CÁC KIẾN TRÚC "ĐÌNH" CỦA NGƯỜI VIỆT

Thảo luận trong 'Phong tục Việt Nam' bắt đầu bởi mantico, 9/10/17.

Lượt xem: 405

  1. mantico

    mantico Quản Trị Website

    20800227_1468553299928063_5020075207998242588_n.jpg

    Ở Bắc bộ Việt Nam, nơi đâu cũng có đình làng, đó là một kiến trúc to lớn nay thường thấy được dựng ở giữa làng, đó là ngôi nhà chung của cả cộng đồng. Song song tồn tại với đình làng còn có rất nhiều dạng kiến trúc đình nữa, mỗi một dạng đình đều có tên gọi và công năng khác nhau.

    Hiện nay các kiến trúc đình vẫn tồn tại như Thủy đình ở trước đền Gióng (Gia Lâm, Hà Nội), thủy đình ở giữa hồ Long Chiểu trước chùa Thày (Quốc Oai, Hà Tây cũ)… các thủy đình này thường làm nơi múa rối nước phục vụ dân làng trong ngày hội.

    Ba đình, là kiến trúc dựng bên mép nước nhằm trấn yểm thủy quái (chống lũ lụt), có thể có luôn chức năng để ngắm cảnh như trấn Ba đình trước đền Ngọc Sơn, bên Hồ Hoàn Kiếm.
    Bi đình, là kiến trúc bên trong đặt bia đá như nhà bia chùa Côn Sơn, Chí Linh, Hải Dương, nhà bia Vĩnh Lăng ở Lăng Lê Thái Tổ (Lam Kinh, Thọ Xuân, Thanh Hóa).., nhà bia ở đình Chèm (Thụy Phương, Từ Liêm, Hà Nội)

    Trạm đình, là kiến trúc được xây dựng ở giữa cánh đồng hoặc nơi thuận tiện giao thông qua lại, đây là trạm nghỉ của người qua đường, nơi tránh mưa, tránh nắng của người dân lao động. Hiện nay loại kiến trúc này vẫn còn thấy ở một số nơi với kiến trúc của ngôi nhà nhỏ ba gian, đầu hồi bít đốc, kiến trúc này vẫn còn tồn tại nhiều ở địa bàn Hà Tây cũ (Quốc Oai, Thạch Thất, Sơn tây, Ba Vì...), hoặc địa bàn tỉnh Bắc Ninh (vùng Thuận Thành)…

    Còn một số dạng kiến trúc nữa như Tạ đình (Thụy tạ), Phương đình...
    Các kiến trúc ba đình, phương đình, thủy đình, trạm đình... về hình thức không khác nhau nhiều về mặt bằng, kết câu và không gian, khác là vị trí đặt và tên gọi để nhằm phân biệt công năng của chúng mà thôi.
    Đình làng, về xuất xứ của nó nhiều nhà nghiên cứu đưa ra minh chứng khác nhau. Đại Việt Sử ký toàn thư kể lại việc vua Lê Chiêu Tông, năm Quang Thiệu thứ 7 (1522), trước sự nổi dậy của Mạc Đăng Dung đã chạy lánh vào đình của làng Nhân Mục, điều này cho chúng ta biết đình của làng đã có từ trước thời Mạc (1527 -1592).

    “Thực ra, theo ước đoán của chúng tôi thì đình thờ Thành hoàng phải ra đời sớm hơn vào thời Lê sơ. Cứ liệu còn quá ít để khẳng định, nhưng cũng phần nào được củng cố bởi bài ký của Bùi Xương Trạch làm vào năm 1493 về đình Quảng Văn (Hà Nội) . Bài văn ca tụng triều đình, chủ yếu đề cao nhà vua, đồng thời nói lên ý nghĩa thực tiễn của ngôi đình trong việc công bố chính lệnh của nhà nước đương thời và, về mặt nào đó, cũng phản ánh được việc sáng tạo ra một kiến trúc mới. Tạm có thể cho rằng đây là tiền đề của ngôi đình làng về sau. Tất nhiên, còn phải chờ lâu nữa, qua thời Mạc, sang thời Lê Trung Hưng, đặc biệt với Nguyễn Bính, và những quy định về cách thức thờ phụng Thành Hoàng, mà ông là một trong những tay thi hành đắc lực, thì vị thần này và ngôi đình của làng xã mới gắn bó với nhau một cách mật thiết” (Trần Lâm Biền).

    Có thể đình làng xuất hiện vào thời Lê sơ, nhưng sự hiện diện của nó mà ta có thể khẳng định được là vào thời Mạc bởi sự tồn tại của kiến trúc đình Thụy Phiêu (Ba Vì, Hà Tây cũ) có ghi niên đại 1531, đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa, Bắc Giang, 1576) và đình Tây Đằng có kiến trúc mang dấu ấn đặc trung của nghệ thuật Mạc. Với kiểu kiến trúc đình như vậy thì nó khác hẳn với các kiến trúc có tên gọi nêu trên. Kiến trúc đình làng có quy mô lớn hơn các dạng kiến trúc bi đình, phương đình, thủy đình… công năng của nó dùng để phục vụ chung cho cộng đồng làng xã.

    20882200_1468553169928076_3850759096568189248_n.jpg

    20882315_1468553186594741_2027955831741768586_n.jpg

    20882536_1468553216594738_3396000896991942220_n.jpg

    20882752_1468553173261409_6911542810615367608_n.jpg
     

    Bình Luận Bằng Facebook

Chia sẻ trang này