Đức Ông Đệ Tam và thần tích Đền Cửa Ông

Thảo luận trong 'Thần tích nhà Trần' bắt đầu bởi mantico, 20/3/18.

Lượt xem: 3,271

  1. mantico

    mantico Quản Trị Website

    1240617_362299370569536_1834518335_n.jpg

    Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng (1252-1313) là một vị tướng và là con trai thứ ba của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuần và Nguyên Từ Quốc Mẫu tức Công chúa Thiên Thành.

    Trong tín ngưỡng nhà Trần, Ngài là giá thứ hai (sau giá Đức ông Trần Hưng Đạo), ngài ra tay sát quỷ trừ tà, ban dấu mặn… Ngoài Đức Ông Cửa Suốt, Ngài còn được gọi là Đức Ông Đệ Tam, Đức Ông Đông Hải…

    Trong lịch sử ngàn năm dựng nước, tại những vùng biên cương của Tổ quốc, các vương triều nước ta luôn cắt cử những vị tướng tài ra trấn giữ. Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông thắng lợi rực rỡ lần thứ hai (1285), vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn càng nhận rõ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng của vùng biển đảo Đông Bắc. Đó cũng là lý do Trần Quốc tảng, một vị tướng tài ba được cử ra trấn giữ vùng biên cương này. Cửa Suốt dưới thời nhà Trần bao gồm toàn bộ phần đất liền thuộc châu Cẩm Phả thời đầu thực dân Pháp thống trị mà Cửa ông là một điểm nằm phía đông bắc và ngược lại. Cửa Suốt như cái yết hầu nối miền đông với miền Tây của tỉnh. Các cuộc chinh phạt, các cuộc điều binh của các triều đại phong kiến ra miền biên đã lập một đồn canh phòng ở Cửa Suốt gồm 30 lính và một suất đội (Theo “Đại Nam nhất thống chí”, quyển XVIII) Trạm hải quan ở Cửa Ông gọi là đồn suất-ti-tuần, cửa biển có đồn suất-ti-tuần gọi là Cửa Suất, sau gọi chệch thành Cửa Suốt. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông xâm lược lần thứ ba, vùng duyên hải đông bắc từ Móng Cái đến hải Phòng đã có thủy quân Trần, do Phó đô tướng quân Trần Khánh Dư cầm đầu, phòng thủ, thì trên bộ một vùng chiến lược, từ Cửa Ông ra suốt miền biên giới đông bắc, không thể để trống trận địa. Thủy quân Trần Khánh Dư không thể cùng đồng thời vừa phòng thủ trên biển, vừa phòng thủ trên bộ. Nhiệm vụ quan yếu đó Trần Hưng Đạo và vua Trần đã giao cho võ tướng tài danh Trần Quốc Tảng. Ông được cử ra Cửa Suốt lần đầu tiên trong khoảng thời gian từ sau năm 1285, khi cuộc khánh chiến chống quân Nguyên mông lần thứ hai thắng lợi, đến năm 1287 khi cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba sắp bắt đầu.

    Lần thứ hai, Trần Quốc Tảng được vua Trần giao trọng trách tiếp tục trấn giữ Cửa Suốt là sau đại thắng Bạch Đằng năm 1288. Trong chiến dịch Bạch Đằng năm 1288, Trần Quốc Tảng vâng mệnh thân phụ ông mang một đạo quân đồn trú ỡ xã Trúc Châu, huyện Thanh Lâm, tục truyền là xứ Vườn Nhãn (thuộc phường Cẩm Phú ngày nay), vượt sông Cửa Lục tiến đánh cánh quân bộ Nguyên Mong do Trịnh Bằng Phi cầm đầu, đi áp tải đạo thủy quân của Ô-Mã-Nhi rút lui qua sông Bạch Đằng. Khi cánh quân của Trịnh Bằng Phi đến Đông Triều thì bị quân Trần Quốc Tảng chặn đánh quyết liệt, buộc phải quay lui về Vạn Kiếp, hội quân với Thoát Hoan rút chạy bằng đường bộ về nước, để mặc đạo thủy quân Ô Mã Nhi hở sườn.

    Khi trận Bạch Đằng diễn ra, Trần Quốc Tảng hợp lực với đại quân của Hưng Đạo Vương, bao vây, tiến công và diệt gọn tàn quân thủy Ô Mã Nhi tháo chạy lên bán đảo Hà Nam hòng thoát thân. Chiến dịch Bạch Đằng kết thúc, Hưng Nhượng Vương về triều báo công, được vua khen thưởng và phong làm Suất ti tuần Đại An, được cử ra Cửa Suốt tiếp tục trấn giữ.

    Trong kì bình công khen thưởng của vua Trần vào cuối năm 1288, sau cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ ba kết thúc thắng lợi, Trần Quốc Tảng được phong tước Tiết độ sứ. Như vậy, tên tuổi và vinh quang của Trần Quốc Tảng trong khoảng thời gian từ năm 1285-1288 gắn liền với vùng đất Cửa Suốt, được người dân Cửa Suốt cũng như cả vùng Đông Bắc yêu mến, kính trọng và ngưỡng mộ.

    Từ năm 1288 đến khi qua đời (năm 1313), phàn lớn Trần Quốc tảng dành cho việc trấn giữ vùng Đông Bắc Tổ quốc. Do những công lao to lớn đó nên vùa Trần Anh Tông (đồng thời cũng là con rể Trần Quốc Tảng) phong tước hiệu Hưng Nhượng Vương.

    Năm 1314, đúng một năm sau khi Trần Minh Tông lên ngôi đã truy tặng Trần Quốc Tảng chức Thái Úy (chức quan thống lĩnh việc binh gần như tể tướng phục quốc trong triều).

    Ông được thờ tại một số nơi như đền Cửa Ông (Cẩm Phả, Quảng Ninh), miếu thờ tại đình Tả xã Trác Châu (nay là thôn Trác Châu, xã An Châu, thành phố Hải Dương), Văn Miếu (hay còn gọi là Văn Chỉ linh Khê) thuộc thôn Linh Khê, xã Thanh Quang, huyện Nam Sách, đình Phúc Xá A, xã Cẩm Phúc, huyện Cẩm Giàng.

    Cuộc đời và sự nghiệp Trần Quốc Tảng sống mãi trong lòng người – những thế hệ sau khi ông qua đời, khiến cho ngôi đền thờ ông trên bến Cửa Suốt xa xôi trở nên nhộn nhịp người bón phương đến thờ cúng, vãng cảnh.
     
    Bài viết mới

    Bình Luận Bằng Facebook

Chia sẻ trang này