Các giai thoại về cụ tả ao

Thảo luận trong 'Thế giới tâm linh' bắt đầu bởi mantico, 7/5/12.

Lượt xem: 4,959

  1. mantico

    mantico Quản Trị Website

    [​IMG]


    Phần 1 :

    Tả ao Phong thủy nhất trên đời
    Họa phúc cầm cân định chẳng sai.
    Mắt Thánh trồng xuyên ba thước đất,
    Tay Thần xoay chuyển bốn phương Trời.
    Chân đi Long Hổ luồn qua gót,
    Miệng gọi Trâu Dê ứng trả lời.
    Ai muốn cầu sao cho được vậy
    Ấy ai Địa lý được như ngài.


    Nhà Phong Thủy nổi tiếng của Việt nam Tả Ao tên thật là NGUYỄN ĐỨC HUYỀN, người làng Tả Ao thuộc tỉnh Hà tĩnh. Cụ sống vào đời Chúa Trịnh , gia đình quá nghèo, cha lại mất sớm, mẹ bị mù nên phải tìm đủ mọi việc để giúp đỡ mẹ già. Lúc bấy giờ có một ông thầy thuốc người Tầu nổi tiếng về khoa chữa mắt, nên cụ tìm đến xin được hầu hạ thầy để thầy ra tay tế độ chữa mắt cho mẹ mình. Ông thày Tầu thấy cụ siêng năng, chăm chỉ lại thông minh nên đã truyền cho cụ một số phương cách chữa mắt. Nhờ vậy mà cụ chữa được mắt cho mẹ. Khi nghe tin ông thày Tầu sắp về nước, cụ vội vã đến xin phép thầy đi theo hầu hạ và học hỏi thêm về khoa chữa mắt. Ông Thầy bằng lòng. Thế là cụ bôn ba theo thầy Tàu và được truyền dạy tất cả những gì mà ông thày Tầu có được về nghề chữa mắt, nhất là khi ông thày Tầu đã quá già.Từ đó cụ tự chữa cho nhiều người lành bệnh mắt, danh cụ vang khắp vùng.Có một thày Địa lý nổi danh trong vùng bị đau mắt, nghe danh cụ , liền cho người dẫn đến gặp cụ. Chỉ trong một thời gian ngắn ,cụ đã chữa khỏi bệnh mắt cho ông thầy Địa lý. Thầy Địa lý mừng quá, đem vàng hậu tạ, nhưng cụ không nhận mà chỉ xin được làm đệ tử môn Địa lý Phong thủy mà thôi. Thấy người có tài đức lại có chí ham học hỏi, nên thầy Địa lý không ngần ngại đồng ý truyền hết những gì về Phong thủy mà mình có được. Chẳng bao lâu, cụ đã thành thạo tất cả những gì mà vị thày Địa lý đã truyền cho mình. Tương truyền khi học xong nghề thầy, ân sư người Tầu thử tài môn đệ trước khi "tốt nghiệp" : ông thầy chôn 100 đồng tiền xuống mô hình bãi cát rồi bắt cụ Tả Ao cắm kim vào đúng lỗ mỗi đồng. Cụ Tả Ao châm đúng giữa 99 đồng, chỉ có hơi lệch 1 đồng. Thầy Tầu than: "Thôi nghề của ta từ nay truyền sang nước Nam rồi!", ông thầy Địa lý công nhận cụ là người sáng trí, tài cao, đức trọng, nên không tiếc rẻ công sức mình truyền dạy cho. Khi dời nước Tầu về nước, cụ đã chữa mắt cho rất nhiều người, ngoài ra cụ còn đi tìm những vùng đất tốt và nghiên cứu các Long mạch, các Địa linh ở quanh vùng. Cụ không vì tiền bạc, danh vọng mà đi tìm các cuộc đất tốt cho những kẻ không xứng đáng được hưởng. Dù cụ giới hạn về khoa địa lý, nhưng nhiều người đã tìm đến cụ để nhờ cụ giúp tìm đất tốt cho nhà cửa, mồ mả, phương hướng thuận lợi cho họ. Dân chúng thời bấy giờ đã gọi cụ là cụ Tả ao ( Làng Tả ao ), danh tiếng của cụ vang đi khắp nơi và người đương thời truyền tụng cho nhau nhiều giai thoại của cụ Tả ao ngay còn lúc cụ còn sống.

    Một trong những giai thoại nổi tiếng nhất của cụ Tả Ao là chữa thế đất cho làng Hành Thiện ở Nam Định: cụ đi tới làng Hành Thiện thấy đất làng hình con cá chép bơi ra biển, phù sa mỗi ngày một bồi thêm đất làm làng hưng phát, chỉ hiềm con cá chép không có mắt nên không phát khoa danh. Dân làng nghe cụ nói bèn hậu đãi trà rượu và khẩn khoản xin cụ đặt lại hướng làng. Cụ Tả Ao thấy dân làng tử tế liền chỉ cho làng đào một cái giếng lớn làm mắt cho con cá chép, từ đấy dân làng bắt đầu phát khoa danh, nhất là họ Đặng.

    Cụ Tả Ao đi xem đất suốt từ Nghệ Tĩnh ra các làng mạc ở khắp miền Bắc và trong gia phả của nhiều gia đình còn ghi lại những công trình địa lý phong thủy của cụ. Nhiều chuyện khôi hài do quần chúng thêm thắt như chuyện cụ Tả Ao thấy dân làng kia rất xấu tính mà lại xin cụ để kiểu đất nào có thể "đè đầu thiên hạ", cụ liền tìm cho làng một kiểu đất khiến dân làng dần dần theo nghề "húi tóc" có thể "đè đầu vít thiên hạ" đúng như ý nguyện!

    Tương truyền cụ đang đi chơi ngoài bãi biển thấy sóng gió nổi lên ầm ầm biết là hàm rồng 500 năm mới há mồm một lần ở biển Đông, liền chạy về nhà mang cốt mẹ ra định ném xuống hàm rồng, nhưng vì thương tiếc chần chờ nên hàm rồng đóng lại, biển khép êm sóng lặng như trước!

    Lúc sắp chết, cụ dặn con cháu khiêng mình ra miếng đất đã định trước là đất địa tiên "nhất khuyển trục quần dương" (một con chó đuổi đàn dê), nhưng không kịp đành dừng lại nửa đường phân kim lựa cho chính mình một miếng đất phúc thần đời đời ăn hương hoa mà thôi.



    Tương truyền ông để lại 2 bộ sách về địa lý:

    Địa Lý Tả Ao (Địa Đạo Diễn Ca) 120 câu

    Dã Đàm Tả Ao Tầm Long Gia Truyền



    Sau này có nhiều dị bản chép lại và có nhiều tên khác:

    Địa lý Tả Ao di thý chân chính pháp
    Tả Ao chân truyền di thý
    Tả Ao chân truyền tập
    Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo tàng
    Tả Ao tiên sinh địa lý
    Tả Ao tiên sinh thý truyền bí mật cách cục
    Bản quốc Tả Ao tiên sinh địa lý lập thành ca


    - Phần 2

    Truyền thuyết về Tả Ao thành Phúc Thần như sau:

    Sau nhiều năm bôn ba tầm long, Tả Ao đã chọn cho mình chỗ an táng khi về già theo thế ĐỊA TIÊN"nhất khuyển trục quần dương" ( Con chó đuổi đàn dê) ở xứ Đồng Khoai . Nếu táng được ở đây thì chỉ ba ngày sau là thành Địa Tiên. Tả Ao có 1 đệ tử tin cậy và khi ông mất người trò sẽ theo lời dặn dò để an táng Thầy vào đó, nhưng khi Thầy trò từ Trung Quốc về thì trên đường không may người trò bị ốm dịch mất. Tả Ao có hai người con trai nhưng do chu du thiên hạ, không màng dang vọng, bổng lộc nên gia cảnh, con cái thì bần hàn. Lúc sáu lăm tuổi, biết mình sắp về chầu tiên tổ nên bảo hai con khiêng đến chỗ ấy, rồi nằm dưới mộ và tự phân kim lấy, dặn con cứ thế mà chôn. Mới được nửa đường, biết là sẽ chết trước khi đến nơi , không thể kịp được nên Tả Ao bèn chỉ một gò bên đường có thế "huyết thực" mà dặn con rằng: "Chỗ kia là ngôi huyết thực, bất đắc dĩ thì cứ táng ở đó, sẽ được người ta cúng tế". Hai con bèn táng luôn ở đó, sau Ngài thành Phúc Thần một làng (Nam Trì).

    Trong đình Nam Trì có câu đối của Tả Ao nói về địa lý, phong thuỷ Nam Trì: "Tây lộ khê lưu kim tại hậu - Đông giang thuỷ tụ mộc cư tiền" nghĩa là phía tây của đường làng có dòng nước chảy, phía sau của làng là hướng Tây Bắc (hướng tây bắc hành kim) – phía đông làng có sông nước tụ làng nhìn về hướng nam (hướng nam hành hoả). Sau này dân làng Thờ Tả Ao như Thành Hoàng làng .



    Phần 3

    Đây là giai thoại cụ Tả Ao theo cuốn Nam Hải Dị Nhân của Phan Kế Bính, nay xin post lên đây để mọi người tham khảo thêm.


    TẢ AO.



    Người làng Tả Ao, huyện Nghi Xuân, tỉnh Nghệ An, tên là Nguyễn Đức Huyên (có bản nói là Hoàng Chỉ). Nhân tên làng, cho nên tục gọi là Tả Ao. Lúc còn trẻ nhà nghèo lắm, mẹ phải bệnh lòa mắt, Tả Ao mới theo người khách buôn ở phố Phù Thạch về Tàu, để lấy thuốc chữa mắt cho mẹ. Thầy thuốc khen là người có hiếu, mới dạy cho phép làm thuốc. Học thành nghề mới trở về, xảy có một thầy địa lý chính tông đau mắt, sai người mời thầy thuốc đến chữa, thầy thuốc già yếu không đi được, mới sai Tả Ao đi chữa thay. Thầy địa lý khỏi đau mắt, thấy Tả Ao có ý tứ khôn dễ dạy, và cảm cái ơn chữa khỏi cho mình, mới truyền cho Tả Ao phép làm địa lý, Tả Ao học hơn một năm đã giỏi. Thầy địa lý muốn thử xem sức học làm sao, đổ cát làm ra hình sông núi, rồi yểm 100 đồng tiền xuống dưới cát, và cho Tả Ao 100 cái kim sai tìm huyệt mà cắm kim vào lỗ đồng tiền.

    Tả Ao ngắm xem các huyệt, cắm trúng 99 cái kim vào 99 lỗ đồng tiền, chỉ sai mất một cái cắm ra ngoài.

    Thầy địa lý nói rằng:

    - Nghề ta sang phương Nam mất rồi!

    Mới cho Tả Ao một cái tróc long và các câu thần chú hô thần để cho về nước Nam. Tả Ao vâng lời từ về; về đến nhà thì mẹ vẫn còn mạnh, mới chữa thuốc cho mẹ khỏi lòa.
    Một khi, đi qua núi Hồng Lĩnh, trông lên xem, thấy có kiểu đất “cửu long tranh châu”, mừng mà nói rằng:

    - Huyệt đế vương ở đây rồi!

    Lập tức nhổ ngôi mộ của cha, cất vào huyệt trên núi. Không bao lâu sinh được một đứa con trai. Người Tàu xem thiên văn, thấy các vì sao chầu cả về phương Nam, biết là người nước Nam được đất. Chính phủ Tàu truyền cho các nhà địa lý, ai để đất cho người An Nam, hoặc là dạy người An Nam, thì phải sang nước Nam dùng thuật mà phá đi, nếu không thì tru di cả ba họ.

    Thầy địa lý trước, biết chắc là ông Tả Ao được đất mới sai con sang tìm đến nhà Tả Ao, lập mưu mà triệt đi.

    Người ấy tìm đến nơi, vào chơi nhà mà bảo rằng:

    - Từ khi đại huynh ở Tàu về, đã cất được ngôi tiên phần nào chưa?

    Tả Ao nói thực cả chuyện trước. Con thầy Tàu mới dùng mẹo đào lấy ngôi mộ ấy, mà bắt đứa con của Tả Ao đem về Tàu.

    Được ít lâu mẹ Tả Ao mất. Tả Ao tìm một ngôi đất ở ngoài bãi bể, kén ngày kén giờ để hạ huyệt. Đến giờ, sóng gió ầm ầm, người anh Tả Ao giữ áo quan của mẹ, không cho hạ xuống, một lát sóng gió yên thì ở đấy nổi lên thành bãi rồi.

    Tả Ao than rằng:

    - Đây là hàm rồng đây, cứ 500 năm mới há miệng ra một lần, mà há chỉ trong một lát mà thôi. Bây giờ đã ngậm lại rồi, còn táng làm sao được nữa. Trời không cho thì chỉ uổng mất công ta mà thôi.

    Từ bấy giờ Tả Ao không chịu làm ăn gì cả, chỉ lang thanh đi làm đất cho người ta. Một bữa đi xem đất đến làng Bùi Sơn, huyện Hoằng Hóa, thấy có một huyệt đất hay, bèn bảo người ta rằng: “Có ngôi đất, táng giờ Dần đến giờ Mão thì phát, nếu ai táng ngôi ấy tất được của, hễ ai chịu nhường cho ta một phần chia mười, thì ta cho ngôi đất ấy”. Có một người xin táng, Tả Ao dặn đến sáng sớm mai thì cất. Táng xong mặt trời mới mọc. Người ấy vác cuốc ra rửa chân ngoài sông, thấy một người chết trôi, nhân thể có cuốc, mới vớt lên chôn cho xác ấy, thấy trong bọc người chết có hai túi bạc, mở ra đếm thì được 50 nén, mới biết Tả Ao là tài, biếu Tả Ao 5 nén, rồi Tả Ao đi.

    Khi đến huyện Thanh Liêm lại tìm được một ngôi, bảo người ta rằng: “Đây có ngôi đất, chỉ táng trong một tháng thì phát quận công, nếu ai cho ta 100 quan tiền, thì ta táng cho”. Có một ông nhà giàu xin táng. Bấy giờ chúa Trịnh đang đánh nhau với nhà Mạc. Tướng nhà Mạc là Mạc Kinh Độ thua trận ở huyện Kim Bảng chạy trốn. Chúa Trịnh rao ai bắt được thì thưởng cho làm quận công một đời. Ông nhà giàu ấy táng được 20 ngày rồi. Bỗng một hôm thấy có một người vào nhà bảo rằng: “Ta là Mạc Kinh Độ đây, cho ta đánh một bữa chén, ta sẽ làm ơn mà cho đem nộp lấy thưởng”. Ông nhà giàu mừng rỡ, làm cơm thết đãi. Mạc Kinh Độ ăn uống xong, cho trói mình lại mà đem đến đồn Cầu Châu nộp cho chúa Trịnh. Chúa Trịnh lập tức thưởng cho làm quận công. Người ấy được thưởng tạ Tả Ao 100 quan tiền. Tả Ao chỉ lấy 3 quan để ăn đường, rồi đi chỗ khác.

    Tự bấy giờ danh tiếng đồn khắp thiên hạ. Tả Ao đi chu du bốn phương, phàm 20 năm trời. Đi qua các huyện Gia Bình, Từ Liêm, Đông Ngạn, Siêu Loại, Gia Lâm, táng cho nhà nào cũng được, lớn thì làm đến Tiến sĩ, Thượng thư; nhỏ cũng làm nên giàu hùng trưởng. Kể ra nhiều lắm, không sao cho xiết.

    Khi đi qua làng Thiên Mỗ, thấy có một ngôi đất to, muốn táng hộ cho nhà họ Trần. Vừa đặt tróc long xuống đất, tróc long đổ ba lượt. Tả Ao niệm phù chú gọi Thổ thần lên hỏi, thì Thổ thần nói rằng: “Đất này phát ba đời quốc sư đại vương, con cháu công hầu không bao giờ hết. Trời đã để đành cho nhà Nguyễn Qui Đức; còn nhà họ Trần kia ít hồng phúc, không kham nổi được đất này; nếu ông làm cưỡng của trời thì tất có vạ. Vả lại ông đi khắp thiên hạ, làm phúc cho người ta đã nhiều, mà không được ngôi nào để táng cho cha mẹ, ông nên nghĩ thế thì biết”. Vì thế, Tả Ao từ bấy giờ không dám khinh thường để mả cho ai nữa.

    Tả Ao sinh được hai con trai, nhà thì nghèo mà làm đất không lấy tiền của ai, cho nên con cái thường không đủ bữa mà ăn. Khi đã già, tìm sẵn một ngôi đất sinh phần cho mình, ở xứ Đồng Khoai, gọi là cách “Nhất khuyển trục quần dương” (nghĩa là một con chó đuổi đàn dê). Nếu táng được ngôi ấy, thì chỉ ba ngày thành địa tiên. Đến lúc phải bệnh, sai hai con khiêng mình ra đấy, toan phân kim lấy rồi nằm xuống cho chôn; nhưng đến nửa đường thì đã gần chết, không kịp đến được chỗ kia, mới trỏ một cái gò bên cạnh đường, dặn con rằng: “Chỗ kia là ngôi huyết thực (nghĩa là được hưởng người ta cúng tế), bất đắc dĩ táng ngay ở đấy cũng xong”.

    Nói xong thì mất, bấy giờ mới 65 tuổi. Hai con đem táng vào gò ấy, quả nhiên về sau làm phúc thần một làng.

    Địa lý xưa nay ở nước Nam, không ai giỏi bằng ông Tả Ao, thế mà chỉ làm phúc cho người, đến mình thì không sao làm được, mà con cái vẫn nghèo khổ, thế mới biết rằng câu tục ngữ nói:

    “Tiên tích phúc nhi hậu tầm long”.
    Dịch : Tích phúc (đức) trước, tìm long (tìm long mạch; tróc long) sau.


     
    Bài viết mới

    Bình Luận Bằng Facebook

  2. lsc

    lsc Member

    ai có sách cụ tả ao bản hán nôm cho minh xin với ạ. mình rất rất cần ạ
     
  3. Hành Thiện

    Hành Thiện Moderator

    Bài viết dưới đây được trích từ Truyện ông Tả Ao do Đỗ Nam sưu tầm và biên soạn. Sách do NXB Văn nghệ TP. HCM ấn hành.


    GIẾNG MẮT CÁ

    Sau khi đi qua khắp tỉnh Bắc, tỉnh Đông, ông Tả Ao khoác tay nải đi về tỉnh Nam. Ông đi hết vùng duyên hải, qua các huyện Giao Thuỷ, Hải Hậu rồi sang phủ Xuân Trường. Khi qua đò H.T, chẳng may nước đò cạn, đò không áp vào bến được, các hành khách đều phải vén quần, xắn áo, tụt xuống sông lội vào bờ.

    Thấy ông cứ loay hoay, không muốn lội xuống bùn, một người khách liền nói với ông xin để cõng ông vào bờ. Tức thì người đó ghé vào cõng ông khỏi quãng lầy lội, rồi lại còn trở lại mang tay nải giúp ông.

    Cảm kích về cử chỉ quý hoá đó, ông liền lấy ở tay nải ra hai quan tiền đãi người khách đó để uống nước và hỏi thăm danh tính cùng quê quán ở đâu; nhưng người đó nhất định không lấy tiền, chỉ cho biết là người họ Đặng, buôn tơ ở làng này, rồi chào ông đi ngay.

    Sau đó, ông Tả Ao khoác tay nải lên vai, lững thững đi quanh vùng để ngắm nhìn kiểu đất làng H.T và tấm tắc khen ngợi làng này có một địa thế rất đẹp. Càng đi sâu vào làng, ông càng thấy rõ kiểu đất đẹp: dân cư đông đúc, nhà cửa san sát như bát úp, xung quanh lại có kênh lạch bao bọc, khiến thuyền bè qua lại làng một cách rất thuận tiện.

    Mải ngắm cảnh làng nên trời đã sẩm tối mà ông vẫn chưa muốn tìm chỗ trọ. Nhân đi qua chùa, thấy mấy chú tiểu đang quét lá ở sân chùa, ông liền bảo mấy chú vào thưa với sư cụ để xin trú tạm một đêm.

    Một lát sau, sư cụ ra niềm nở đón ông dẫn vào phòng khách, rồi lại sai mấy chú tiểu dọn cơm thết ông.

    Chờ cho ông Tả Ao cơm nước xong, sư cụ mới ra tiếp chuyện. Lúc đó, ông mới xưng danh là thầy địa lý Tả Ao, nhân qua làng này thấy đất đẹp có thể phát to, nên muốn nán lại chơi, tìm xem họ nào phúc đức thì tác phúc cho.

    Sáng sớm hôm sau, ý chừng sư cụ đã đem câu chuyện của ông Tả Ao nói với các huynh thứ trong làng, nên khi ông Tả Ao vừa thức dậy đã thấy tiên chỉ cùng mấy ông kỳ mục trong làng và hai trai tráng mang lễ vật đến biếu ông, rồi cụ tiên chỉ nói ngay đến chuyện nhờ ông xem đất, để cát cho làng được kết phát.

    Phần cảm mến sự trọng đãi của các ông kỳ mục, phần lại nhớ đến cử chỉ của người làng họ Đặng giúp đỡ ông hôm trước, ông Tả Ao bằng lòng giúp và bảo các ông kỳ mục dẫn ông đi xem làng.

    Khi ra đến bờ đê, ông Tả Ao đứng ngắm làng, lấy tay chỉ, bảo các ông kỳ mục:
    - Kìa, các ông trông, kiểu đất làng này rất đẹp, trông chẳng khác gì một cù lao hình con cá nằm chầu ra bể, dân cư ở chỗ kia là khoảng đầu và mình cá, còn cánh đồng mầu kia là khúc đuôi. Sau này kết phát, khúc đuôi đó sẽ nở to dần, do đất phù sa ở con sông kìa bồi vào.

    Ngừng một lát, ông lại tiếp:
    - Lại thêm những con lạch bao bọc quanh làng kia là những mạch nước nuôi sống con cá, quanh năm chẳng bao giờ bị cạn, nhờ đó dân trong làng được thịnh vượng, làm ăn phát đạt, ít bệnh tật, ốm yếu.

    Bây giờ chỉ cần đào một cáci giếng ở cuối làng, đúng vào chỗ mắt cá, tức thì người trong làng học hành thông minh, đi thi nhất định đỗ đạt, và bách nhật sẽ phát to; trong làng sẽ bắt đầu có người làm quan, phi văn thì võ. Chẳng những thế, gái làng ăn nước giếng đó sẽ trắng trẻo, xinh đẹp, không phải lam lũ, chân lấm tay bùn như các gái làng khác.

    Nói xong, ông đứng ngắm hướng rồi dẫ các ông kỳ mục đi về phía cuối làng. Tới chỗ mỏm đất trước cửa đền Thần hoàng, ông bảo:
    - Đúng giờ Ngọ ngày mai, các ông cho tuần tráng mang mai cuốc ra đào một cái giếng theo nét vạch đây, sâu chừng một đầu một với. Giếng nước này, dân làng phải giữ sạch sẽ, không được để bẩn thỉu; giữ được vậy thì trong làng sẽ vạn đại có người làm quan, làm thầy, giàu sang nhất vùng này.

    Cắm đất xong, ông cáo biệt đi ngay. Các ông kỳ mục cố nằn nì giữ ông lại, nhưng ông nói rằng bận việc. Các hương lý mang một trăm quan tiền ra tạ ông, nhưng ông không lấy, chỉ lấy một quan tiền làm lộ phí, còn bao nhiêu ông bảo đem chia làm phúc.

    Đúng giờ Ngọ hôm sau, các ông kỳ mục huy động trai làng ra đào giếng. Vừa đào chừng ba thép mai, thì đã thấy mạch nước đùn lên; rồi càng đào nước càng lên, cho đến khi đào xong thì mực nước đã lên cao ngập đầu. Dân làng lúc đó đổ xô ra, kẻ mang nồi, người mang chậu ra múc nước. Họ kháo nhau là giếng thần, mang nước về nhà uống để lấy phước.

    Công việc xong xuôi, các bô lão trong làng liền mở hội tế thần, dân làng ăn uống, chè chén linh đình đủ ba đêm ngày, như lời ông Tả Ao dặn.

    Quả nhiên từ ngày đào giếng, làng càng ngày càng thịnh đạt, dân làng họ Đặng thi cử đỗ đạt, thi nhau ra làm quan; gái làng thì chuyên nghề ươm tơ, dệt lụa, không phải lam lũ vất vả, nên cô nào cô nấy má đỏ hây hây, trông rất xinh đẹp. Ngay cả bãi đất bồi ở đầu làng cũng càng ngày càng bồi rộng ra, mở mang cho đất làng ngày thêm rộng lớn.

    Cho đến ngày nay, làng H.T vẫn còn nổi tiếng là đất văn học, người họ Đặng vẫn còn được hưởng lộc làm quan rất nhiều. Ai qua đây đều phải nhận rõ cảnh trù phú, thịnh vượng của làng này: các đường ngõ đều lát gạch sạch sẽ, nhà ngói mọc lên san sát, chợ búa tấp nập bán buôn. Và chiều chiều, khi dòng nước lên, các cô gái H.T lại ôm lụa ra giặt ở con lạch quanh làng, tô điểm thêm cho vẻ đẹp nên thơ của đất làng, cô nào cũng xinh tươi như mộng.

    Nguồn: langHanhThien.com
     
  4. linkmiu

    linkmiu New Member

    Theo ghi chep thi quê nội mình đc cụ này xem đất cát cho, quả nhiên có sự khác biệt
     

Chia sẻ trang này