Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam - Phạm Duy

Thảo luận trong 'Âm Nhạc Dân Gian' bắt đầu bởi Hành Thiện, 27/7/13.

Lượt xem: 1,100

  1. Hành Thiện

    Hành Thiện Moderator

    Tên sách: Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam
    Tác giả: Phạm Duy
    Ngôn ngữ: Việt
    Số trang: 203
    Nhà xuất bản: Hiện Đại
    Năm xuất bản: 1972

    [​IMG]

    ĐẶC KHẢO VỀ DÂN NHẠC Ở VIỆT NAM

    PHẠM DUY (203 trang)

    HIỆN ĐẠI (1972)​

    LỜI TỰA

    Tiểu luận này, viết trong lúc nước Việt Nam bị chia đôi, chắc chắn sẽ có nhiều khuyết điểm. Hơn nữa nó phải được biên soạn bời một nhóm nhạc học gia thì mới có thể nói kỹ lưỡng hơn về nhạc ngữ của các loại nhạc địa phương.

    Nhưng thực tế cho ta thấy hiện nay sự hiểu biết của thế hệ mới về gia tài nghệ thuật dân tộc rất là mong manh. Tuổi trẻ được học hỏi ít nhiều về gốc tích và sinh hoạt của các loại âm nhạc trong nước. Nếu đã có một số nhà khảo cứu viết về nhạc Việt thì lại chưa có ai nghiên cứu nhạc Thượng, nhạc Chàm, là những dân nhạc mà ta cần phải biết, vì cũng là nước ta. Ngoài ra, trong những sách viết về nhạ Việt, sự phân loại và định nghĩa chưa được rõ ràng, khiến cho lớp người trẻ hiểu nhạc chưa thấy tầm quan trọng và sự phong phú của nghệ thuật ca diễn dân tộc.

    Do đó, chúng tôi đánh bạo hoàn tất tập tiểu luận mà chúng tôi định để dành 20 năm sau mới viết.

    Ước mong trong giới sinh viên, có những bạn trẻ sẽ phát triển nghiên cứu từng môn, từng loại của những Dân nhạc ở Việt Nam ghi trong tiểu luận này. Tích cực hơn nữa, mong rằng nội dung, hình thức của các ngành dân ca, ca nhạc, ca kịch nghệ mà người xưa đã đưa ra để phản ảnh xã hội thời qua, có thể gợi hứng cho người hôm nay sáng tạo cho thời này, để cho thời sau sẽ phải công nhận và nghiên cứu.

    Saigon, tháng 10.66

    PHẠM DUY​

    MỤC LỤC​

    Phần thứ nhất:

    I. DÂN NHẠC BỘ TỘC TRƯỜNG SƠN

    Giàn thạch cầm ở Darlac

    Nhạc cụ

    Nhạc ngữ

    Các thể ca

    II. DÂN NHẠC THƯỢNG DU BẮC VIỆT

    Trống đồng Đông Sơn

    Nhạc cụ

    Nhạc ngữ

    Các thể ca

    III. DÂN NHẠC CHÀM CÒN LẠI

    Dư âm của một nền nhạc lớn

    Nhạc cụ

    Các thể nhạc

    Nhạc ngữ

    IV. DÂN NHẠC KHOMER TRÊN ĐẤT NAM VIỆT

    Dư âm của nhạc Đế Thiên, Đế Thích

    Nhạc cụ

    Nhạc ngữ

    Các thể nhạc

    Phần thứ hai:

    V. DÂN NHẠC VIỆT

    Dân ca
    Thơ và ca: dân ca

    Loại ngâm, kể truyện, nói thơ, hò thai

    Loại ru

    Loại hát làm việc, tình ca, hò trên cạn,hò trên nước, hò làm việc, hò nghỉ ngơi, hò giao duyên, hát huê tình, lý, hát ví…

    Loại hát đám, hát hội: hát ví, hát giậm nam nữ, hát quan họ, hát trống quân, hát bài chòi, hò đối đáp…

    Loại hát rong, hát dạo: vè, hát giậm vè, hát bài chòi, hát xẩm nói vè…

    Loại hát thờ: chầu văn

    Ca nhạc phòng:
    Tổ chức hát ả đào

    Tổ chức ca nhạc Huế, Quảng, nhạc tài tử miền Nam

    Ca kịch nghệ
    Nhận biết toàn bộ sân khấu Việt, sân khấu tuồng, hát bộ, hát bội, sân khấu chèo, sân khấu cải lương Nam Việt, sân khấu ca kịch bài chòi

    ---------- Post added at 02:27 AM ---------- Previous post was at 02:20 AM ----------

    HÁT THỜ
    Người Việt tuy rất sùng đạo nhưng không cuồng tín lắm. So với các loại khác, hát thờ không được phát triển mạnh mẽ.
    Tuy nhiên, ở miền Bắc, từ trước thế kỷ thứ XVIII, lối hát cửa đình đã có mặt tại thôn ổ. Hàng năm, trong dịp lễ thần hoàng làng, người ta thường thuê các nghệ sĩ chuyên nghiệp (đào nương) tới múa hát, theo tiếng đàn, kèn trống của giàn nhạc bát âm. Lối hát cửa đình đã đẻ ra lối hát cửa quyền, và sau này chèo và hát ả đào cũng sẽ có liên hệ chặt chẽ với hình thức hát thờ kể trên.
    Tỉnh Thanh Hóa có riêng một loại hát thờ gọi là hát Xuân Phả. Tại làng Xuân Phả cách đây hơn 20 năm, người ta còn tổ chức cuộc lễ và đám rước diễn lại một sự tích của địa phương : dân chúng hóa trang thành người Hòa Lan, người Chàm, người Lào, người Lục hồn (người từ phương xa, từ phương Nam, từ phương Bắc, từ phía bể) đến xâm chiếm đất đai Thanh Hóa... Trong cuộc lễ và đám rước, có nhiều bài nhạc, bài hát phụ họa cho các nhân vật kể trên múa và diễn binh. (Có cả người hóa trang là Tầu, đi cuối cùng trong đám rước). Nhạc điệu của hát Xuân Phả có vẻ ảnh hưởng hát bộ, hát tuồng.

    Dường nhưcác tỉnh ven biển thường hay có loại hát thờ. Ngư phủ ở miền Quảng Ngãi, Bình Định có hát bá trạo là lối hát thờ thần biển. Tổ chức của giàn nhạc và những bài hát cho ta thấy hát bá trạo cũng thoát thai từ hát bộ miền Trung.
    Loại hát thờ quan trọng nhứt của người Việt có lẽ là hát chầu văn.

    Đó là một thể ca nhạc phù pháp (incantation) tuy đóng góp vào sự tôn thờ thần thánh của người Việt (đa số là phụ nữ), nhưng chỉ có mục đích thôi miên người lên đồng bằng âm điệu, nhịp điệu và lời ca.

    Một số rất lớn phụ nữ Việt Nam khi xưa tin vào sự có mặt của nhiều chư tiên chư thánh, hầu hạ chung quanh một vị sáng lập ra Trời Đất và là chúa tể của muôn loài : Ngọc Hoàng Thượng Đế. Theo họ, thế gian chia làm ba giới : thiên đình, âm phủ và thủy phủ. Các vị thần thánh trấn thủ ba nơi này mang những danh hiệu Tứ Đại Thiên Vương, Nhị Thập Bát Tú, Thập Tam Hoàng Thái Tử, Ngũ vị Vương Quan vân vân... Các vị đó có nhiệm vụ che chở loài người chống hạng yêu quái quấy nhiểu nhân gian. Nhưng muốn đạt tới các vị đó người đời phải mượn một hạng trung gian là các vị đạo sĩ, các thầy phù thủy, các ông đồng bà cốt. Rồi từ công việc mướn người trung gian để cầu xin các chư vị thần thánh phù hộ che chở, cho đến việc tự nhận mình là con công đệ tử, người Việt đã xây dựng một tín ngưỡng rất phức tạp, trong đó âm nhạc đóng vai trò rất cần thiết.
    Ở khắp ba miền trong nước đều có loài hát thờ này. Miền Bắc gọi là hát chầu văn, miền Trung và miền Nam gọi thêm là hát bóng.
    Một cuộc lên đồng ở miền Bắc bao giờ cũng bắt đầu bằng lễ phụng thỉnh chư thánh. Người chủ lễ đọc sớ, đọc chú và nhân danh Ngọc Hoàng Thượng Đế triệu tập thần thánh về trần bằng một lối hát gọi là sai quan tướng.

    Lối sai quan tướng này do cung văn hát bằng lời thơ lục bát trên giai điệu do re fa sol với một nhịp điệu rất nhanh.
    Người cung văn là một thầy cúng chuyên nghiệp, đánh đàn giỏi, có giọng hát hay, thuộc rất nhiều điệu hát. Hát chầu văn phải có đàn nguyệt, trống, thanh la phụ họa.
    Sau khi thỉnh chư thần về, người sắp lên đồng ngồi vào chiếu trước bàn thờ, cung văn hát chầu văn thờ với lời hát ca tụng chung các vị thần thánh. Giai điệu của chầu văn thờ nằm trong ngũ cung bộ do re fa sol la..
    Khi người ngồi đồng chưa nhập bóng nào cung văn và ban nhạc cử loại hát dọc (hay rập) để thúc đẩy người lên đồng chóng nhập bóng. Loại hát này rất rồn rập lời văn ca tụng các vị thần thánh :
    Sử còn ghi anh hùng Bát nhỉ
    Đã lên tài quốc sĩ bực vô song
    Có khi Hội nghị cộng đồng
    Hai bên văn võ tưng bừng trò hoa
    Tướng quân về tới Ngã Ba Sông Bạch Hạc
    Bách thần đàn hát quan lớn vui chơi
    Các quan yến ẩm tiệc rồi...

    Hát chầu văn rất chú trọng đến văn. Cung văn là người nịnh giỏi tuyệt trần. Không những phải có giọng hát ngọt, tiếng đàn hay, nghệ sĩ này còn phải khen ngợi đúng chỗ, đúng lúc. Đoạn hát dọc hay rập trên đây cho ta thấy thể thơ song thất lục bát được dùng với những tiếng đệm. Giữa hai câu thơ, cung văn dạo nhạc khá lâu. Nét nhạc nằm trong ngũ cung do re fa sol la...

    Bằng một dấu hiệu nào đó, người lên đồng cho cung văn biết mình đã nhập bóng. Lập tức cung văn đổi giọng, đổi văn... Thường thường họ hát giọng cờn khi người ngồi đồng nhập bóng cô :

    Đằng vân giá võ về nơi Thủy Tề
    Các quan vui trên ngàn dưới địa
    Vui đền thờ quý địa danh lam
    Quần thần văn võ bá quan
    Công đồng yến ẩm thạch bàn còn ghi...


    Nét nhạc từ do re fa sol la của giọng dọc, nay đổi sang re mi sol la si : giọng cờn là sự chuyển hệ (métabole) sang một hệ thống ngũ cung khác.

    Văn của hát chầu văn là những thể thơ quen biết : lục bát, song thất, thất ngôn, bốn chữ... Nhịp điệu của chầu văn rất quan trọng. Nó dùng rất nhiều nhịp ngoại (syncopes), tiết điệu không ẻo lả như trong các loại tình ca, hát hội.

    Ngoài giọng dọc, cờn, cung văn còn có giọng phú, chuyên để hát khi người lên đồng nhập bóng cậu, bóng ông hoàng. Lên đồng là một hiện tượng hóa thân, người phụ nữ Việt mượn đồng bóng để thể hiện những nguyện vọng thầm kín của mình. Ai cũng biết trong dĩ vãng, người đàn bà Việt chịu thua thiệt đủ điều. Lên đồng giúp họ một ảo tưởng ăn chơi như ông hoàng bà chúa. Khi các bóng cô bóng cậu đã nhập vào người lên đồng thì cuộc sống thần tiên bắt đầu. Văn bao giờ cũng nói đến chuyện vui chơi của các vị thần thánh. Tuy nhiên, cũng có khi bóng vui và bóng buồn. Lời và nhạc của hát chầu văn cũng thay đổi tùy theo tính tình của bóng. Ông hoàng vui thì cung văn hát phú bình, phú dựng, phú chênh, ông hoàng buồn thì cung văn hát phú sầu, phú rầu. Nhiều bộ ngũ cung được dùng để phân biệt vui buồn :

    do re fa sol la

    do re fa sol sib

    do mib fa sol sib

    Thần thánh có mặt rất nhiều trong thế giới đồng bóng. Hát chầu văn vì vậy phải có nhiều bài hát phù hợp.

    Khi người ngồi đồng nhập bóng Bà Mẫu Thoải, cung văn hát giọng luyện. Khi Chúa Thượng Ngàn về trần, cung văn phải hát quảng (vốn là điệu Quảng Đông) hoặc hát sá (một điệu Mường). Cung văn còn thu dụng cả điệu Chàm và gọi là hát giàn...

    Ngoài ra, các bóng thường hay múa gươm hoặc bơi thuyền. Cung văn phải hát nhịp một (Chèo) và hò khoan (dân ca). Có khi giàn nhạc cử bài Xang xề líu (một điệu nhạc của sân khấu Cải lương) khi người ngồi đồng vui chơi.

    Hát chầu văn ở miền Bắc đã thu dụng rất nhiều bài hát của các loại khác để phụng sự cho việc lên đồng.

    Hầu văn ở miền Trung, nhất là chung quanh thành phố Huế cũng được phân loại như Chầu văn ở miền Bắc.

    Đàng là điệu hát để ca tụng chung các vị thần thánh về trần làm việc quan. Thài được dùng để cung nghinh các vị thánh mẫu. Tấu được dùng để mừng các vị vương quan của thiên đình. Đặc biệt ở đây người ta hay ngồi đồng tập thể, có khi năm người cùng lên đồng chung với nhau. Hằng năm điện Hòn Chén (ở cách Huế không xa) là nơi có tổ chức đại hội lên đồng. Đền này ở bên bờ sông Hương và vì người ngồi đồng đến rất đông, người ta làm lễ ngay trên thuyền. Trên hằng trăm con thuyền, có hàng ngàn người lên đồng đèn thắp như sao sa, nhạc cúng vang rền, các ông đồng bà đồng mặc quần áo sặc sỡ nhảy múa trong một bầu không khí ngào ngạt hương trầm và mùi hoa quả dâng lễ...

    Hát hầu văn ở miền Trung thu dụng cả những điệu hát của loại Yến nhạc trong cung đình. Khi người lên đồng cầm hoa múa, cung văn đàn bài Mã Vũ. Khi Chúa Sơn Lâm về trần, cung văn hát điệu Thượng (tức là nhạc Cao Nguyên).

    Nói chung, hầu văn miền Trung phong phú hơn hát chầu văn miền Bắc. Nhạc điệu chuyển qua nhiều hệ thống ngũ cung. Giọng đàng hay đài, với những bài Thỉnh chư Thần, dâng nước, dâng hoa, thường được hát theo hơi đảo (cũng như ngũ cung Nam giọng ai, nhưng nét nhạc dựa vào tétracorde sol re). Điệu long lanh (vì mở đầu bằng câu : long lanh mắt ph ượng) của giọng thài thì dùng hơi Nam giọng oán.

    Nhịp điệu của hầu văn miền Trung lại càng phức tạp hơn của chầu văn miền Bắc. Ở đây người ta dùng nhịp điệu để đặt tên cho điệu hát. Điệu nhị tự nghĩa là hát hai chữ một. Điệu ba bảy nghĩa là một câu ba nhịp, một câu bốn nhịp, cộng chung là bảy nhịp. Nhịp rơi (lơi, chậm) nhịp sắp (nhanh) cũng là tên của những bài hát hầu văn ở miền Trung.

    Người hát văn ở đây cũng là thầy cúng chuyên nghiệp, hát với sự phụ họa của đàn nguyệt, đàn nhị, trống, phách, thanh la...

    Hát Bóng ở miền Nam cũng theo quy luật của Hát chầu văn ở miền Bắc và Hát hầu văn ở miền Trung. Các bài hát nằm trong hai hơi điệu : hơi đảo và hơi Nam giọng oán. Một số bài chịu ảnh hưởng hát bội miền Nam. Giàn nhạc gồm đàn nhị, trống, sanh, mõ.

    _____

    Tài liệu tham khảo

    Lê văn Hảo, Hát giặm và hát ví, Tạp chí Đại Học.

    Tiền Giang, Về miền Nam , Nhà xuất bản Phạm văn Tươi, Saigon 1956.

    Ông Tư Quất, Tọa đàm với tác giả, Saigon 1965.
    Phạm Duy, Dân Nhạc Dẫn Giải , Đài Tự Do 1965.
     
    Chỉnh sửa cuối: 27/7/13

    Bình Luận Bằng Facebook

  2. Prebronzer

    Prebronzer Member

Chia sẻ trang này