Kỷ Yếu Tọa Đàm - Offline 5

Thảo luận trong 'Giao lưu lần 5' bắt đầu bởi Trí Minh, 12/9/11.

Lượt xem: 3,094

  1. Trí Minh

    Trí Minh Active Member

    Trên đây Trí Minh xin lược đăng một số bài viết đến tọa đàm để các thành viên không được tham dự tiện theo dõi. Lưu ý đây là bài viết mở không có kết luận do đó các thành viên chỉ đọc mà miễn bàn luận đúng sai. Vì bài viết trên quan điểm cá nhân tham khảo.
     

    Bình Luận Bằng Facebook

  2. dongque

    dongque Member

    thấy bài nào đâu?
     
  3. Chờ bài viết của bác ạ !
     
  4. Trí Minh

    Trí Minh Active Member

    DIỄN ĐÀN HÁT VĂN VIỆT NAM
    Offline 5 tam vị thánh mẫu trong tín ngưỡng dân gian

    BÁO CÁO ĐỀ DẪN TỌA ĐÀM
    (Tam vị Thánh Mẫu trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam)

    Kính bạch chư tôn đức, Kính thưa quý vị đại biểu, học giả, thanh đồng, cùng toàn thể anh chị em thân mến.

    Việt Nam là một quốc gia với nền văn minh lúa nước được hình thành và phát triển qua suốt thời gian dài lịch sử. Với thời kỳ bình minh của nền văn minh này là chế độ xã hội Mẫu hệ. Có chăng tín ngưỡng thờ nữ thần và mẫu thần có từ thời kỳ đó. Rồi để lại một dấu ấn ban đầu cho tín ngưỡng này là hệ thống thờ tứ Pháp ngay từ cách đây gần 20 thế kỷ. Đồng thời sự thờ cúng các nữ thần và Mẫu thần trở lên bắt đầu phổ biến hơn. Thế nhưng không hiểu sao tín ngưõng này lại không sớm phát triển thành một tôn giáo dân tộc mà chỉ là một hiện tượng tín ngưỡng dân gian trong suốt 15 thế kỷ cho đến khi Thánh Mẫu Liễu Hanh xuất hiện vào khoảng những năm cuối thế kỷ 16. Bối cảnh lịch sử xã hội lúc đó là sự phục hưng của nhiều nền văn hoá dân gian, sự quay trở lại của Phât giáo trong dân gian sau gânf 2 thế kỷ bị mất vị trí Quốc giáo trong hoàng cung. Nhưng có lẽ đáng nói hơn cả là có lẽ bỏi niềm tin vào Nho giáo một hệ tư tưởng được coi như chính thống của triều Lê bị lung lay khi mà vô số sự kiện, tranh đoạt ngôibáu diễn ra, cảnh giết vua và thay đổi triều đại đã làm cho tư tưởng trung quân ái quốc của Nho giáo bị lung lay trong tư tưởng của tuyệt đại đa số nhân dân chăng? Công thêm việc chiến tranh liên miên đã khiến những người đàn ông trụ cột của gia đình phaỉo ra chiến trường và những người bà, người mẹ, người chị, người vợ phải thay họ gánh vác công việc gia đình đồng thời đóng vai trò chủ chốt trong gia đình. Họ lúc này cần có một niền tin một chỗ dựa tinh thần vào thần Phật. Có lẽ trong sự đó các vị thần vốn là nam thần của Phật giáo đã hoá thần thành nữ thần để gần gũi nguời phụ nữ hơn trong việc hoá độ và xoa dịu nỗi buồn đau của người phụ nữ trong bối cảnh xã hội lúc đó. Bồ tát Quan Âm hiện thân như một vị nữ thần cùng với hàng loạt truyện thờ về ngài ra đời để minh hoạ thêm một cách sinh động như quan âm thị kính, phật bà chùa Hương.......và rồi tín ngưỡng thờ nữ thần, mẫu thần được phát triển thêm ở mức cao hơn thành cả một hệ thống tín ngưỡng tam tứ phủ với sự xuất hiện của một vị thần tối cao nhiều quyền phép là đức thánh mẫu Liễu Hạnh. Chúng ta thấy bắt đầu từ đây điện thần VIệt Nam được hình thành một cách có ệ thống với Tam toà Thánh Mẫu, Ngũ vị tôn ông, chầu bà, ông hoàng và thánh cô, thánh cậu......Tuy nhiên trong suốt quá trình gàn 500 năm qua sau sự xuất hiện của Liễu Hạnh thánh mẫu đã có không ít quan niệm cũng như chủ thuyết về tam vị thánh mẫu, thân chủ của tứ phủ với nhiều niềm tin vào luồng quan điểm kác nhau trong tín ngưỡng này. Trong khuôn khổ buổi toạ đàm hôm nay chúng ta chỉ xin đề cập đến 3 vấn đề được cho là 3 quan điểm phổ biến nhất trong dân gian và kể cả trong sự tranh luận có những lúc trở lên nóng và gay gắt trên diễn đàn hatvan.vn của chúng ta ần đây .

    I. Quan điểm về Tam vị Thánh Mẫu trong đó cho rằng

    Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh là thiêng liêng nhất và là đệ nhất đồng thời là thần chủ của tứ phủ ngài là vị thánh mẫu kiêm quản cả cõi trời cõi người Thiên Tiên, Địa Tiên. Ngài từ đế thích thiên cung giáng xuống và trong không gian thờ ngài ngồi chính giữa mặc áo maù đỏ.
    Đệ nhị là Đức Lê Mại đại vương La Bình công chúa con gái Tản Viên Sơn Thánh ngài kiêm coi 81 của ngàn cõi Nam Giao bvà là vị thánh mẫu đệ nhị cai quản thượng ngàn Nhạc Phủ. Trong không gian thờ ngài ngồi một bên mặc áo màu xanh.
    Đệ tam là Xích Lân Long Nữ công chúa ngài quản cai miền sông nước Thoải phủ mặc áo trắng ngồi một bên.

    Văn kiều thỉnh hỏt rằng :

    Thỉnh mời Đệ Nhất Chúa Tiên
    Sắc phong Chế Thắng xe loan ngự về
    Phủ Dày Vân Cát thôn quê
    Giáng sinh vào cửa họ Lê cải Trần
    Hình dong cốt cách thanh tân
    Mười năm định giá hôn nhân xướng tùy
    (trích " Văn thỉnh Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên")

    Thỉnh mời Đệ Nhị Chúa Tiên
    Vốn xưa Mẫu ngự trờn đền Đông Cuông
    Hình dong nhan sắc khác thường
    Giá danh đòi một hoa vương vẹn mười
    Biết đâu liễu thắm thơ bài
    Lòng trinh chẳng động một vài giá xuân
    (trích " Văn thỉnh Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn")

    Thỉnh mời Đệ Tam Chúa Tiên
    Xích Lân Long Nữ ngự đền Thoải cung
    Kính Xuyên sớm kết loan phòng
    Thảo Mai tiểu thiếp ra lòng gieo oan
    Kính Xuyên chẳng xét ngay gian
    Nỡ đem đầy chốn lâm san một mình
    (trích " Văn thỉnh Mẫu Đệ Tam Thoải Cung")

    II./ Quan điểm thứ 2 cho rằng

    Đệ nhất là đức Cửu Trùng Thanh Vân công chúa quản cai thiên tiên ngồi giữa mặc áo đỏ
    Đệ nhị Liễu Hạnh Thánh mẫu quản cai Địa Tiên
    Đệ Tam Xích Lân Long Nữ Thánh Mẫu quản cai Thuỷ tiên
    Đệ Tứ Lê Mại Đại Vương Lâm Sơn Thánh Mẫu quản cai Nhạc tiên

    III./ Quan điểm thứ 3 cho rằng 3 lần giáng sinh với chủ thuyết tam sinh tam hoá đức Liễu Hạnh lần lượt là 3 ngôi vị trong tam toà thánh mẫu

    Đệ Nhất quảng Cung Thánh Mẫu
    Đệ Nhị Vân Hương Thánh Mẫu Liễu Hạnh
    Đệ Tam Nga Sơn Thánh Mẫu

    Với 3 quan điểm được nhiều nguời quan tâm này hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau trao đổi và chia sẻ thông tin về tam vị Thánh Mẫu cùng với nhiều quan điểm liên quan đến các ngài những vị thần quan trọng nhất trong tứ phủ. Ngõ hầu mở ra một hướng mới trong nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị của tín gnưỡng tam tứ phủ, tín gnưỡng thờ thánh mẫu mà đi kèm với nó là một loại hình nghệ thuật đặc sắc hát văn hầu bóng. Không có tham vọng đi đến một thực thể thống nhất một trong 3 1uan điểm nhưng ban tổ chức hướng tới một sự nhìn nhận đa phương diện, đã chiều và nhiều góc cạnh về 3 vị thần tối cao trong tứ phủ. Tuy nhiên để từ đó chúng ta có ý thức hơn đến việc nghiên cứu, chú ý hơn trong nghi lễ và tín ngưỡng thờ cúng tam tứ phủ. Rất mong với trách nhiệm của con cái tôi tớ nhà Thánh, Các vị thanh đồng, đạo quan sẽ nhiệt tình sốt sắng, chư vị học giả và các bạn có lòng yêu văn hoá việt chúng ta sẽ cùng nhau chia sẻ quan điểm, dẫn chứng, bằng văn bia, thần tích, bản văn, sắc phong, khoa cúng mà chúng ta sưu tầm, khảo cứu được đồng thời dẫn luận cho các luận điểm khoa học nêu trên ngõ hầu làm sáng tổ một phần nào đó về 3 ngôi giáo chủ trong tín ngưỡng này
    Kính chúc toàn thể hội chúng hôm nay có được một buổi chia sẻ hữu ích và hiệu quả trong tinh thần thân ái tôn trọng và yêu mến nhau dưới ánh hào quang chứng minh của Phật Thánh.

    Cư sỹ Trí Minh Ủy viên Ban quản trị diễn đàn hát văn, chủ tọa.​
     
  5. Trí Minh

    Trí Minh Active Member

    Một cách giải thích khái niệm Tam Tòa, Tứ phủ

    Kim Trung Linh
    1,
    Đối với những người theo đạo Mẫu hoặc có am hiểu về đạo Mẫu đều có hoài nghi cách hiểu về Tam Phủ, Tứ Phủ. Tại sao trong Tam tòa thánh Mẫu,Mẫu thượng Thiên, Mẫu thượng Ngàn và Mẫu Thoải mỗi một vị Mẫu cai quản một cõi(không gian) khác nhau. Nhưng lại có tới 4 cõi không gian(tứ phủ) là: Trời, Đất, Nước, Non. Với bài viết này tôi sẽ khảo cứu 1 cách giải thích cho vấn đề đặt ra ở trên theo lý thuyết thần thoại của nhà nhân học văn hóa người Anh Jame George Frazer.
    2, Trong các cuốn sách chuyên khảo trước đây về Đạo Mẫu từng nêu lên một số cách giải thích như sau.Đầu tiên là GS Vũ ngọc Khánh trong cuốn: “Tục thờ Mẫu Liễu Hạnh và Đức Thánh Trần” có đề cập tới: “Phủ chính nghĩa trong Tam phủ, Tứ phủ là 1 cõi,Thiên phủ là cõi trời, Địa phủ, Thoải phủ, Nhạn phủ là cõi đất, cõi nước và cõi rừng núi. Nó là không gian Vũ trụ luận trên dưới gần xa. Mỗi Mẫu phụ trách 1 cõi như thế. Sau nà người ta gọi theo khẩu ngữ chỉ vào 1 địa danh cụ thể như Phủ Giày, Phủ Nấp, Đền Sòng,…Và hình như chỉ có tam phủ, 3 cõi của 3 bà mẹ trời nước non. Bà mẹ trời cai quản cõi trời và cõi nhân gian nhưng ngài là vị ngự ở 9 tầng trời xa xôi quá mà người dương gian không mấy khi tiếp xúc với thế giới nhà trời nên bà ít được nhắc tới mà Mẫu Địa lên thay thế có trách nhiệm như Mẫu thiên. Trên bàn thờ Mẫu đệ nhất, đẹ nhị được coi như là 1 vậy.Vậy Tứ Phủ cũng là Tam Phủ .Mẫu đệ tứ thường được xem như Mẫu đệ tam”(1).
    Cách giải thích như của GS Vũ Ngọc Khánh không sai nhưng lại gây khó hiểu cho người đọc và gây mê hoặc cho những người hiểu biết về Đạo Mẫu. Còn GS Ngô Đức Thịnh trong cuốn: “Đạo Mẫu Việt Nam” cũng có quan điểm tương tự nhưng tương đối rõ rang hơn. Ông cho rằng : “Mẫu Địa là hóa than của Mẫu thượng thiên ở trần gian cai quản con người và hiện than của ngài là Thánh Mẫu Liễu Hạnh . GS còn phân biệt rõ “trong tam tòa thánh Mẫu , Mẫu Liễu là hóa thân của Mẫu Thượng Thiên thuộc dòng Thiên thần. Còn Mẫu thượng Ngàn và Mẫu Thoải là có nguồn gốc nhiên thần, thần núi, thần song”. Các thần tích của 2 Mẫu này được chứng minh là xuất phát từ nhiên thần (được ghi chép trong cuốn “Đạo Mẫu Việt Nam” tôi xin phép không nhắc lại nữa) chứ không phải là cả 3 vị Thánh Mẫu trong Tam tòa đều có nguồn gốc là thiên thần như GS Vũ Ngọc Khánh đưa ra.
    Mẫu Địa được xuất hiện khi có sự giáng sinh của Mẫu Liễu, tức là vào thế khoảng thế kỉ 15 đến 16(sự sai lệch trong khoảng 100 năm) Các học giả đều nhất chí rằng trong trước khi Mẫu Liễu giáng sinh thì Đạo Mẫu chỉ có Tam Phủ(trời, núi, nước) sau đó mới có sự hinh thành Tứ Phủ(trời, đất, núi, nước). Ta mặ định Mẫu thiên và Mẫu Địa là hiện thân của 1 vị “giáng tiên” nào đó mà dân gian hư cấu theo lối tư duy “lưỡng phân nhất thể” của Đạo giáo Trung Hoa nên 2 Mẫu được thờ chung như 1 trong Tam Tòa thánh Mẫu. Cách lý giải này khá hợp lý. Tôi chỉ xin lưu ý một chi tiết nhỏ là: “ khi Mẫu Liễu được thờ như một thần chủ của Đạo Mẫu thì mới có ngôi Địa tiên thánh Mẫu” để trở thành Tứ Phủ Giải thích chi tiết này như sau: Chúng ta ai cũng biết Việt Nam là một nước nông nghiệp như các dân tộc Á Đông khác. Nông nghiệp Việt Nam là lúa nước, mà muốn trồng được lúa thì yếu tố đầu tiên phải nói tới là nước, nhất nước nhì phân mà. Môi sinh quy định nên văn hóa của dân tộc, thế nên người Việt thờ nước là điều tất yếu.Nước kết hợp với nguyên lý mẹ và tín ngưỡng phồn thực , thờ sự sinh sôi nảy nở thế là phát triển lên tầm cao cuả tín ngưỡng là thờ Mẹ Nước(Mẫu Thoải). Lại nữa, muốn có nước thì phải có mưa, mưa nắng lại là việc của trời và thế là dân gian lại thờ trời. Yếu tố thiên không phải là trực tiếp như nước ảnh hưởng tới cuộc sống người dân, như GS Vũ Ngọc Khánh nói trời thì ở quá dân thế nên người ta thờ trời như là 1 yếu tố bản nhiên. Vì tất cả mọi dân tộc trên thế giới đều thờ trời là vị thần nguyên thủy tối cao nhất. Ví dụ như thần Osiris của Ai Cập, Nữ thần thái dương Amaterasu của Nhật, Đế Tuấn cùng vợ Hy Hòa của Trung Hoa..v..v. Vì thế nên trong tâm thức dân gian Việt không tin lắm và trời và thế là họ sang tạo ra thêm một vị thần hiện than của trời ở chốn nhân gian để cứu giúp con người đó là Mẹ Đất( Mẫu Địa tiên). Mẫu Thượng Ngàn thì theo tôi, dân tộc Việ xuất tích từ núi rừng(phát tích của mọi tộc người trên thế giới đều từ rừng núi chứ không phai riêng tộc Việt). Rừng là người Mẹ nguyên thủy xâu xa nhất trực tiếp nuôi dưỡng sự hình thành con người. Người nguyên thủy săn bắt hái lượm để sinh tồn thế nên họ thờ rừng. (2) Do cách ly về địa văn hóa nên tục thờ rưng ở từng nơi có sự khác nhau về cách biểu hiện. Và ở Việt Nam thì Mẫu Thượng Ngàn cai quả các của rừng cõi Nam Giao được thờ nhiều nhất , đại diện cho tục thờ rừng( Về nguồn gốc của Mẫu Thượng Ngàn tôi sẽ giải thích rõ hơn trong bài viết “Mẫu Thượng Ngàn-Nguồn gốc nguyên thủy).

    ---------- Post added at 10:53 PM ---------- Previous post was at 10:52 PM ----------

    Tôi đã trình bày trên là dạng thức Tam Phủ mà dân gian sùng bái trước thế kỷ 16, tức là trước khi thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh. Tôi xin nói tiếp phần trên về sự phát sinh của Mẫu Địa sau khoảng thời gian “giáng thần”. Như tôi đã nêu ra về vấn đề “canh nông” thì đất cũng như nước là một yếu tố cần và đủ để sản xuất lúa gạo và vì thế nó sẽ được thờ. Không phải chỉ có khi “Đạo giáo thần tiên trung hoa” du nhập vào nước ta mà người Việt mới thờ Thần Xã, Thần Tắc. Tộc Việt đã thờ đất từ rất lâu và cổ xưa. Giai đoạn thế kỷ 15-16 người Việt đã xuống tiếp quản vùng đồng bằng một thời gian khá dài. Tính từ khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa lư ra Thăng Long tới lúc đó cũng đã được 5-6 thế kỷ. Từ nơi núi rừng chật hẹp ra nơi bằng phẳng, thoáng đãng người Việt phải nỗ lực rất nhiều đấu tranh với tự nhiên mới có thể tồn tại và phát triển đươc. 500 năm là cả một quãng thời gian dài để người Việt học tập, tích lũy, tiếp thu và truyền thừa kinh nghiệm giành đất, giữ đất của thiên nhiên. Chính những đồng bằng trù phú, phì nhiêu Bắc Bộ, Thanh- Nghệ bây giờ là do dân tộc Việt đấu tranh với nước với biển “kéo đất lên từ đầm lầy ẩm ướt, tối tăm”. Bằng cách đắp hệ thống đê quai vạc chằng chịt kiên cố(3). Dân cư ngày càng đông đúc đòi hỏi con người ta càng phải cố gắng hơn nữa trong công việc khai khẩn đất hoang, đắp đê lấn ra biển để canh tác. Tới khoảng thế kỷ 16 thì đa phần các đồng bằng miền bắc trồng lúa đã được xác lập và thành hình. Vậy nên yếu tố đất lên ngôi, sự tôn trọng đất của dân Việt cộng với sự giáng sinh của Mẫu Liễu(tôn thờ Mẫu Liễu) và hàng loạt các yếu tố văn hóa khác ( Nguyên lý Mẹ, phồn thực…). Đã cấu thành vị Địa tiên thánh Mẫu. Để từ đây xác lập ra khái niệm Tứ Phủ. Việc ra đời của vị Mẫu Đất cũng là một việc tất yếu chẳng phải trong thần thoại Hy Lạp cũng có Đất mẹ Gaia, hay như trong thần thoại Trung Hoa cổ khi người Trung Hoa du mục ở phía tây bắc tiến xuống đồng Bằng Hoa Hạ cũng tạo ra một vị thần Vua Vũ( Một vị vua thần thoại Trung Quốc, con của Hoàng Đế) ăn trộm đất Tích Nhưỡng của cha đem xuống nhân gian giúp dân trị thủy. Sau thiên nhiên kỷ thứ nhất người Việt đã bắt đầu đông tiến, và Mẫu Địa ra đời trong hoàn cảnh cuộc đông tiến của người Việt đã giành được thành tựu.

    ---------- Post added at 10:53 PM ---------- Previous post was at 10:53 PM ----------

    Khái niêm Tứ Phủ mới được sinh ra, được tôn sùng nhưng nó thoát thai từ Tam Phủ nên nó không lấn át được cái quy ước có trước,và trở lại đồng nhất với quy chuẩn Tam Phủ trước kia bằng chi tiết Địa Tiên thánh Mẫu là hiện than của Mẫu Cửu Trùng. Thế nên 2 khái niệm này luôn song song với nhau trong lịch sử phát triển và tới nay người ta vẫn hiểu nó tương đương nhau mà thôi.
    Thêm một chi tiết nữa là theo quan niệm của dân gian giải thích “Tam Tòa, Tứ Phủ” như một hiện tượng thường thấy trong bố cục đền, phủ, điện, tượng thờ bao giờ cũng có1 ban sơn trang riêng ngoài để thờ Mẫu Thượng Ngàn, hoặc 1 ban Thiên để thờ thánh Mẫu Cữu Trùng. Những ban này nằm ngoài công đồng. Thế nên trong ban công đồng chỉ có 3 vị Mẫu kết hợp với vị Mẫu thờ bên ngoài kia để cai quản tứ phủ. Cách hiểu này không rõ ràng vì trong Tam Tòa thánh Mẫu cũng có cả Mẫu Thượng Ngàn với Mẫu Thượng Thiên sao cần còn thờ vị khác ngoài công đồng. Vấn đề này tôi sẽ trở lại giải thích rõ hơn trong bài viết khác.
     
    Last edited by a moderator: 13/9/11
  6. Trí Minh

    Trí Minh Active Member

    3. Trở lại với Tam Toà, Tứ Phủ mà chúng ta đang bàn tới, dưới đây tôi sẽ dùng lý thuyết thần thoại nhân học của Frazer như đã nói để chứng minh nguồn gốc của Tam Tòa, Tứ Phủ có từ đâu.
    Một tôn giáo được hình thành phải có rất nhiều yếu tố trong đó hệ thống triết học lý luận về nhân sinh quan và vũ trụ luận được coi là thứ tiên quyết cho hệ thống triết học tôn giáo. Đạo Mẫu tuy có cơ sở vật chất hành đạo là đền, phủ, điện…và hình thức tiến hành nghi lễ là shaman lên đồng. Nhưng từ trước tới nay người ta mới chỉ coi Đạo Mẫu như một tín ngưỡng dân gian chứ chưa phải là tôn giáo vì nó thiếu hệ thống kinh điển lý luận triết học. Tuy vậy Đạo Mẫu vẫn có quan điểm “vũ trụ quan” riêng của minh như các tôn giáo khác. Vai trò của Tam Tòa, Tứ phủ ứng với khái niệm “3 tầng 4 thế giới” của rất nhiều tôn giáo khác trên thế giới.(4)
    Khái niệm 3 tầng 4 thế giới trước tiên phải được hiểu là một khái niệm triết học tôn giáo, vũ trụ quan của con người trong thần thoại. Cách hiểu của con người về thế giới và hệ thống hóa nó thành lý thuyết tôn giáo. Mỗi nền văn hóa, mỗi dân tộc đều có cách hiểu thế giới theo tư duy triết học “siêu hình” riêng của mình. Cái nhìn đầu tiên về thế giới sẽ quy định văn hóa dân tộc đó. Với người Trung Hoa cái nhìn đó là âm dương- ngũ hành. Với người Hy –La nó là Đất- nước-khí-lửa. Còn nền tảng của đạo Mẫu hình cấu thành từ 4 từ 4 yếu tố trời-đất-nươc-non ứng vơi Tứ phủ thiên-địa-thoải-nhạc. Thống trị Tứ Phủ là Tam Tòa thánh Mẫu.
    Chứng minh khái niêm “3 tầng 4 thế giới” này tối xin được lấy vài ví dụ như sau. Đầu tiên là người Hy lạp, dân tộc văn minh tiên tiến bậc nhất trong thế giới cổ đại vì tôn thờ 4 yếu tố Đất- nước-khí-lửa họ chia thế giới thành 4 không gian Trời-Đất-Nước-nhân gian. Với 3 tầng tương ứng với nó là sự cai quản của 3 anh em của Thần Zớt. Tầng trời và nhân gian do Zớt cai trị.Zớt ngự trên đỉnh Oolempo cao vút tượng trưng cho uy quyền tối cao vô thượng , thần của các vị thần(thống suất 12 vị thần bất diệt). Em của Zớt là Posedon thần biển cả cai trị không gian nước, biển và các vị thần nước khác. Vì người Hy Lạp rất giỏi đi biển nên họ rất tôn sùng ngài(trừ Ô-Đi-xê). Người em thứ của Zớt là Hades vua của chốn địa ngục Tantaz, bị Zớt lừa nên phải ở xuống địa ngục tăm tối cai quản linh hồn người chết. Đó là tư duy 3 tầng 4 thế giới của người Hy Lạp. Ta dễ dàng nhận thấy sự tương đồng ở đây giữa các vị thần Hy lạp với Tam Tòa thánh Mẫu của Việt Nam. Lại them một ví dụ nữa là thần thoại Trung Hoa cũng chụi ảnh hưởng của tư duy này họ tôn sùng âm dương ngũ hành là các yếu tố đầu tiên cấu thành thế giới. Họ có quan niệm thế giới gồm 3 phần “tam tài” thiên-địa-nhân. Trời là chủ của vũ trụ có người cai quản là Ngọc Hoàng cùng với Tam thanh Thái thượng Lão quân, Linh Bảo thiên tôn, Nguyên Thủy Thiên tôn hợp lạ thành tứ ngự để cai trị. Cũng như Zớt Ngọc Hoàng còn cai quản cả vạn vật nhân gian nữa, đó là tầng trên. Tầng giữa, cõi nhân thì có một con người tự xưng là “con trời” thế thiên hành đạo, nối trời dựng chuẩn mà thống lãnh nhân dân cùng muôn vật. Tầng dưới được chia thành 2 thế giới là Dưới đất âm phủ do Diêm Vương cùng các thần đất thổ địa cai trị, cũng như Hades Diêm Vương cai quản linh hồn con người sau khi chết( Diêm Vương là khái niệm Phật Giáo khi du nhập vào Trung Quốc thì đồng nhất với vua địa ngục của đạo giáo coi việc sinh tử con người). Thế giới biển là do Tứ Hải Long Vương làm chủ, khác với Posedon cai quản biển của Trung Hoa phải cần tới 4 con rồng nắm 4 phương đông tây nam bắc làm mưa làm gió. Ngoài ra Đạo giáo Trung Quốc còn có quan niệm về không gian Tam quan thiên-địa-thủy mà đứng đầu cai quản một quan là một nam thần. Nhưng vì người Trung Quốc coi trọng ngũ hành nên đã đẻ ra hàng loạt các vị thần khác như : thần lửa Chúc Dung, Thần nước Công Cộng, thần cây Câu Mang, thần Kim lại Nhục Thu, thần đất Xã….Đó là chuyện của thần thoại cổ đại Trung Hoa ta không bàn tới nữa. Quay lại với khái niệm 3 tầng 4 thế giới, sở dĩ tại sao tôi phải lấy 2 ví dụ khá dài dòng và rắc rối là vì muốn chỉ ra sự giống nhau của các thần thoại văn hóa thế giới và để thuyết phục người đọc về cái gọi là “3 tầng 4 thế giới” hoàn toàn có thật và đúng đắn. Soi xét vào Đạo Mẫu Việt Nam ta thấy vị thần có địa vị rất và cao được thờ là Tam Tòa thánh Mẫu. Mẫu Thượng thiên áo đỏ ngồi chính giữa, Mẫu Thượng Ngàn áo xanh ở bên phải, Mẫu Thoải áo trắng ở bên trái(5) tượng trưng cho 3 tầng, họ cùng cai quản Tứ phủ Thiên-Địa-Nhạc-thoải(không tính Mẫu Địa áo vàng cùng ngôi với Mẫu Thượng Thiên). Có nhiều người cho rằng 3 Mẫu hay 4 Mẫu đều là hóa than của một vị Mẫu Liễu mà thôi. Tôi không xét điều đó đúng hay sai, chúng ta cứ Mặc định là hiện than hay hóa thân cũng được chỉ kết luận một điều là Tam Tòa tứ phủ có nguồn gốc xuất phát từ tư duy 3 tầng 4 thế giới của dân gian Việt Nam nguyên thủy.

    ---------- Post added at 10:55 PM ---------- Previous post was at 10:55 PM ----------

    4.Thực chất của cái gọi là 3 tầng 4 thế giới kia theo tôi nó được xuất phát từ một sự sùng bái các tố chất hình thành thế giới nguyên thủy kết hợp với lòng tin tôn giáo mà trong đó người ta sùng bái con số 7 là điều cốt yếu nhất.
    Tại sao họ lại tin tưởng con số 7 như vật? 7 là tổng của 3 và 4( 3 tầng 4 thế giới). Số 3 và 4 được coi là sơ khai thần thoại, tổng của chúng tạo thành số 7 tôn giáo bí ẩn.
    Người Á Đông rất coi trọng số 3 và 4. Số 3 là số dương trưởng, số nhiều, số lớn vô hạn theo quan niệm của Đạo Giáo nó là số cơ bản của sự sinh thành phát triển , số đơn nguyên sự sang tạo hóa dục của vũ trụ trời đất “người 3 đấng, của 3 loài”. Số 3 còn đại diện cho con người. Còn số 4 là con số của triết học Trung Hoa cổ đại với tứ tượng, nó là số âm trưởng gắn với sự vận hành của 4 mùa, tứ phương, bao quát, thấu trùm. Những cư dân nông nghiệp sùng bái số 3 và số 4 vì nó đại diện cho tín ngưỡng phồn thực thế nên mới có sự xuất hiện của 3 tầng 4 thế giới. Và ngoài ra là con số 7, người Trung Quốc hiện nay không thích số 7 vì nó đồng âm với “thất” nghĩa là mất,tiêu biến. Người Trung Hoa cho số 7 là số ngoại lai, nó bí ẩn và tượng trưng cho tôn giáo. Rất nhiều tôn giáo lớn trên thế giới lấy số 7 là biểu tượng totem . Đức Phật đản sinh bước 7 bước trên 7 đóa sen. Chúa dùng 7 ngày để sang tạo ra thế giới. Con thuyền thần thoại của Noe trong thánh kinh cũng mang mỗi loài 7 con (với loài vật tinh khiết) để gây dựng lại thế giới…(6) rất nhiều, rất nhiều tôn giáo coi trong số 7. Và cái tư duy nguyên thủy đã tạo ra một sự vô thức trong văn hóa dân tộc về số 7 và người ta sùng bái nó như một yếu tố tất nhiên, nó đi vào tiềm thức con người biểu hiện ra thể trạng bằng tôn giáo.
    Tam tòa, Tứ phủ bắt nguồn từ thế giới quan 3 tầng 4 thế giới của người cổ đại, tư duy này lại bắt nguồn từ sự sùng bái tôn giáo suy cho cùng thì tôn giáo hay tín ngưỡng cũng bắt nguồn từ sự sùng bái người mẹ Thiên nhiên nguyên sơ mà thôi.
    • Chú thích và tài liệu tham khảo:
    (1) Vũ Ngọc Khánh, Tục thờ Thánh Mẫu-Đức Thánh Trần, Nxb VH-TT, 2008, tr 14-15.
    (2) Học thuyết tiến hóa Dawin
    (3) Trần Ngọc Vương, Con đê và vết hằn lên tính cách người Việt, in trong: Trần Ngọc Vương, Thực thể Việt qua con chữ,Nxb KH-XH, 2010.
    (4) James George Frazer, Cành vàng-Bách khoa toàn thư về văn hóa nguyên thủy, bản dịch Nxb VH-TT, 2007.
    (5) Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu Việt Nam, Nxb Tôn giáo, 2010
    (6) Trần Đức Lâm- Trúc Chi, Văn hóa Trung Hoa qua các con số, Nxb Từ điển bách khoa, 2009.
    Kim Trung Linh
     
  7. Trí Minh

    Trí Minh Active Member

    Tam tòa thánh mẫu tương ứng

    THAM LUẬN: TAM TÒA THÁNH MẪU TƯƠNG ỨNG
    VỚI TAM THÂN VÂN HƯƠNG THÁNH MẪU

    Vân Hương Thánh Mẫu được coi là thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu tam, tứ phủ tại Việt Nam. Đó là vị thánh bản địa thuần Việt được xây dựng với nhiều huyền tích đặc sắc. Thánh Mẫu có nhiều danh hiệu như: Mã Hoàng Bồ Tát, Chế Thắng Hòa Diệu Đại Vương, Liễu Hạnh Công Chúa, Hồng Liên Công Chúa, Quỳnh Hoa Công Chúa, Ba Khê Công Chúa, Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Thiên Tiên Thánh Mẫu, Địa Tiên Thánh Mẫu, Vân Hương Thánh Mẫu (Mẫu Phủ Giày), Mẫu Tây Hồ, Mẫu Sòng...
    Phần tham luận này sẽ bàn đến Tam tòa Thánh Mẫu tương ứng với tam thân Thánh Mẫu Vân Hương.

    1. Quan điểm Tam tòa Thánh Mẫu tương ứng với tam thân Thánh Mẫu ba lần giáng sinh trần thế. Ba kiếp giáng trần của Thánh Mẫu.
    Tiên nhân Thần nữ cõi nam thiên
    Tam thế giáng sinh sử dõi truyền
    Đại Yên,Trần Xá dòng Phạm Thị
    Tiên Hương Vân Cát ấy lương duyên
    Sòng Sơn Phố Cát phen đại chiến
    Đông Thành Kẻ Sóc nối dây duyên
    Anh linh hiển hách phù Nam Việt
    Chế Thắng tặng phong tối linh thiêng

    Theo Cát thiên tam thế thực lục tại Phủ Nấp – Nam Định, cũng như “Vân Hương Thánh Mẫu tam thế giáng sinh” Thánh Mẫu giáng sinh trần thế trước sau ba lần.
    Cát thiên tam thế thực lục tổng tự. Thánh Mẫu có giáng bút:
    Ta nhận mệnh giáng sinh. Giáng thế lần thứ nhất tại thôn Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam ở nhà thái ông họ Phạm, thủ trinh không lấy chồng, phụng dưỡng cha mẹ, tin việc âm báo, giữ trọn đạo chịu tang, xong trở về trời, kể từ thời vua Lê Thái Tông niên hiệu Thiệu Bình nguyên niên nhằm năm Giáp Dần (1434) đến triều vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức tứ niên nhằm năm Quý Tỵ (1473) khoảng 40 năm. Giáng thế lần thứ hai tại xã Vân Cát, huyện Thiên Bản phủ Nghĩa Hưng ở nhà thái ông họ Lê lấy phu quân Trần Đào Lang - người xã An Thái, sinh được con trai tên Nhâm, kể từ thời vua Lê niên hiệu Thiên Hựu 1 nhằm năm Đinh Tỵ (1557) đến triều vua Lê niên hiệu Gia Thái thứ 5 nhằm năm Đinh Sửu (1577) chừng 21 năm. Giáng thế lần thứ ba tại xã Tây Mỗ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá (Kẻ Sóc, Nghệ An) cùng với phu quân Đào Lang tái hợp, phu quân mang họ Mai, sinh được con trai tên Cổn, mới được hơn một năm quay trở về trời. Ngọc Hoàng chuẩn cho trắc giáng như thường, tiêu dao thoả thích, lại du chơi những nơi chốn cũ, ngõ hầu tránh được kiếp khổ luân hồi. Tổng cộng ba lần hoá thân đến nay là năm Nhâm Tý dưới triều Nguyễn, thời vua Duy Tân (1912) cả thảy được 535 năm.
    * Câu đối tại Phủ Tiên Hương“Tam thế luân hồi, vu Vỉ Nhuế, vu Vân Cát, vu Nga Sơn ngũ bách dư niên quang thực lục/ Lịch triều ba cổn, vi đế nữ, vi đại vương, vi chúng mẫu, ức niên van cổ điện danh bang” (Ba kiếp giáng trần, ở Vỉ Nhuế, ở Vân Cát, ở Nga Sơn, đến nay đã hơn năm trăm năm sự tích sáng ngời trong sử sách / Các triều phong tặng là con vua, là đại vương, là Thánh Mẫu, ngàn năm vạn thủa rạng non sông).
    *Tam tòa Vân Hương Thánh Mẫu: Đệ Nhất Vân Hương (Phủ Nấp); Đệ Nhị Vân Hương (Phủ Giày); Đệ Tam Vân Hương (Nga Sơn, Thanh Hóa- Kẻ Sóc, Nghệ An).


    2. Quan điểm Tam tòa Thánh Mẫu tương ứng với tam thân Thánh Mẫu ba lần hóa kiếp: Tiên-Nhân-Phật.
    Câu đầu trong Cát thiên tam thế thực lục diễn âm:

    Khi nhàn tựa án thảnh thơi
    Ngẫm xem tam thế luân hồi lạ thay
    Quả tu khéo tại lòng này
    Hoá sinh, sinh hoá xưa nay ai tường
    Vẹn sao hai chữ cương thường
    Tiên nhân phật quả lưu phương dõi truyền.

    Phụ lục Đề Tiên hương từ thi: bài thơ của Lộng Đình Phó bảng Quang lộc tự khanh lĩnh Đốc học trí sĩ Đặng Quĩ, viết bằng quốc âm:

    “Non Sòng vằng vặc bóng trăng đầy,
    Phố Cát đi về một đóa mây.
    Tiên Phật thánh thần nhân quả vẹn,
    Đông đoài nam bắc tiếng thiêng bay…”.
    Thánh Mẫu vốn là thần tiên, sau giáng trần làm người, cuối cùng ngài tu theo Phật môn và được tôn xưng là Mã Hoàng Bồ Tát (dân gian vẫn coi là Phật)

    Cửa phía Đông lối vào Lăng Mẫu có câu đối:
    Từ ái nhất tâm nhân nhụ mộ
    Hiếu trinh thiên cổ nữ anh phong
    Từ ái một niềm người kính mến,Hiếu trinh ngàn thủa nữ anh phong
    Sắc sắc không không Tiên, Thánh, Phật
    Hoá sinh sinh hoá, hiếu,trinh,từ
    Lúc còn có hình hài, lúc không còn gì cả, là Tiên, là Thánh, rồi là Phật
    Hoá về trời rồi đầu thai xuống cõi trần, ở cõi trần lại hoá về trời, vẹn cả hiếu với cha mẹ, giữ điều thuỷ chung với người chồng, nhân từ với con và thiên hạ.
    Tương truyền về đền Phố Cát (Đền Mẫu Đệ Nhị) thờ ba pho tượng : vị tiên nữ, vị bồ tát, người thường.

    3. TAM THÂN THÁNH MẪU.
    Tam thân theo quan điểm Phật giáo.
    + Pháp thân :là thể tính thật sự của Phật, đồng nghĩa với Chân như, là bản thể của vũ trụ. Đó chính là loại thân kết tụ từ pháp "giáo pháp của đức Phật". Pháp thân Phật tồn tại vô tướng, vĩnh hằng cùng giáo pháp của Ngài. Thánh Mẫu được dân gian suy tôn là "Mã Hoàng Bồ Tát". Pháp thân của ngài kết tụ từ pháp yêu thương bao dung của một người mẹ với lòng từ bi hỷ xả. Tuy không thấy rõ hình tướng của mẹ nhưng muôn dân luôn cảm nhận được sự yêu thương che chở đùm bọc của ngài và pháp thân này là tồn tại vĩnh hằng mãi mãi. Pháp thân của chư Phật, Bồ Tát thường ứng hiện với ánh hào quang sáng chói tỏa nơi thân.
    Ngẫm câu sinh ký tử quy
    Chữ sinh kia có ra chi mới là
    Sinh cứu được muôn nhà hạnh phúc
    Tiếng thơm bay khắp cả nơi nơi
    Sắc thân tuy đã qua đời
    Tử mà bất tử muôn người ca vang
    Pháp thân tựa hào quang sáng tỏ
    Soi loài người soi cả càn khôn
    Anh linh thác vẫn như còn
    Ngàn năm bất tử cháu con tiên rồng
    “Văn Giáng Tiên Kỳ Lục”
    + Báo thân , cũng được dịch là Thụ dụng thân “thân của sự thụ hưởng công đức”:. Báo thân là thân do thiện nghiệp và sự giác ngộ của các Bồ Tát mà hoá hiện cho thấy—cũng vì vậy mà có lúc được gọi là Thụ dụng thân, là thân hưởng thụ được qua những thiện nghiệp đã tạo. Báo thân của Thánh Mẫu chính là hình tượng phúc hậu hoàn mỹ một vẻ đẹp diệu kỳ đại diện cho người phụ nữ Việt Nam.Hình tượng Thánh Mẫu thường được tạo với vẻ đẹp trang nghiêm phúc hậu, mắt phượng lưng ong, đầu đội mũ miện , hoặc chùm khăn trong tư thế ngồi xếp bằng .
    Vẻ thanh dáng ngọc dà dà tóc tiên
    Nét tinh tú thiên nhiên phẩm chất
    Đoá huê quỳnh nhan sắc khôn so


    Tóc mây xanh mày ngài mặt ngọc
    Tựa da ngà chân chuốt hài hoa
    Hình dung cá lặn nhạn sa
    Ví so quốc sắc ắt là không hai

    +Ứng thân , cũng được gọi là Ứng hoá thân hoặc Hoá thân, là thân Phật và Bồ Tát hiện diện ở thế giới này. Ứng thân do Báo thân chiếu hiện, dựa trên lòng từ bi và có mục đích giáo hoá chúng sinh. Như thân người, Ứng thân chịu mọi đau khổ của già chết bệnh tật, sau khi thác thì ứng thân không còn. Điển hình như Thánh Mẫu Liễu Hạnh giáng trần với ba kiếp người (Vân Hương Thánh Mẫu tam thế giáng sinh).Thánh Mẫu hóa thân với tứ phủ thiên, địa, thủy, nhạc.



    TƯỢNG VÂN HƯƠNG ĐỆ NHẤT THÁNH MẪU
    PHỦ NẤP

    Phúc Yên - Quách Trường Lâm
     
  8. Triều Viên

    Triều Viên New Member

    Kim Trung Linh có cách hiểu theo Tây học. Các luận cứ, luận chứng và cách thuyết minh cũng minh bạch dễ hiểu cho bạn đọc thấy được cái nhìn mang tính duy lý, biện chứng. Phúc Yên lại Phương Đông và có cách nghĩ sát với lối tư duy và tâm thức Việt. Mà tín ngưỡng, tôn giáo lại từ tâm thức, đức tin mà ra. Tôi thíc cả hai bài viết. Cám ơn các bạn đã cho tôi một nét nhìn tươi mới, cụ thể hơn về Bốn phủ.

    ---------- Post added at 08:14 AM ---------- Previous post was at 08:06 AM ----------

    Cái lão béo này dở hơi rồi. Đã là tham luận phải chờ phản biện của độc giả chứ thì mới biết cái hay, cái dở chứ. Ai lại bảo thủ thề bao giờ. Không có phản biện thì mình viết cho mình để vào ngăn kéo cho mọt nó xơi. Lão thật là.............. Đừng có thui chột nhân tài. Phải để cho các cây phong ba của chúng ta ra trước bão biển đi, những bạn đang tập nghin cứu cần được rèn luyện toàn diện nhất là phải biết chịu đựng và học tập từ dư luận. Làm mà sợ thì làm sao được. Có thế sau này chúng ta mới có một lớp học giả giỏi giang với những quan điểm, học thuyết được bồi tụ, xây dựng minh bạch, rõ ràng làm lý luận vững chắc xây dựng và phát triển tín ngưỡng của chúng ta thành một Quốc Đạo mang tính "Chính thống". Yêu những bông hoa đẹp của đất trời đầu thu tươi sáng!
     
  9. huyngo_namdinh

    huyngo_namdinh Công thần

    a di đà phật
     
  10. Trí Minh

    Trí Minh Active Member

    Ừ ta bảo thủ trì trệ đấy chứ làm gì ta nào.
     
  11. hoangviet2007

    hoangviet2007 New Member

    Bài viết hay quá- cảm ơn Bác Trí Minh
     
  12. Trí Minh

    Trí Minh Active Member

    Cám ơn bạn quá khen, chỉ có bài Đề Dẫn là Trí Minh viết còn một bài của Kim Trung Linh, một bài của Phúc Yên, Trí Minh chỉ đăng lên cxho cùng chủ đề thôi.
     
  13. Triều Viên

    Triều Viên New Member

    Oánh cho một trận cho hết cái bảo thủ bây giờ chứ lỵ. Khi nào mà Bản từ mà gặp là đóng cửa phải dạy nghiêm mới được. Híc.... Chỉ sợ các em nó bị bủa vây thì hỏng. Hơi đâu mà lo phí công khi chúng "nghinh chiến bằng trí tuệ chứ"? Chúng càng tỏa sáng mình càng "danh giá". Bởi có những đứa em đầy tài hoa như thế.
     
  14. Trí Minh

    Trí Minh Active Member

    Đây không pahir là chuyện bủa vây hay không, mà ý anh là không tranh luận đúng sai, em thấy 2 bài là 2 quan điểm trái ngược nhau hoàn toàn, nhưng không ai nói ai sai, không ai khen ai đúng, mà chỉ trình bày quan điểm của mình. Anh mong là như vậy sẽ đỡ căng thằng, bài của em đâu post lên đi.
     
  15. Triều Viên

    Triều Viên New Member

    Ghê chưa? Lại còn có người hâm mọ cãi lão này đến mức "sung quá" mà bảo vệ, tung hê cả cái câu bảo thủ của lão... Lão thật "danh giá" quá .............hihiih...............

    ---------- Post added at 04:56 PM ---------- Previous post was at 04:55 PM ----------

    Em phụ trách ngành "chém gió" và bình luận đó thôi.... em có biết gì đâu mà viết................... hí hí............. cứ nói ra như thế làm em "rơ chết đi được ý" híc.....................
     
  16. Trí Minh

    Trí Minh Active Member

    Chú là người có chữ, con nhà học trò lại phụng sự Phật Thánh, spam được 416 bài rồi cũng không phải là ít thế mà nói đến viết bài để làm sáng tỏ chân lý của Thánh Mẫu nhuư vầng nhật nguyệt thì lại chối từ thì thật là. Có lẽ chú được chấm đồng nhầm liúc các ngài đang ngủ gật. chấm nhầm chấm nhầm.
     

Chia sẻ trang này