái lại thì đàn bà nên lấy chồng đứng tuổi. Bị Dương Đà, Hỏa Linh vợ chồng dễ bỏ nhau cho nên lấy vợ hay lấy chồng muộn mới tốt; cùng Thiên Lương nên lấy người hơn tuổi; cùng Thái Âm có vợ đẹp.
    Có sao Thái Dương miếu vượng lấy vợ muộn tốt; lấy sớm khắc nhờ vợ mà sang; cùng Thiên Lương thêm Tả Hữu thì vợ hiền và thông minh, giỏi dang; cùng Thái Âm được bà nội trợ tháo vát; cùng Cự Môn thêm Dương Đà, Hỏa Linh; Không Kiếp khắc; gặp Hao thường lấy vợ theo phi lễ thành hôn.
    Có sao Vũ Khúc dễ bị bộc khắc nên thành hôn muộn và lấy người bằng tuổi, lấy rồi làm ăn tiền vào; cùng Thất Sát khắc tới hai ba vợ nếu lại thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp nữa càng nặng.
    Có sao Thiên Đồng lấy vợ muộn nên chồng đứng tuổi, vợ nên thiếu; bị Tứ Sát xung phá khắc hoặc sinh ly; cùng Cự Môn thêm Sát Linh khắc; cùng Thái Âm vợ đẹp; cùng Thiên Lương hai vợ chồng cùng tốt đẹp.
    Có sao Liêm Trinh ba lần lấy vợ; cùng Tham Lang càng khắc thê; cùng Thất Sát cũng hình thê; Dương Đà, Linh Hỏa dễ bỏ nhau; cùng Thiên Phủ có thể trăm năm đầu bạc.
    Có sao Thái Dương vợ yêu thương chồng; gặp Dương Đà, Linh Hỏa phải lấy vợ muộn mới tốt.
    Có sao Thái Âm nhập miếu vợ chồng đều đẹp thêm Xương Khúc càng đẹp không sợ Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp; cùng Thiên Cơ nội trợ giỏi.
    Có sao Cự Môn nên lấy người nhiều tuổi; cùng Thái Dương mà không bị Tứ Sát xung phá giai lão; cùng Thiên Cơ vợ có nhan sắc; cùng Thiên Đồng vợ thông minh, lanh lợi; cùng Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp phải qua nhiều đời vợ. Sách có câu: Cự Môn cư thê đa bất mãn hoài.
    Có sao Thiên Tướng có vợ đẹp và hiền thục, đàn bà nên lấy chồng nhiều tuổi; cùng Tử Vi vợ chồng giai lão; cũng Vũ Khúc hay xẩy ra bất hoà, gặp Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp hình khắc.
    Có sao Thiên Lương the nghi đại nhan sắc; cùng Thiên Đồng vợ chồng hoà thuận; cùng Thiên Cơ đẹp mà hiền; gặp Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp lục đục.
    Có sao Thất Sát khắc sớm; cùng Vũ Khúc cũng khắc; cùng Liêm Trinh chia lìa; thêm Dương Đà, Linh Hỏa khắc ba đời vợ.
    Có sao Phá Quân nam khắc thê, nữ khắc phu, lấy nữa cũng ly dị; cùng Vũ Khúc càng khắc; cùng Tử Vi phải lấy vợ nhiều tuổi hơn mình.
    Có sao Văn Xương vợ ít tuổi thông minh; cùng Thiên Cơ, Thái Âm vợ đẹp; rơi vào hãm địa gặp Dương Đà, Linh Hỏa tối kỵ, vợ lăng loàn, đàng điếm.
    Có sao Văn Khúc lại thêm Văn Xương đa thê còn lắm thiếp; gặp Dương Đà, Linh Hỏa hình khắc, hội Thiên Âm miếu địa rất hay.
    Có sao Lộc Tồn nên lấy vợ ít tuổi và lấy vợ muộn; nếu bị Dương Đà, Linh Hỏa hay Triệt Lộ, Không Vong cô độc.
    Có sao Tả Phụ, Hữu Bật vợ chồng giai lão, cùng Tham Lang, Liêm Trinh hay Dương Đà, Linh Hỏa thường lấy vợ dữ.
    (Theo tiền nhân ta thì Thê cung có Tả Phụ, Hữu Bật là người lắm vợ trong khi Tử Vi đẩu số toàn thư lại nói Xương Khúc đi cặp ở Thê cung mới vậy).
    Có sao Hỏa Tinh nhập miếu thêm sao tốt phù trợ thì vợ chồng hoà thuận, ở hãm địa hình khắc.
    Có sao Thiên Khôi, Thiên Việt vợ chồng đều đẹp.

    Phú nôm của tiền nhân ta về cung Phu Thê ra sao?
    Xin lược chép dưới đây:

    a). Thiên Nguyệt Đức ngộ Đào Hồng
    Trai lấy vợ đẹp gái chồng giàu sang
    b). Sao Thai mà ngộ Đào Hoa
    Tiền dâm hậu thú mới ra vợ chồng.
    c). Vợ chồng viễn phố tha phương
    Đào Hồng đối chiếu vào làng Thiên Di
    d). Phu cung Hoá Kỵ một mình
    Tơ tình chưa dứt mối tình đã vui
    e). Thiên Riêu bất chính cả đời
    Liêm Trinh viễn phối ở nơi bần hàn.
    f). Triệt Tuần ngộ Mã Hình thê vị
    Vợ bỏ chồng Đào Tị tha hương
    g). Vợ chồng nay giận mai hờn
    Phục Binh Hoá Kỵ nơi toà phu thê.
    h). Vợ về có của muôn vàn
    Ân Quang, Nguyệt Đức, Thái Dương, Mã Đồng
    Ai mà Thiên Tướng, Đào Hồng
    Ai mà Thiên Mã Lộc phùng Thanh Long
     

Chia sẻ trang này