Cưới hỏi - Việt Nam phong tục

Thảo luận trong 'Phong tục Việt Nam' bắt đầu bởi mantico, 9/10/17.

Lượt xem: 98

  1. mantico

    mantico Quản Trị Website

    cuoihoixua.jpg

    Theo khoảng cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, con trai con gái độ tuổi 15 đến 16 tuổi được xem như trưởng thành và đến lúc kết hôn. Khoảng từ 20 đến 30 tuổi gọi là muộn. Có nhà từ năm 12-13 tuổi đã kiếm mối cho con trai con gái nhà mình, thậm chí có nhà qua lại với nhau đã đính ước khi còn thai trong bụng. Hai vợ chồng xấp xỉ nhau độ 2 tuổi là vừa đôi.

    Tục dạm hỏi, ưu tiên phải là “môn đăng hộ đối”, tức là hai nhà vừa tầm đẳng cấp nhau, xem tuổi không xung khắc nhau, kế đến mới nhờ đến các dịch vụ mai mối trong vùng. Khi mối lái nói cha mẹ cô gái bằng lòng gả, thì nhà trai mới bắt đầu đem cau đem chè đến, đó là dạm hỏi. Từ đó hễ mồng 5 ngày Tết hoặc ngày kỵ nhật của nhà gái, nhà trai phải đem lễ vật đến. Sau đó chính thức làm lễ ăn hỏi: nhà trai đem cau, chè, lợn, xôi đến nhà gái làm lễ gia tiên, hay có vùng đơn giản thì chỉ cau, chè, mứt mà thôi. Ở Quảng Nam (có lẽ ý tác giả chỉ xứ Huế) thì kèm một đôi bông tai vàng.

    Tiếp đến là “xêu”. Xêu thì mùa nào thức ấy, như mùa bưởi thì xâu bưởi, mùa vải thì xêu vải... Có nơi một năm chỉ xêu bốn mùa. Tháng 3 xêu vải, tháng 5 xêu dưa hấu, đường, mắm, chim, ngỗng, tháng 9 xêu hồng, cốm, gạo mới, chim ngói, tháng chạp thì xêu cam, mứt, bánh cốm. Đồ xêu nhà gái lấy một nửa, còn một nửa trả lại cho nhà trai, gọi là “đồ lại mặt”.

    Tục xêu ít nhất là nửa năm, dài nhất là 3 năm rồi mới cưới hỏi chính thức. Nếu không có xêu thì sẽ bị coi là thất lễ, mất uy tín trầm trọng không chỉ với nhà gái mà cả trong vùng, người ta có thể lấy cớ mà hủy hôn. Ngoài ra, trước khi cưới thì người chủ hôn phải không có tang chế gì cả. Nhà trai sẽ dùng giấy hỏi xem nhà gái muốn ăn thức gì, và nhà gái phúc đạp những thứ yêu sách muốn nhà trai đáp ứng. Nhà trai xem xong thì liệu khi nào chuẩn bị xong, rồi đáp lại thời gian đính ước làm lễ với nhà gái, đó gọi là tục “trao thơ, thách cưới”. Nếu nhà gái lấy lễ nặng quá, thì nhà trai xin bớt, nếu nhà gái không chịu thì việc hôn ước phải hoãn lại, nhiều trường hợp cả 2 bên từ đó oán ghét nhau. Đồ thách cưới tuy là tùy ý, nhưng đại để thì: lợn, gạo, bò, chè, cau, rượu, vòng, quần áo, chăn màn và quan trọng là bao nhiêu bạc.

    Đám cưới, thường hay tổ chức buổi chiều muộn, nên từ hôn trong hôn lễ ban đầu vốn là [hôn; 昏] chỉ “hoàng hôn”, về sau thêm bộ “nữ” vào thành một từ [hôn; 婚] riêng biệt chỉ việc kết hôn. Lúc đi phải chọn giờ hoành đạo mới đi, và phải có đàn ông dễ tính đi ra đón ngõ trước, khi ra phải la ầm cả lên là gặp giai, vì để cho mọi việc trôi chảy thuận lợi. Trong đám cưới có một cụ, kén ông nào vợ chồng con cháu song toàn, cầm một bó hương đi trước, rồi mới đến các người dẫn lễ, đội mâm cau, người khiêng lợn, rượu,... Chú rể áo mũ lịch sự, có một đám thân thích dẫn đi. Khi đến nhà vợ, dàn bày đồ lễ, người chủ hôn của nhà gái vấn bái lễ gia tiên rồi chú rể mới vào lạy.

    Khi này đến phần tế tơ hồng. Bày hương án ra sân, đồ lễ dùng gà, xôi, giầu, rượu, tế tơ hồng rồi hai vợ chồng đều vào lễ. Tục này có từ thời xưa bên Trung Hoa, có một người tên Vi Cố nhân một buổi đi chơi trăng thì gặp một ông già đang xe các sợi đỏ dưới bóng trăng. Hỏi thì ra đó là Nguyệt Lão chuyên xe duyên cho các cặp vợ chồng chốn nhân gian, đã buột sợi dây vào chân những người nào thì họ phải lấy nhau. Đời sau lưu truyền, cho rằng nên duyên vợ chồng là do Nguyệt lão định trước, nên khi sắp lấy nhau phải tế lễ tạ ơn và cầu phù hộ trăm năm hai vợ chồng hòa hợp. Tế xong thì người rể vào lạy cha mẹ vợ, rồi chờ họ hàng ăn uống xong mới về.

    Sáng sớm hôm sau thì làm lễ đưa dâu. Nhà trai nhà gái làm lễ cổ ăn mừng, mời bà con khách khứa. Bà con khách khứa mừng tiền, cau, chè,... Mà đa phần là mừng nhà trai chứ ít nơi nào mừng bên nhà gái. Đưa dâu, nhà gái kén một ông già cầm bó hương đi trước, rồi bà con họ hàng dẫn cô dâu đi sau. Trong khi cô dâu đi đường, ăn mặc đẹp, bên trong choàng áo cài vào mấy cái kim để nhỡ ai độc mồm độc miệng, thì có cái kim ấy trấn đi. Có nơi đặt lò lửa ngay cổng nhà để cô dâu bước qua, cũng là có ý ấy. Đến nhà trai rồi thì một vài bà già dẫn cô dâu vào bái lạy gia tiên, rồi đưa đi làm lễ các nhà thờ của bố mẹ chồng. Sau đó mới lạy bố mẹ chồng, rồi ông bà chồng nếu còn, và mỗi người mừng cho vài đồng đến vài chục đồng bạc. Họ hàng ăn uống xong thì lấy phần, phần phải có xôi thịt, bánh trái, giò chả, cau chuối mới là cỗ cưới.

    Một số vùng có tục khi nhà trai đến đưa lễ, thì người nhà gái như đầy tớ hoặc một đám trẻ đóng cửa không cho vào. Nhà trai phải cho chúng một dăm ba hào thì mới mở cửa cho. Trong lúc đi đường, có một đám ăn mặc hèn mọn lấy sợi chỉ vải, hoặc mảnh vải màu đỏ giăng ngang ra, người đám phải cho vài hào mới cho đi qua. Có chỗ thì họ lại bày hương, đốt pháo, cái này phải cho vài đồng mới được. Nếu không cho, họ sẽ nói rủa ồn ào, mất cả hứng nên hầu như đám nào cũng phải cho. Tục này có từ thời Đường Huyền Tông, thịnh hành một nhóm chuyên xin đểu các đám cưới, đến tận nhà vương công cũng vậy, thành ra tiền cúng giăng dây một thời còn nặng hơn cả tiền thách cưới.

    Tối hôm cưới, người chồng lấy trầu trăm (trầu tế tơ hồng), trao một nửa cho vợ, rót một chén rượu, mỗi người uống một nửa, gọi là lễ hợp cẩn. Vợ trải chiếu lạy chồng 2 lạy, chồng phải đáp lại vái một vái. Tục này thì chỉ có quý tộc vương công mới dùng, nhà thường dân không mấy người dùng. Cưới được ba hôm, đến hôm thứ tư thì hai vợ chồng làm cỗ chè, xôi đem về nhà vợ lạy gia tiên, gọi là lễ lại mặt, còn chữ Hán gọi là [Tứ hỉ; 四喜]. Về nhà chồng, ở miền Bắc nhà trang trọng gọi nhau bằng “cậu, mợ”, nhà thầy thông thầy phán gọi là “thầy, cô”; đến nhà thường chỉ gọi là “anh, chị”. Có con rồi thì là “thầy em, đẻ em”; nhà thô tục có nơi gọi “bố cu, mẹ đĩ”, có nơi gọi “bố nó, mẹ nó”, nơi khác gọi chung chung “nhà ta”. Ở Quảng Nam, sang hèn đều gọi nhau “anh, em”. Trong gia đình, hai vợ chồng luôn được dạy phải hòa thuận, chồng có nghĩa vụ giữ nghĩa với vợ, còn vợ phải giữ tiết với chồng.
    .
    Đám cưới nước Nam cơ bản là mô phỏng giống Trung Hoa, gọi là Lục lễ; gồm nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp tệ, thỉnh kỳ, nghênh thân thì tương đương với bên ta là lễ dạm, lễ hỏi, lễ xêu, lễ cưới vậy. Có câu “Lục lễ bất trị, trinh nữ bất hành” nghĩa là không đủ lục lễ, trinh nữ không đi, ý chỉ cưới hỏi phải có lục lễ mới coi là trịnh trọng được.

    Về sau, tình trạng đòi hỏi trong các lễ ngày càng tăng. Chu Lễ có ghi: “Phàm lấy vợ, dẫn lễ cưới, không vượt quá năm lượng”. Năm lượng tương đương 10 cuốn lụa. Chu Hi thời Tống có bình rằng: “Lễ cưới ngày xưa giản dị, đến ngày nay ngày càng tục dân ngoa ngoét, thường đến lễ là đòi tiền bạc. Các nhà hào phẩm, muốn giữ thể diện, đòi vàng đòi lụa cho nhiều, rồi quay ra trách móc nhau, đó hoàn toàn chẳng phải lễ.”
     

    Bình Luận Bằng Facebook

Chia sẻ trang này